MỤC LỤC
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Theo Luật Quốc tế, nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia là một trong bảy
nguyên tắc cơ bản và hoạt động tương trợ tư pháp là một biểu hiện cho nghĩa vụ
hợp tác này. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ
giữa pháp nhân, công dân của các nước với nhau xuất hiện ngày càng phổ biến
trong đời sống quốc tế, kéo theo sự gia tăng các tranh chấp về dân sự, kinh
doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, … đòi hỏi phải được giải quyết kịp
thời. Vấn đề này được đặt ra yêu cầu hoạt động tương trợ tư pháp trong lĩnh vực
dân sự phải dần được hoàn thiện, đáp ứng việc giải quyết các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở đó, đề tài: “Pháp luật tương trợ tư pháp về dân
sự Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” sẽ đi sâu
vào phân tích các hoạt động tương trợ tư pháp cần thiết trong việc giải quyết
một vụ việc có yếu tố nước ngoài, đồng thời chỉ ra một số vấn đề bất cập hiện
nay và kiến nghị hoàn thiện.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Các vấn đề lý luận
Tương trợ tư pháp nói chung và trong dân sự nói riêng có thể coi là một
trong những nội dung quan trọng của nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia thành
viên Liên hợp quốc. Mặc dù vấn đề tương trợ tư pháp giữa các quốc gia đã xuất
hiện từ lâu trong lịch sử và ngày càng phát triển trong xu thể hội nhập, hợp tác
quốc tế hiện nay. Nhưng thực tế về mặt pháp lý quốc tế vẫn không có một khái
niệm thống nhất về tương trợ tư pháp nói chung hay cụ thể về tương trợ tư pháp
về dân sự cũng như phạm vi hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự.
Từ thực tiễn nghiên cứu lý luận của các nước cũng như pháp luật Việt Nam,
có thể hiểu, tương trợ tư pháp về dân sự là việc cơ quan nhà nước có thẩm
có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động
tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước
1 Xem Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, giáo trình Luật Tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2016, tr.61
3
quốc tế mà Việt Nam là thành viên – Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp
2007). Đồng thời, theo quy định tại Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007,
thì Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện
tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
cho người đang ở nước được yêu cầu; Triệu tập người làm chứng, người giám
định ở nước được yêu cầu; Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu
để giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam; Các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, không phải mọi “vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài” Tòa án đều phải tiến hành ủy thác tư pháp và ngược lại, nhiều vụ
việc dân sự khi Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết thì không phải là “vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài” và không phải tiến hành ủy thác tư pháp nhưng sau đó
một hoặc nhiều đương sự ra nước ngoài công tác, học tập, lao động dẫn đến Tòa
án phải tiến hành ủy thác tư pháp. Do vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự nói chung cũng như đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói
riêng, cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, từ đó xác định có phải tiến hành
các hoạt động tương trợ tư pháp hay không, để giải quyết nhanh chóng, chính
xác vụ việc dân sự.
II. Hoạt động tương trợ tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài.
Về quy trình, thủ tục, hoạt động ủy thác tư pháp về dân sự từ Việt Nam ra
tụng dân sự 2015
1. Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự.
2. Bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các văn bản của cơ quan thi
hành án dân sự.
4. Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.
1 Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà
Nội. 2017, tr.168
5
1.2. Phương thức tống đạt
Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Các phương thức tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài liệt
kê ra sáu phương thức và cũng tại khoản 2 nêu rõ, với phương thức tại khoản a,
b thì thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp. Cụ thể:
a) Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Ví dụ: Theo Công ước Tống đạt giấy tờ
(Công ước La Hay năm 1965) có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/10/2016,
trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án thực hiện tống đạt
văn bản tố tụng theo kênh chính thức của Công ước tống đạt giấy tờ quy định tại
Thông tư liên tịch số 12/2016 khi đương sự có nơi cư trú hoặc có trụ Sở tại 70
nước thành viên của Công ước này.1 Cụ thể, quy trình ủy thác tư pháp được ưu
tiên áp dụng: Cơ quan có thẩm quyền UTTP Bộ Tư pháp Việt Nam Cơ quan
TW của nước được yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền thực hiện của nước được
yêu cầu.2
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế. Phương thức này được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại trong hoạt
diện của Việt Nam ở nước ngoài không được xem là tương trợ tư pháp, và hoạt
động này sẽ được thực hiện theo một thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối
cao và Bộ ngoại giao. Và đến nay, Thông tư này vẫn chưa được ban hành.
2. Thu thập chứng cứ, tài liệu
Trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp. Đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, có nhiều trường hợp cần
phải tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài để phục
vụ cho hoạt động tố tụng của mình. Để thực hiện được hoạt động này cần phải
ủy thác cho một cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện các hoạt động
xác minh, thu thập chứng cứ nói trên.
Khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc phải
có thu thập chứng cứ ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không
có thẩm quyền thu thập trực tiếp chứng cứ ở nước ngoài mà phải gửi yêu cầu về
thu thập và cung cấp chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Dựa
7
trên yêu cầu tương trợ này của phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài sẽ xem xét việc có hay không thực hiện yêu cầu tương trợ.
Các trường hợp cần tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài như đã nêu
ở trên phải được thực hiện thông qua cơ quan đầu mối về tương trợ tư pháp về
dân sự. Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp quy định “Bộ Tư pháp là cơ quan giúp
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp; tiếp
nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uỷ thác tư pháp về dân
sự”. Do vậy, Bộ Tư pháp chính là cơ quan đầu mối của Việt Nam trong việc giải
quyết các yêu cầu về tương trợ tư pháp về dân sự đối với nước ngoài. Qua đó,
khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự,
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi yêu cầu tương trợ tới Bộ Tư
pháp. Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ
Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp quy định cụ thể về triệu tập và bảo vệ người
làm chứng, người giám định. Theo đó:
- Trong giấy triệu tập phải ghi rõ điều kiện làm chứng, giám định và cam
kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại cho
người làm chứng, người giám định.
- Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong
nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải cam kết về việc bảo đảm an
toàn tính mạng, sức khoẻ, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người
giám định; người làm chứng;
- Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam sẽ không
bị bắt, bị tam giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi
trước khi đến Việt Nam như cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên
môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập; phạm tội ở Việt Nam; có quan hệ
với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự của Việt Nam; có liên
quan đến một vụ việc dân sự hoặc hành chính khác ở Việt Nam.
Các điều ước quốc tế Việt Nam ký với các nước cũng đề cập một cách chi
tiết về việc triệu tập người làm chứng, người giám định. Ví dụ trong Hiệp định
9
tương trợ tư pháp Về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Điều 13, 14 quy định việc
triệu tập người làm chứng, người giám định và vấn đề bảo hộ những người này:
Nếu xét thấy cần thiết phải có người làm chứng hoặc người giám định đến Cơ
quan tư pháp của nước mình, Bên ký kết yêu cầu sẽ đề cập trong văn bản yêu
cầu tống đạt giấy triệu tập các chi phí có thể thanh toán, điều kiện và thời hạn
thanh toán cho những người đó. Giấy triệu tập được gửi cho Bên ký kết được
yêu cầu không chậm quá 60 ngày trước ngày người có liên quan được yêu cầu
cần có mặt tại Cơ quan tư pháp của Bên ký kết yêu cầu. Bên ký kết được yêu
trong nước. Do đó, tương trợ tư pháp về dân sự, với tư cách là một hoạt động hỗ
trợ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, có ý nghĩa hết
sức quan trọng.
Như đã phân tích, không phải mọi vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đều
cần thực hiện ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, đối với những vụ việc cần thực hiện
tống đạt hồ sơ, tài liệu cho đương sự ở nước ngoài, cần thu thập tài liệu ở nước
ngoài hay triệu tập người làm chứng, người giám định, khi những hoạt động này
mang ý nghĩa là một giai đoạn cần trong quá trình tố tụng, thì tương trợ tư pháp
về dân sự chính là một trong những hoạt động cần thiết để Tòa án giải quyết các
vụ việc có yếu tố nước ngoài. Có thể kể riêng ý nghĩa các hoạt động này như về
việc tống đạt hồ sơ, tài liệu: Đối với các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức
liên quan đến vụ việc, thông qua hoạt động cấp, tống đạt các hồ sơ, tài liệu cần
thiết giúp cho họ nhận được, hoặc biết được nội dung của vụ việc dân sự. Qua
đó, biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ; Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, thông qua việc cấp, tống đạt
các hồ sơ, tài liệu cần thiết sẽ đảm bảo giúp họ thực hiện được nhiệm vụ và
quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự của mình. Như vậy, cấp, tống đạt các hồ sơ,
tài liệu cần thiết có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự.
Cũng tương tự với các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ hay triệu tập người
làm chứng, người giám định. Trong một vụ việc dân sự, các hoạt động này nhằm
11
để nội dung các yêu cầu, tranh chấp dân sự trở nên rõ ràng, từ đó giúp Tòa án ra
được các phán quyết chính xác, đảm bảo được quyền và lợi ích các bên.
Trong thực tế, có rất nhiều vụ việc dân sự, Tòa án phải tạm đình chỉ giải
quyết vụ việc do các yêu cầu thực hiện ủy thác ra nước ngoài chưa hoặc không
nhận được kết quả. Như vậy, rõ ràng đối với những vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài cần thực hiện ủy thác tư pháp, thì tương trợ tư pháp về dân sự mang
tăng gần 15%. Tuy nhiên, tỷ lệ có trả lời từ những nước đã có điều ước quốc tế
với Việt Nam lại giảm 6%.
Ủy thác tư pháp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam:
Nội dung
Số yêu cầu
Kết quả
Có Hiệp định TTTP
488
376
Không có Hiệp định TTTP
2661
1750
Tổng số
3149
2126
Về thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự, những bất cập mang
tính “kinh niên” trong thực hiện ủy thác tư pháp đã được nêu tại Báo cáo hoạt
động Tương trợ tư pháp năm 2014 và Báo cáo tổng kết 6 năm thi hành Luật
Thứ tư, quá trình thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài,
các cơ quan tố tụng còn gặp những vướng mắc từ phương thức tống đạt cho
đương sự ở nước ngoài, uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
Ngoài ra, cũng còn tồn tại một số hạn chế về ngôn ngữ trong hồ sơ ủy thác
tư pháp nói chung và vấn đề người chi trả các chi phí thực hiện ủy thác tư pháp
còn chưa rõ ràng.
2.2. Nguyên nhân
Những hạn chế nêu trên của hoạt động tương trợ tư pháp xuất phát từ một
số nguyên nhân sau:
Trước hết phải kể đến nguyên nhân chưa có các Hiệp định tương trợ tư pháp
về dân sự giữa Việt Nam với nước ngoài. Khi các cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam gửi hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp ra nước ngoài hầu như chỉ nhận
được kết quả từ các nước có Hiệp định với nước ta trong tương trợ tư pháp. Điển
hình với một số quốc gia như Ấn Độ quy định, các yêu cầu tương trợ tư pháp
14
của một nước sẽ không được thực hiện nếu giữa nước đó và Ấn Độ chưa có
Hiệp định tương trợ tư pháp.
Nguyên nhân thứ hai phải để đến là có những ủy thác không thể thực hiện
được do không thể tìm được địa chỉ của đương sự, hoặc đương sự đã chuyển nơi
ở, thậm chí có những trường hợp đương sự vẫn đang sống bất hợp pháp tại nước
có Tòa án gửi ủy thác, hoặc đã trốn sang tỵ nạn tại các nước khác.
Thứ ba, tình trạng hồ sơ bị bộ Tư pháp trả lại còn nhiều do thiếu tính hợp lệ.
Đây xuất phát từ năng lực, trách nhiệm của hệ thống cán bộ thực hiện việc ủy
thác tư pháp.
Đặc biệt, quy trình ủy thác tư pháp hiện hành còn qua nhiều khâu, nhiều cơ
quan như: Nếu trong quá trình giải quyết Tòa án cấp huyện thấy cần thiết ủy
thác tư pháp thì phải làm hồ sơ chuyển lên cấp tỉnh để thực hiện ủy thác tư pháp
theo thủ tục chung. Đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài vẫn phải ủy thác tư
pháp qua Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao mà ủy thác tư pháp trực tiếp qua cơ quan
đại diện Việt Nam (hoặc tổ chức có thẩm quyền) ở nước thực hiện việc ủy thác
tư pháp.
Vấn đề hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật nói chung cũng như pháp
luật tương trợ tư pháp nói riêng cũng luôn là kiến nghị giải pháp cho mọi vấn đề.
16
C. KẾT LUẬN
Hiện nay, nước ta vừa chính thức trở thành thành viên của Công ước Tống
đạt (Công ước La Hay 1965) từ ngày 01/10/2016. Việc gia nhập Công ước Tống
đạt sẽ góp phần giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tư
pháp quốc tế thông qua việc áp dụng những chuẩn mực quốc tế về tương trợ tư
pháp, đưa hệ thống pháp luật, quy trình tố tụng của Việt Nam đến gần và phù
hợp với hệ thống pháp luật quốc tế. Trên cơ sở đó, hi vọng pháp luật tương trợ
tư pháp nói chung cũng như trong dân sự nói riêng của nước ta sớm giải quyết
được những tồn đọng, khó khăn trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam, qua đó đảm bảo quyền lợi chính đáng cho cả
công dân Việt Nam và người nước ngoài.
17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
2. Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011;
3. Luật Tương trợ tư pháp 2007;
4. Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC;
5. Công văn số 33/TANDTC-HTQT về việc tống đạt văn bản tố tụng cho