Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất ở Việt Nam - Pdf 56

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THÚY HÀ

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THÚY HÀ

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Vinh Hƣng


1.1.4. Ý nghĩa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án tranh
chấp quyền sử dụng đất ................................................................................... 18
1.2. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT ................................................................................................................. 19
1.2.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................ 20
1.2.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 22
1.3. LỊCH SỬ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ...................................................................................... 23
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959 .................................................................. 23
1.3.2. Giai đoạn từ 1960 đến 1988 .................................................................. 25
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2004......................................... 29
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay ............................................................ 32
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 35
2.1. KIỂM SÁT VIỆC THỤ LÝ VÀ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ........................ 36
2.1.1. Kiểm sát việc thụ lý trong giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng
đất .................................................................................................................... 36


2.1.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình lập hồ sơ giải quyết
vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ................................................................ 41
2.2. KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN TÕA CẤP
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
......................................................................................................................... 49
2.2.1. Những vấn đề pháp lý liên quan đến kiểm sát vụ án tranh chấp quyền sử
dụng đất tại phiên tòa cấp sơ thẩm .................................................................. 49
2.2.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa cấp sơ thẩm giải quyết
vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ................................................................ 53

3.1.4. Công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án
tranh chấp quyền sử dụng đất.......................................................................... 77
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ........................ 89
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất 89
3.2.2. Một số kiến nghị khác nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Viện kiểm sát nhân dân ............................................................................ 93
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 98
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

Thực tiễn tố tụng xét xử các vụ án tranh chấp đất đai cho thấy các tranh
chấp về quyền sử dụng đất ngày càng diễn biến phức tạp do chính sách pháp
luật về đất đai của Đảng và Nhà nước thường có khá nhiều thay đổi. Ngoài ra,
tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án vẫn còn chậm hoặc không
thống nhất về đường lối xét xử làm phát sinh khiếu kiện kéo dài và đồng thời
điều này còn làm giảm lòng tin của người dân đối với pháp luật của Nhà nước.
Điều 27 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 21 của BLTTDS năm
2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong quá trình tiến hành
giải quyết các vụ việc dân sự. Trong đó, đối với vụ án tranh chấp quyền sử
dụng đất bắt buộc phải có mặt của VKSND. Trên cơ sở quy định này, có thể
nói, VKSND đã thực hiện rất tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất. Tuy vậy,
vẫn còn một số tồn tại như việc phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị còn
ít và chưa đảm bảo chất lượng. Các tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp hoặc

1


bản án, quyết định ở cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa chữa hay hủy án còn
nhiều dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân chưa được
bảo vệ. Đặc biệt có một số vụ án bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hoặc giám đốc
thẩm nhiều lần dẫn tới không có điểm dừng đã gây bức xúc đối với dư luận xã
hội. Hay việc tranh tụng tại phiên tòa hoặc việc đổi mới thủ tục hành chính tư
pháp trong tố tụng dân sự có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu đề ra.
Có thể nói, nguyên nhân trên là do hệ thống pháp luật tố tụng dân sự
của Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nên
chất lượng giải quyết các vụ án của Tòa án còn hạn chế. Một nguyên nhân quan
trọng khác chính là các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò cũng như chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự còn chưa đầy đủ.

về kiểm sát việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như:
+ Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất.
+ Làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong quá trình kiểm sát
việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất. Đặc biệt là theo
quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để từ đó xác định những hiệu
quả, hạn chế và nguyên nhân.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt việc kiểm sát
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng
đất trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề trong pháp luật thực định
bao gồm các quy định hiện hành của Việt Nam về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất theo thủ tục xét xử
thông thường (trong các Bộ luật, Nghị định, Thông tư liên tịch, Thông tư...)
trong tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Ngoài ra, luận văn

4


còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của VKSND tham gia tố tụng
dân sự trong toàn ngành kiểm sát (thời điểm lấy số liệu từ 1/7/2016 đến nay).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện nay về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
các quy định pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết
vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.

6


CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC
TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
1.1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng
đất
“Đất” theo cuốn Từ điển Luật học Black’s law có hai nghĩa, cụ thể về
nghĩa hẹp: “Đất chỉ là bề mặt hoặc lớp vỏ bao ngoài đất, không bao gồm các
khoáng vật bên dưới hoặc cỏ cây bên trên nó”. Với nghĩa rộng hơn: “Đất
không chỉ là lớp vỏ, lớp bề mặt mà còn bao gồm tất cả những gì gắn liền với
nó, bất kể do bản chất tự nhiên (như cây cối, nước) hay do sự tác động của
con người (như những công trình xây dựng, tường rào)” [32,tr. 955].
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn lực đất đai và
xuất phát từ chủ trương: “ Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”[13, Điều 6],

Như vậy, Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền của mình mà
trao quyền sử dụng cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người
sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với mảnh đất được trao
quyền theo đúng các nguyên tắc sử dụng đất và chịu trách nhiệm trước Nhà
nước đối với việc sử dụng đất.
Theo khái niệm của trường Đại học Luật Hà Nội: “Quyền sử dụng đất
là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai đề phục vụ cho các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”[27, tr. 92].
Quyền sử dụng đất là một loại quyền đặc trưng của người sử dụng đất,
nó được phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai [27, tr. 93]. Đây là loại

8


quyền phát sinh trên cơ sở kết hợp một cách đặc thù quyền tài sản của chủ sở
hữu với yếu tố quyền lực nhà nước. QSDĐ của chủ sở hữu là Nhà nước khác
với QSDĐ của người sử dụng đất vì với tư cách là chủ sở hữu thì Nhà nước
có QSDĐ vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị hạn chế [27,tr 95].
Qua phân tích trên, có thể nhận thấy QSDĐ là một loại quyền đặc trưng
của người sử dụng đất và nó được phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất
đai. Đây là loại quyền phát sinh trên cơ sở kết hợp một cách đặc thù quyền tài
sản của chủ sở hữu với yếu tố quyền lực nhà nước. Từ đó, QSDĐ có thể được
hiểu như sau:
Quyền sử dụng đất là quyền khai thác những thuộc tính có từ đất một
cách hợp pháp thông qua các hành vi sử dụng đất.
Về tranh chấp QSDĐ: Tranh chấp đất đai theo nghĩa rộng là biểu hiện
sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh
chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền

chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Tiếp theo đó, Điều 54 của Hiến pháp năm
2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng
đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng
đất được pháp luật bảo hộ”. Thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền
sử dụng đất” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng bao gồm cả tranh chấp về
QSDĐ và tài sản gắn liền với đất. Theo suy luận thì tranh chấp về QSDĐ nếu
hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao gồm 3 loại: Tranh chấp về việc ai là người có
QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị
người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); Tranh chấp hợp đồng chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp hoặc bảo lãnh,
góp vốn bằng giá trị QSDĐ; Tranh chấp thừa kế QSDĐ còn tranh chấp về
QSDĐ theo nghĩa hẹp chỉ bao hàm tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ.
Từ đó, có thể quan niệm: tranh chấp quyền sử dụng đất là các mâu
thuẫn, bất đồng về các quyền, nghĩa vụ sử dụng đất của chủ thể sử dụng đất

10


theo quy định pháp luật, gồm những mâu thuẫn về việc ai là người có QSDĐ
hợp pháp đất đang tranh chấp. Các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chủ
thể sử dụng đất như hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh
quyền sử dụng đất...
1.1.1.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án tranh
chấp quyền sử dụng đất
Hiến pháp năm 2013 ra đời quy định cụ thể những yêu cầu về dân chủ,
pháp quyền đồng thời đề cao quyền con người đã có ý nghĩa tác động trực
tiếp đến hoặt động các cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng. Từ
đó, đòi hỏi các thiết chế này phải thực sự đổi mới trong nhận thức, tổ chức và

vực hình sự và kiểm sát hoạt động tư pháp ngoài hình sự. Trong lĩnh vực hình
sự, chức năng này có quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với chức
năng thực hành quyền công tố, bởi lẽ, các quyết định của các cơ quan tiến
hành tố tụng đòi hỏi phải có căn cứ và đúng pháp luật [48, tr. 3]. Trong lĩnh
vực khác, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là một cơ chế
bảo đảm giám sát các hoạt động của các cơ quan tư pháp được đúng pháp
luật, hạn chế việc cơ quan tư pháp lạm dụng, lợi dụng quyền lực công để vi
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khi thực hiện chức năng kiểm
sát hoạt động tư pháp, VKSND không thực hiện thay, không can thiệp vào
hoạt động của các cơ quan tư pháp mà chỉ thực hiện cơ chế giám sát, khi phát
hiện có vi phạm thì có quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục các vi
phạm cụ thể đó. Đồng thời, tập hợp vi phạm mang tính điển hình, phổ biến để
kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là một cơ chế giám
sát hiệu quả, có tác dụng ngăn ngừa khả năng lạm dụng, lợi dụng quyền lực
công trong hoạt động tư pháp và là cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực
tư pháp một cách hữu hiệu nhất [48, tr. 3].
Xuất phát từ chức năng chung của ngành kiểm sát, VKSND tham gia
vào quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự cụ thể là các vụ án tranh chấp
QSDĐ của Tòa án nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá

12


trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Tòa án, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như mọi thành viên trong xã
hội [15, Điều 107].
Từ những quy định trên, có thể khẳng định việc tham gia của VKSND
vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là tất yếu và khách quan, nhằm đáp ứng
yêu cầu về bảo đảm sự tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Tòa
án - Cơ quan tư pháp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ việc

Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải
quyết vụ án tranh chấp QSDĐ thì cần phải hiểu rõ nhiệm vụ của VKSND
trong hoạt động này đó là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối
với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng khi giải
quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ (bắt đầu Tòa án nhận được đơn khởi kiện
đến khi kết thúc giải quyết vụ việc) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Tòa án và những người tham gia tố tụng.
1.1.2. Đặc điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ
án tranh chấp quyền sử dụng đất
Trong quá trình tham gia kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp
QSDĐ, VKSND được ghi nhận là cơ quan tiến hành tố tụng và được giao
nhiệm vụ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan tư pháp. Việc tham gia của VKSND có các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất: VKSND chỉ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do pháp
luật quy định. Đây là tinh thần của nguyên tắc pháp chế - nguyên tắc quan
trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của tổ chức xã
hội, của những người có chức vụ, quyền hạn và của công dân. Trong hoạt
động của mình, đảm bảo nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mọi hoạt động của
VKSND phải được luật điều chỉnh chặt chẽ, cụ thể và các quy định của pháp
luật phải được cụ thể hóa và phải được tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh [40,
tr. 11].
Để đảm bảo việc kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ
được khách quan, công bằng, đúng pháp luật thì trong quá trình thực hiện

14


nhiệm vụ của mình thì Viện trưởng VKSND, các Kiểm sát viên độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết
vụ án.

chức, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự; quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án, phiên
họp theo quy định của BLTTDS và thông báo cho Tòa án; quyết định phân
công Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng
nguyên tắc quy định tại khoản 2, Điều 16 của BLTTDS năm 2015; quyết định
thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm, bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTDS;
yêu cầu, kiến nghị theo quy định của BLTTDS; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo
quy định và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
[25, Điều 57].
Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng tham gia bảo
đảm tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp QSDĐ theo
quy định của BLTTDS, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết tranh chấp
QSDĐ, Kiểm sát viên khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn như: kiểm
sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ
việc dân sự; nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh thu thập
chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của
BLTTDS; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; tham gia phiên tòa, phiên
họp và phát biểu ý kiến của VKSND về việc giải quyết vụ việc theo quy định;
kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện
đúng các hoạt động tố tụng theo quy định; đề nghị Viện trưởng VKSND có
thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi
phạm pháp luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự khác thuộc

16


17


đáng của nhà nước, tổ chức và công dân theo quy định của pháp luật. Từ đó,
góp phần giữ vững ổn định xã hội giữ gìn kỷ cương phép nước trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Vai trò của hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp
QSDĐ của VKSND còn có tác dụng phổ biến và tuyên truyền giáo dục ý thức
pháp luật trong nhân dân. Thông qua các quyết định kháng nghị hay các công
văn trả lời đơn cho đương sự, VKSND đã phân tích, giải thích pháp luật để
nhân dân hiểu rõ những gì pháp luật cho phép làm và những gì pháp luật cấm
để từ đó giữ gìn sự đoàn kết trong nhân dân.
1.1.4. Ý nghĩa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án
tranh chấp quyền sử dụng đất
Từ thực tiễn xét xử cho thấy, hàng năm các cấp Tòa án đã giải quyết số
lượng rất lớn các vụ tranh chấp về QSDĐ. Theo đó, “Trong giai đoạn xét xử,
giải quyết tranh chấp, nhiệm vụ của Tòa án là xác định sự thật khách quan của
vụ việc, khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức” [43, tr. 4]. Thông qua việc giải quyết các vụ tranh chấp, Tòa án đã góp
phần quan trọng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền lợi của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp người sử dụng đất góp phần ổn định trật
tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, vì một số lý do khác nhau nên nhiều hoạt động giải quyết
tranh chấp QSDĐ của Tòa án chưa thực sự đem lại hiệu quả mong muốn. Một
số trường hợp đường lối giải quyết các tranh chấp về QSDĐ giữa các cấp Tòa
án còn khác nhau, chưa bảo đảm nguyên tắc áp dụng thống nhất pháp luật, tỷ
lệ số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, bị sửa còn khá cao. Nhiều vụ
còn phải xử lại nhiều lần nên chưa bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, chưa được dư luận xã hội đồng tình... nguyên nhân của tình trạng
trên là nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai không ổn định,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status