Luận văn thạc sĩ: Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM KHẮC TƯỜNG

MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM KHẮC TƯỜNG

MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
:
838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

hành. ................................................................................................................ 27
2.2. Miễn trách nhiệm hình sự trong phần các tội phạm Bộ luật Hình sự
hiện hành ......................................................................................................... 42
2.3. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về miễn trách nhiệm hình
sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ................................................................. 48
CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP
DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MIỄN
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ......................................................................... 60
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về
miễn trách nhiệm hình sự. ............................................................................... 60


3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về miễn
trách nhiệm hình sự ......................................................................................... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê tổng số người bị khởi tố, truy tố, xét xử trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 49
Bảng 2.2. Thống kê tỷ lệ tổng số người được miễn trách nhiệm hình sự
trên tổng số người bị khởi tố trên địa thành phố Đà Nẵng ............................. 50
Bảng 2.3. Thống kê số liệu người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình
sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng........................................................................................................... 51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

quan trọng. Vì sự cấp thiết đó nên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này
làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cũng như chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm
hình sự là một chế định quan trọng trong tổng thể các chế định hợp thành Bộ
luật hình sự. Do đó nó là một phần không thể thiếu trong Bộ luật Hình sự của
các quốc gia trên thế giới.
Pháp luật hình sự của các nước trong hệ thống luật Anh – Mỹ hay hệ
thống luật châu Âu lục địa đều có chế định miễn trách nhiệm hình sự. Các
công trình nghiên cứu về chế định này trên thế giới cũng tương đối nhiều với
các chiều cạnh nghiên cứu khác nhau. Ở Liên Xô trước đây cũng đã có công
trình nghiên cứu về chế định này như: "Những vấn đề lý luận của việc tha
miễn trách nhiệm hình sự", Nxb Khoa học, Maxcơva, 1974 của GS Kelina
X.G.; "Miễn trách nhiệm hình sự" trong tuyển tập "Kevin’s English law
glossary: Exemption from criminal liability" của Kevin’s; hoặc "Exemption
from criminal liability - General Defences" của tác giả Suzanne Wennberg,
trong sách "Swedish Law in the New Millennium" do Michael Bogdan
chủ biên, Elanders Gotab, Stockholm, 2000...
Ở nước ta, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này,
đáng chú ý là các công trình sau đây của TSKH. Lê Cảm, TS. Uông Chu Lưu
Vấn đề miễn trách nhiệm hình sự còn được đề cập ở các mức độ khác
nhau trong các công trình của một số tác giả khác như: 1) Về chế định miễn
trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 3/1988) và, Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình
3


sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS Phạm
Hồng Hải; 2) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật
học, số 5/1997) của TS. Lê Thị Sơn; 3) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm

cơ sở đó góp phần vào việc ban hành các văn bản hướng dẫn hay sửa đổi, bổ
sung Bộ luật Hình sự theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Từ khi Bộ luật
Hình sự năm 2015 có hiệu lực, cho đến nay trong khoa học luật hình sự của
Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ đề cập
đến chế định miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn một địa phương mà cụ thể
thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy định của pháp luật hiện
hành về miễn trách nhiệm hình sự. Từ những nghiên cứu mang tính lý luận
đó, trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về miễn trách
nhiệm hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất hướng hoàn
thiện của quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật
hình sự hiện hành.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã đề cập ở trên, luận văn phải
giải quyết được những nhiệm vụ như sau:
Nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy định của pháp luật hiện
hành về miễn trách nhiệm hình sự. Từ đó tìm ra những điểm mới, so sánh
những điểm khác và những điểm kế thừa các quy định của pháp luật hình sự
trước đó về miễn trách nhiệm hình sự.
Từ những nghiên cứu mang tính lý luận đó, trên cơ sở thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là thực tiễn các vụ án mà các cơ quan tiến hành
5


tố tụng thành phố Đà Nẵng, luận văn phân tích để làm sáng tỏ tính đúng đắn
khi các cơ quan tiền hành tố tụng trong vụ án đó áp dụng hoặc không áp dụng
quy định về miễn trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở các phân tích đó, luận văn

Các phương pháp đánh giá, so sánh, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, lôgic,
phân tích …là các phương pháp nghiên cứu trong luận văn. Các phương pháp
này được thực hiện trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của
miễn trách nhiệm hình sự. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình
phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định của pháp
luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của chế định miễn
trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại thành phố
Đà Nẵng. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê trên thực tế,
từ đó rút ra những thiếu sót, hiểu biết nhầm lẫn, những khuyết điểm và những
vướng mắc trong việc áp dụng quy phạm pháp luật của chế định miễn miễn
trách nhiệm hình sự, từ đó tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp
phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất cũng như bổ
sung một số trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cần phải được nhà làm luật
ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử phát triển các quy định

7


pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự.
Chương 2: Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hiện hành và thực

việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người
bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [11, tr.7];
Chi tiết hơn, tác giả Lê Thị Sơn, trong tác phẩm "Trách nhiệm hình sự
và miễn trách nhiệm hình sự", tác giả nêu khái niệm: Miễn trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và
đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực
11


hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn
phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án
tích. Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu
biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích" [55, tr.
19-20]...
Các khái niệm trên dù dài ngắn khác nhau, tuy nhiên nội hàm của nó
chứa đựng đầy đủ các nội dung, các dấu hiệu nhận biết. Hơn thế nữa các khái
niệm đó đều thống nhất khẳng định khái niệm miễn trách nhiệm hình sự phải
trả lời được các câu hỏi sau đây:
Bản chất pháp lý của nó là gì;
Hình thức thể hiện của nó như thế nào;
Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền nào áp dụng;
Đối tượng được áp dụng là ai;
Phải đáp ứng căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể nào.
Đối chiếu các khái niệm trên đây với quy định của pháp luật hình sự
hiện hành, chúng ta dễ dàng thấy các khái niệm trên không còn đáp ứng được
yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện
nay. Cụ thể là các khái niệm trên chưa nêu ra được ngoài con người với tư
cách là chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự thì pháp nhân thương mại
cũng là chủ thể.
Bổ sung đặc điểm về chủ thể là pháp nhân thương mại, dưới góc độ

lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, sự nhân đạo, khoan hồng trong đường
lối của Đảng đã thể hiện cụ thể qua nhiều chính sách khác nhau, đặc biệt là
chính sách hình sự. Nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự ta có thể
nhìn thấy ý nghĩa của nó dưới nhiều góc độ khác nhau. Tựu trung lại, có thể
thấy miễn trách nhiệm hình sự có các ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh
14


vực tư pháp hình sự. Là chế định phản ánh rõ nét tính nhân đạo, khoan hồng
trong chính sách hình sự, miễn trách nhiệm hình sự là một biện pháp hữu hiệu
của Nhà nước để thực hiện chính sách phân hóa và thể hiện phương châm ấy.
Thứ hai, dưới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trường hợp
miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự giúp cho các cơ quan tiến
hành tố tụng xác định đúng đắn sự không còn tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội do người, pháp nhân thương mại thực hiện. Từ đó đưa ra các
giải pháp mang tính chuyển hưởng xử lý mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của
công cuộc đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Ngoài ra, việc quy định cơ sở và
các trường hợp miễn trách nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, đầy đủ cũng làm
giảm đến mức thấp nhất tình trạng tuy tiện trong các quyết định miễn trách
nhiệm hình sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Bên cạnh
ý nghĩa trực tiếp mang tính chính trị pháp lý đó thì ở một nghĩa nào đó, các
quy định miễn trách nhiệm hình sự còn là một sự xã hội quá quá trình cải tạo
chủ thể phạm tội. Tức là cá nhân người phạm tội, gia đình và tổ chức nơi họ
làm việc được tạo điều kiện cùng tham gia vào quá trình cải tạo, giáo dục
người phạm tội, giúp đỡ đưa họ trở lại con đường lương thiện, lao động chân
chính và có ích cho xã hội.
Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được đặt ra đối với người,
pháp nhân thương mại nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật
quy định là tội phạm. Hay nói cách khác, chỉ khi nào hành vi đã cấu thành tội

điều 110 là tội gián điệp, đoạn 2 khoản 7 điều 364 là tội đưa hối lộ, khoản 6
điều 365 là tội môi giới hối lộ và khoản 2 điều 390 là tội không tố giác tội
phạm Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự.
1.2.2. Căn cứ tính chất bắt buộc hay tùy nghi của quy định về miễn
trách nhiệm hình sự
Khi quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự , Bộ luật hình
16


sự 2015 quy định theo hướng nhóm các trường hợp “ được miễn” và nhóm
các trường hợp “có thể được miễn”. Cụ thể:
Bốn trường hợp có tính chất bắt buộc quy định tại các điều 16, khoản 1
điều 29 và khoản 4 điều 110 Bộ luật hình sự. Khi có các căn cứ miễn trách
nhiệm hình sự thuộc trường hợp này, cơ quan tiến hành tốt tụng hình sự mà
cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng
tương ứng với thẩm quyền của mình bắt buộc phải ban hành quyết định đình
chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội.
Mười trường hợp có tính chất tùy nghị ( có thể được miễn trách nhiệm
hình sự ) quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 29, khoản 2 điều 91, đoạn 2
khoản 7 điều 364, khoản 6 điều 365 và khoản 2 điều 390. Khi có các căn cứ
quy định tại các điều luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể
miễn hoặc không miễn trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào đánh giá tính chất,
mức đôh nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong gia đoạn đó.
1.2.3. Căn cứ vào nội dung và phạm vi áp dụng
Dựa vào nội dung và phạm vi áp dụng các quy định miễn trách nhiệm
hình sự, chúng ta có thể chia miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ
luật Hình sự 2015 thành các nhóm sau:
Ba trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại các khoản 1-3

nhân thương mại còn chịu trách nhiệm hình sự theo quy định khác của Phần
thứ nhất của Bộ luật Hình sự không trái với quy định chương XI trong đó có
quy định về miễn trách nhiệm hình sự. Như vậy dựa vào chủ thể được sự ta có
thể có người phạm tội và nhóm quy định về miễn trách nhiệm hình đối với
pháp nhân thương mại phạm tội.

18


1.3. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt và loại
trừ trách nhiệm hình sự
1.3.1. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt
Bên cạnh khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, thì pháp luật hình sự
còn có khái niệm miễn hình phạt. Thực tiễn áp dụng pháp luật, đã có sự nhận
thức không chính xác các khái niệm này dẫn đến sai sót trong quá trình xử lý
hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các quy định về miễn hình phạt
được nhắc đến trong các điều 59 và 390 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh
nhưng điểm giống nhau, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có
những điểm khác nhau rõ rệt. Do đó việc phân biệt chúng là rất cần thiết cho
quá trình nghiên cứu nói chung cũng như hoạt động thực tiễn nói riêng.
Thông qua các quy định về miễn hình phạt trong Bộ luật hình sự hiện
hành, định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt có thể cô đọng lại
như sau: miễn hình phạt là không buộc người, pháp nhân tương mại phạm tội
phải chịu hình phạt về tội mà họ đã thực hiện. Điều 59 Bộ luật hình sự năm
2015 quy định "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 54 của Bộ luật nayg mà
đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm
hình sự". Các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 54 là a) Có ít
nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm
2015; b) Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status