SỞ Y TẾ ĐẮK LẮK
TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHÓE SINH SẢN
---------------*-----------------
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỀ LÀM MẸ AN TOÀN Ở BÀ
MẸ CÓ CON DƯỚI 02 TUỔI TẠI HUYỆN KRÔNG
BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2018
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ SỞ CẤP II
Đắk Lắk, 2018
SỞ Y TẾ ĐẮK LẮK
TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHÓE SINH SẢN
----------------*--------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ SỞ CẤP II
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN VỀ LÀM MẸ AN TOÀN Ở BÀ MẸ
CÓ CON DƯỚI 02 TUỔI TẠI HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2018
Đắk Lắk – 2018
Contents
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT........................................................................... v
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 48
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:............................................................... 48
3.2. Kiến thức, thực hành về LMAT của BM : .................................................. 50
3.2.1. Kiến thức và thực hành của BM chăm sóc trước sinh: .......................... 50
3.2.2. Kiến thức và thực hành chăm sóc trong sinh: ........................................ 53
3.2.3. Kiến thức, thực hành của BM chăm sóc sau sinh: ................................. 55
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành LMAT ở bà mẹ có con
dưới 2 tuổi: ....................................................................................................... 58
3.3.1. Chăm sóc trước sinh. .............................................................................. 58
3.3.2. Chăm sóc trong chuyển dạ: .................................................................... 67
3.3.3. Chăm sóc sau sinh: ................................................................................. 70
Chương 4. BÀN LUẬN .................................................................................. 81
Chương 5. KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ .............................................. 97
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 97
KHUYẾN NGHỊ: ......................................................................................... 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 102
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 108
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BM
Bà mẹ
BPTT
Biện pháp tránh thai
BYT
DCTC
Dụng cụ tử cung
DS - KHHGĐ
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
QG
Quốc gia
IMR
Tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (Infant Motarlity Rate)
LMAT
Làm mẹ an toàn (Safe Motherhood)
NHS
Nữ hộ sinh
NVYTTB
Nhân viên Y tế thôn buôn
MMR
TTB
Trang thiết bị
TVM-TVSS
Tử vong mẹ-Tử vong sơ sinh
TSS
Trẻ sơ sinh
TYT
Trạm y tế
UNFPA
Quĩ Dân số Liên hiệp quốc
(United Nations Population Fund)
UNICEF
Quĩ Nhi đồng Liên hiệp quốc
(United Nations Children's Fund)
YSSN
Y sĩ Sản Nhi
........................................................................................................... 55
Bảng 3. 15.Kiến thức ở BM về cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ. ...... 57
Bảng 3.16. Yếu tố liên quan đến kiến thức về khám thai ít nhất 3 lần
trong 3 thai kỳ cho 1 lần mang thai ở BM. ....................................... 58
Bảng 3.17. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về tiêm phòng UV đủ 2
mũi khi có thai ở PNCT chưa tiêm UV trước đó . ............................ 60
Bảng 3.18. Các yếu tố liên quan đến kiến thức ở bà mẹ về biết ít nhất 3
dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai: ................................................... 62
Bảng 3.19. Các yếu tố liên quan đến thực hành khám thai từ 3 lần trở lên
........................................................................................................... 63
Bảng 3.20. Các yếu tố liên quan đến thực hành tiêm phòng uốn ván đủ
liều ..................................................................................................... 65
Bảng 3.21. Các yếu tố liên quan đến kiến thức biết ít nhất 3 dấu hiệu nguy
hiểm khi sinh ở BM. ........................................................................... 67
Bảng 3.22. Các yếu tố liên quan đến thực hành đẻ tại CSYT của BM..... 68
Bảng 3.23. Các yếu liên quan đến kiến thức về khám 6 tuần đầu sau sinh .
........................................................................................................... 70
Bảng 3.24. Các yếu tố liên quan đến kiến thức ít nhất 3 dấu hiệu nguy
hiểm sau sinh..................................................................................... 72
Bảng 3.25. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về cho trẻ bú sớm trong
giờ đầu sau sinh................................................................................. 73
Bảng 3.26. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về tránh thai sau sinh. .. 74
Bảng 3.27. Các yếu tố liên quan đến thực hành về khám mẹ và con sau
sinh trong vòng 6 tuần đầu. ............................................................... 76
Bảng 3.28. Các yếu tố liên quan đến thực hành về cho trẻ bú sớm trong
vòng 1 giờ sau sinh ở BM. ................................................................ 77
Bảng 3.29. Các yếu tố liên quan đến thực hành về áp dụng các biện pháp
tránh thai sau sinh ở BM. .................................................................. 79
phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc khởi xướng
Chương trình Làm mẹ an toàn tại Việt Nam. Chính phủ và cộng đồng các nhà
tài trợ đã có nhiều nỗ lực nhằm củng cố dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và
trẻ em.
Làm mẹ an toàn và chăm sóc sơ sinh là hai nội dung quan trọng của
công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản [5], đóng vai trò chủ đạo trong việc hoàn
thành các Mục tiêu thiên niên kỷ 4 và 5 , cũng như các mục tiêu về sức khỏe bà
mẹ và trẻ em mà Quốc hội và Chính phủ giao cho Ngành y tế [5] , một trong
những ưu tiên trong chiến lược Quốc gia bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân
giai đoạn (2011-2020) tầm nhìn đến năm 2030. Điều này cũng đã được thể hiện
trong mục tiêu cụ thể của Chiến lược Dân số và chăm sóc sức khỏe Việt Nam
giai đoạn (2011-2020) là “Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác
biệt về các chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng miền” [10].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính mỗi năm có khoảng 585.000 phụ
nữ tử vong do những nguyên nhân có liên quan đến thai sản, 99% số tử vong
này xuất hiện ở các nước đang phát triển, chủ yếu ở Châu Phi, Trung Á, Tây Á
và Đông Nam Á, cứ mỗi phút có một phụ nữ tử vong do các tai biến liên quan
đến quá trình thai sản. Có ít nhất 7 triệu phụ nữ sau khi sinh có những vấn đề
sức khoẻ nghiêm trọng và hơn 50 triệu phụ nữ có những hậu quả về sức khoẻ
sau khi sinh [47] . Khoảng 8 triệu trẻ em chết trong năm đầu, có khoảng 4,3
triệu trẻ sơ sinh chết trong 28 ngày đầu sau sinh [47]. Tại các nước đang phát
triển, mang thai và sinh đẻ là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, bệnh tật
và tàn phế cho phụ nữ, chiếm khoảng 18% gánh nặng bệnh tật ở nhóm tuổi này.
Tử vong sơ sinh chủ yếu xảy ở các nước đang phát triển, chiếm 96% trẻ sơ sinh
chết hàng năm trên thế giới [51].
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, là khu vực có tỷ
suất chết của trẻ em
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi có kiến thức và thực hành đúng
về làm mẹ an toàn tại huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, năm 2018;
2. Phân tích một số yêu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về làm
mẹ an toàn ở bà mẹ có con dưới 2 tuổi đang sinh sống tại huyện Krông Bông.
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm về LMAT sử dụng trong nghiên cứu:
1.1.1. Tổng quan về Làm mẹ an toàn:
Thuật ngữ Làm mẹ an toàn (LMAT) xuất hiện vào năm 1987 do tầm quan
trọng về sức khoẻ cho người mẹ bởi vì nó liên quan đến tử vong và bệnh tật của
người mẹ. Sự ra đời của khái niệm này là kết quả của sự hợp tác chặt chẽ giữa
WHO, UNICEF, UNPFA, WB và Hội đồng dân số thế giới..
“Làm mẹ an toàn là tất cả các phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc cần thiết
để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ,
bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra”. Làm mẹ an toàn
là một lĩnh vực ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ của các nước trên thế giới, đặc
biệt là các nước đang phát triển [1]. Sáng kiến LMAT đã được hơn 100 quốc
gia và các tổ chức quốc tế chọn làm chương trình hành động.
Tại Việt Nam, LMAT tập trung vào giảm tỷ số tử vong mẹ (TVM) và tử
vong sơ sinh (TVSS). Làm mẹ an toàn đảm bảo cho tất cả các phụ nữ và trẻ sơ
sinh đều được nhận sự chăm sóc cần thiết để hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt
thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa
khi có tai biến xảy ra [7].
Phụ nữ thường dễ gặp nguy biểm trong khi chuyển dạ, khi sinh và ngay
sau sinh. Mỗi năm, khoảng 35.000 phụ nữ chết trong thời kỳ mang thai hoặc
khi sinh con, ước tính hơn 8 triệu phụ nữ nữa bị mắc bệnh nguy hiểm và tàn tật
suốt đời do những biến chứng khi sinh con [16]. Kể từ 1990 đến nay, số ca tử
vong ở bà mẹ mỗi năm trên toàn thế giới ước tính trên 500.000 với tổng số gần
hình can thiệp được triển khai phối hợp như chương trình LMAT, trong đó tập
trung chủ yếu vào giải quyết khâu “3 chậm trễ” (chậm trễ do bà mẹ và gia đình
không biết vấn đề cần phải cấp cứu; chậm trễ do phải vận chuyển bà mẹ đến cơ
sở y tế cung cấp dịch vụ cấp cứu sản khoa cơ bản và toàn diện; chậm trễ trong
việc cấp cứu sản khoa toàn diện) [36]. Theo báo cáo tổng hợp của nhiều chuyên
gia trên thế giới do tạp chí Lancet xuất bản năm 2007 [54], cho tới thời điểm
này có 3 chiến lược can thiệp được cho là hiệu quả trong LMAT, đặc biệt là
để giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh là: (1) Thực hiện tốt kế hoạch hoá gia
đình. (2) Chăm sóc tốt trước, trong và sau khi sinh. (3) Tăng cường khả năng
tiếp cận với các dịch vụ cấp cứu sản khoa.
Can thiệp giảm tử vong mẹ trong lúc đẻ có thể giúp giảm tử vong trẻ chu
sinh tới 30-45% và giảm tỷ lệ chết lưu tới 25-62%. Chiến lược giảm tử vong
mẹ nhằm hướng tới đảm bảo mỗi ca đẻ đều có người đỡ đẻ có kỹ năng hỗ trợ,
mỗi người phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sản khoa thiết yếu và
toàn diện khi cần, điều này càng chỉ rõ rằng phải đánh giá nhu cầu và xác định
thực trạng địa phương trước khi tiến hành can thiệp. Kiến thức về thực trạng
cơ sở y tế địa phương (nhân lực, cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết
yếu) cung và cầu, mối liên hệ giữa gia đình với cộng đồng, với cơ sở y tế (trạm
y tế, bệnh viện huyện và tỉnh) và hệ thống chuyển tuyến tại cộng đồng là những
kiến thức bắt buộc phải có trước khi tiến hành can thiệp giảm tử vong mẹ.
Các hoạt động can thiệp về LMAT chủ yếu bao gồm: truyền thông giáo
dục sức khoẻ về chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, các dấu hiệu nguy hiểm khi
mang thai, khi sinh và sau khi sinh, xây dựng mô hình chuyển tuyến tại cộng
đồng, đào tạo cán bộ y tế, tăng cường giám sát các cơ sở cung cấp dịch vụ
LMAT và cung cấp trang thiết bị CSSKSS. Những mô hình này đã được Quỹ
UNFPA, TCYTTG, các tổ chức chính phủ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế
và trong nước triển khai tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Các mô hình được triển khai đã chứng minh
trong quá trình chuyển dạ phải theo dõi toàn diện cả mẹ và thai nhi, phải theo
dõi chuyển dạ bằng Biểu đồ chuyển dạ một cách toàn diện, có hệ thống, tận
tình, kiên nhẫn và tỉ mỉ là những đức tính cần thiết của người chăm sóc chuyển
dạ [8] .
Người đỡ đẻ phải được đạo tạo chuyên môn, thực hiện đúng các quy trình
chuyên môn và đảm bảo nguyên tắc vô trùng, phát hiện kịp thời các bất thường
trong chuyển dạ trong đẻ và ngay sau đẻ xử trí kịp thời.
Với cuộc chuyển dạ có dấu hiệu bất thường thì không được theo dõi và đỡ
đẻ ở tuyến xã, xử trí ban đầu trước khi chuyển tuyến phù hợp [8].
Chăm sóc sau đẻ là chăm sóc BM và trẻ SS đến 42 ngày sau đẻ, bao gồm
chăm sóc ngày đầu sau đẻ, tuần đầu sau đẻ và chăm sóc đến 42 ngày sau đẻ. Ở
mỗi giai đoạn chăm sóc có yêu cầu chăm sóc và mục đích chăm sóc nhằm đảm
bảo cho BM và trẻ được an toàn.
1.1.3. Chăm sóc trước, trong và sau sinh
1.1.3.1.Chăm sóc trước sinh (CSTS)
Chăm sóc trước sinh tập trung chủ yếu vào một số hoạt động như quản lý
thai, khám thai, tiêm phòng uốn ván, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm và kịp
thời điều trị, truyền thông về dinh dưỡng và giữ vệ sinh cho phụ nữ trong quá
trình mang thai [19]. Bổ sung viên sắt thường xuyên để phòng tránh thiếu
máu do thiếu sắt trong khi có thai là một trong những nhiệm vụ của chương
trình dinh dưỡng quốc gia cung cấp viên sắt hàng tuần cho phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ ở Việt Nam [52] [2] [43].
●Quản lý thai, thực hiện tại tuyến xã do NHS hoặc YSSN phụ trách công
tác CSSKSS tại TYT xã thực hiện. Tất cả phụ nữ có thai được đăng ký và khám
thai định kỳ theo hẹn là công tác quan trọng bảo vệ SKSS cho mọi gia đình
góp phần làm giảm TVM, TVSS. Các công cụ quản lý thai gồm Sổ khám thai,
phiếu theo dõi sức khỏe, thai kỳ, Bảng Quản lý thai và hộp hẹn, phiếu hẹn [6].
● Khám thai, thực hiện tại tất cả các tuyến do cán bộ có chuyên môn
này không đề cập đến chất lượng của khám thai như có đảm bảo khám thai vào
mỗi thai kỳ hoặc nội dung của khám thai có đảm bảo hay không. Nhìn chung,
các nghiên cứu trên thế giới thường chỉ đề cập đến số lượng chứ không đề cập
đến chất lượng của khám thai. Việc phát hiện chất lượng khám thai đòi hỏi
những nghiên cứu hết sức phức tạp và tốn nhiều nguồn lực.
Theo báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc SKSS tại Việt Nam
giai đoạn 2000-2005 của Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc thì có khoảng 1/10 đến
1/3 số phụ nữ không đi khám thai khi mang thai, số phụ nữ khám thai ít nhất 3
lần thay đổi từ 1/5 cho đến 1/3 phụ thuộc vào tôn giáo và nơi ở của phụ nữ.
Tính bình quân, số lần khám thai trung bình của một phụ nữ khi mang thai là
2,7 lần ở khu vực miền núi và 3,7 lần ở khu vực đồng bằng [33] , tỷ lệ phụ nữ
làm nghề nông khám thai đủ 3 lần thấp hơn so với các phụ nữ làm nghề khác,
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Trình độ học vấn, thu nhập và
kiến thức về chăm sóc trước sinh có ảnh hưởng rõ rệt đến việc sử dụng các
dịch vụ chăm sóc trước sinh (khám thai, tiêm phòng uốn ván, và uống viên
sắt) [33].
Theo Giám đốc điều hành Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc, một trong những
nguyên nhân làm cho phụ nữ mang thai ít nhận được các dịch vụ chăm sóc
trước sinh là do họ chưa hiểu được tầm quan trọng và tính cần thiết của công
tác chăm sóc trước sinh. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này như trình
độ học vấn thấp, người dân tộc, điều kiện kinh tế có hạn, khả năng tiếp cận của
họ đến các cơ sở chăm sóc trước sinh (tiếp cận về địa lý, kinh tế và văn hóa),
phân bố của các cơ sở y tế và sự hài lòng của họ đối với các cơ sở cung cấp
dịch vụ trước sinh [36].
Theo kết quả của một nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy có khoảng 60% phụ
nữ trả lời rằng chăm sóc trước sinh là không cần thiết [56]. Báo cáo tổng quan
các nghiên cứu về SKSS ở các nước đang phát triển từ năm (1990- 2006) cho
thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà
hợp mắc và 8 tử vong [46]. Tỷ lệ PN đẻ được tiêm phòng uốn ván đủ liều bảo
vệ uốn ván sơ sinh chung cho toàn quốc là 95,5%, Tây Nguyên 92,6%, thấp
nhất vùng Trung du và Miền núi phía Bắc 91,3%[46]. Số mắc/chết UVSS từ
2011 đến 2017 không giảm (2011: 37/17, 9 tháng 2017: 37/16), tại tỉnh Đắk
Lắk báo cáo thống kê 2017 M/C do UVSS là 8/4 [30].
Khi mang thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu nếu người mẹ dinh dưỡng
không đủ sẽ bị giảm sức đề kháng, tăng nguy cơ mắc một số bênh truyền nhiễn
có thể để lại các khuyết tật cho trẻ như tim bẩm sinh, sứt môi hỡ hàm ếch. Thiếu
axit Folic là nguyên nhân chính gây dị tật ống thần kinh ở sơ sinh. Can thiệp
cung cấp đủ axit Folic cho mẹ trước và trong thời kỳ mang thai sẽ làm giảm
được khoảng 50% khuyết tật này ở trẻ [9]. Bổ sung viên sắt trong thời kỳ mang
thai cũng là một trong những nội dung chăm sóc trước sinh. Trước đây, viên
sắt được cung cấp miễn phí cho phụ nữ mang thai nhưng trong những năm gần
đây phụ nữ mang thai phải mua viên sắt để uống, trừ một vài địa phương có các
dự án do quốc tế tài trợ thì được cấp miễn phí. Tỷ lệ phụ nữ được bổ sung viên
sắt chưa thật cao do nhiều yếu tố như hay quên không sử dụng hàng ngày, mùi
vị của viên thuốc và tác dụng phụ gây táo bón là những nguyên nhân chính.
Tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những bà mẹ thiếu máu cao hơn hẳn ở những bà mẹ bình
thường. Do đó người ta coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.
Đối với con thiếu máu gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Tỷ lệ PN
được bổ sung viên sắt trong thời kỳ mang thai tại tỉnh Đắk Lắk được ghi nhận
đầy đủ qua các báo cáo.
1.1.3.2. Chăm sóc trong khi sinh:
Là các chăm sóc cho bà mẹ, thai nhi trong chuyển dạ, giai đoạn “vượt cạn”
nhiều rủi ro, nguy hiểm cho cả mẹ và con. Vì vậy BM khi sinh phải chọn sinh
con tại CSYT có điều kiện và được CBYT có chuyên môn giúp đỡ, chăm sóc,
không sinh tại nhà không được giúp đỡ của CBYT có chuyên môn.
Tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 136
bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế công giảm là do họ không bị quấy rầy trong
chuyển dạ hoặc khi sinh, phải tuân thủ các phong tục tập quán của dân tộc. Họ
cũng cho rằng khi sinh tại các cơ sở y tế công phải chi phí đi lại, phải có thêm
nhiều người người chăm sóc và không tuân theo các phong tục tập quán của địa
phương hoặc của dân tộc [57] [49].
Ở Việt Nam có hai lựa chọn của người phụ nữ khi sinh: sinh ngoài cơ
sở y tế (sinh tại nhà hoặc sinh ở nhà các bà mụ vườn) và sinh tại cơ sở y tế (y
tế tư nhân hoặc trạm y tế xã và các cơ sở y tế tuyến cao hơn). Theo cuộc điều
tra về thực trạng tình hình dịch vụ làm mẹ an toàn ở nông thôn Việt Nam cho
thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cho cuộc đẻ khác nhau ở các tỉnh khác nhau,
trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là trạm y tế xã và bệnh viện huyện; người đỡ
đẻ cho các sản phụ cũng khác nhau ở các tỉnh khác nhau.
Bộ Y tế đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng chăm sóc sơ sinh tại các
cơ sở y tế công nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh thực hiện tiêm vitamin K cho
trẻ sơ sinh ngay sau đẻ để phòng chống xuất huyết não, màng não ở trẻ ngay
sau đẻ [46]. Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản
tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005 của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc có nhận
xét rằng khoảng 80% phụ nữ Việt Nam sinh tại các cơ sở y tế hay tại nhà với
người đỡ được đào tạo [12] Tỷ lệ sinh tại nhà dao động từ khoảng 2%-16,7%
ở các khu vực đồng bằng và 50-58% tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và miền
núi [12]. Ở một số vùng nông thôn, phần lớn các ca đẻ diễn ra ở nhà với sự giúp
đỡ của nữ hộ sinh hoặc bà đỡ dân gian [12]. Nguyên nhân chính do việc tiếp
cận với các cơ sở y tế có nhiều khó khăn và quan trọng là vẫn còn tồn tại tập
tục lạc hậu nên bà mẹ thường đẻ tại nhà và không cho người ngoài đỡ. Trong
các phụ nữ đẻ tại nhà thì 35,4% số người được nhận gói đẻ sạch, song họ chỉ
sử dụng được một số dụng cụ trong gói đẻ sạch này [39]. Một nghiên cứu về
đẻ tại nhà ở tỉnh Thái Nguyên chỉ ra tỷ lệ băng huyết là 3,3%, trẻ được cắt rốn
với dụng cụ không hợp vệ sinh là 30,6% và 41,7% trường hợp không đạt tiêu
cực trong việc khám thai và khám lại sau khi sinh. Lý do phổ biến mà các phụ
nữ vùng này thường khám thai lần đầu muộn là để giảm số lần đi lại vì họ lo sợ
gặp động vật hoang dã trên đường đến bệnh viện, cũng như giảm chi phí vì họ
không đủ tiền. Sợ hãi phải bị mổ sinh cũng là một yếu tố gây trở ngại khi chọn
sinh tại bệnh viện. Vấn đề chăm sóc sau sinh cho các bà mẹ tại đây chưa đầy
đủ. Cộng đồng hay than phiền về việc thiếu nhân viên y tế, thiếu trang thiết bị
và các khoản tiền trợ cấp.