1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phúc mạc ruột thừa là tình trạng viêm phúc mạc do viêm ruột
thừa cấp vỡ mủ gây ra và đây là biến chứng hay gặp của viêm ruột thừa cấp.
Nguyên nhân do viêm ruột thừa muộn, vỡ mủ vào ổ bụng gây một bệnh cảnh
nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân nặng, nếu không được cấp cứu kịp thời có
thể dẫn đến tử vong.
Hiện nay dù các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt
lớp vi tính phát triển giúp hỗ trợ chẩn đoán viêm ruột thừa, nhưng vẫn còn tỷ
lệ khá cao các trường hợp bệnh nhân đến muộn gây biến chứng viêm phúc
mạc [16], [24], [50].
Điều trị viêm phúc mạc ruột thừa: phẫu thuật là chỉ định điều trị tuyệt
đối. Mục đích phẫu thuật là giải quyết nguyên nhân (cắt ruột thừa), lau rửa và
dẫn lưu ổ bụng. Theo kinh điển, mổ mở với đường mổ rộng giúp kiểm soát
tổn thương và lau rửa ổ bụng. Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng sau mổ mở viêm
phúc mạc ruột thừa còn khá cao từ 14,2% đến 40% [31], [32]. Các biến chứng
hay gặp là nhiễm trùng vết mổ, áp xe tồn dư sau mổ, viêm phúc mạc, rò manh
tràng, tắc ruột sau mổ...
Phẫu thuật nội soi là phẫu thuật xâm nhập tối thiểu với ưu điểm ít đau
đớn, nhanh phục hồi, giảm đáng kể nhiễm khuẩn vết mổ. Mặc dù hiện nay
việc ứng dụng phẫu thuật nội soi vào điều trị viêm phúc mạc ruột thừa đã có
xu hướng được chấp nhận rộng rãi. Nhưng có một số phẫu thuật viên vẫn cho
rằng lau rửa ổ bụng qua nội soi không triệt để và việc bơm CO 2 ổ bụng trong
tình trạng viêm phúc mạc có thể gây những hậu quả toàn thân nặng nề.
Đã có một số báo cáo ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị viêm phúc
mạc ruột thừa cho kết quả tốt, tỷ lệ thành công cao như của Naver là 79%, Đỗ
Minh Đại, Nguyễn Hoàng Bắc (2003) là 98,3%, của Dương Mạnh Hùng
(2009) là 98,2%, Hồ Văn Linh (2011) là 90,5% [60], [3], [12], [16].
dài 8cm, lòng RT có đường kính từ 5 -7mm [22]. Gốc RT cố định nhưng đầu
RT lại nằm ở nhiều vị trí khác nhau so với vị trí của manh tràng [4], [15].
Chiều dài của RT và sự bao phủ của phúc mạc RT sẽ tạo các vị trí khác nhau
của nó.
Theo tác giả Wakeley qua thống kê 1000 trường hợp mổ tử thi thấy: RT
ở sau manh tràng hay gặp nhất (65,28%), RT ở hố chậu phải (HCP) (31,01%),
RT cạnh manh tràng (2,26%), trước hồi tràng (1%), cạnh đại tràng và sau hồi
tràng 0,45%, dưới gan 0,1%.
Ở Việt Nam theo Nguyễn Quang Quyền (2008): RT ở HCP chiếm
53,3%, RT sau manh tràng 30%, các vị trí khác chiếm tỷ lệ ít hơn [22]. Theo
Dương Mạnh Hùng (2009) thấy 78,8% RT ở HCP, 15,8% RT sau manh tràng,
RT trong tiểu khung chiếm 3,0%, dưới gan 2,4% [12].
Trong y văn, một số dạng đặc biệt của RT được mô tả như:
- RT sau phúc mạc.
4
- RT ở hố chậu trái trong những trường hợp đảo lộn phủ tạng.
- RT quá dài, đầu RT kéo sang trái ổ bụng, khi viêm gây đau hố chậu trái.
- Trong những trường hợp ruột xoay không hết, manh tràng ở vị trí bất
thường có thể thấy RT ở thượng vị, cạnh dạ dày hoặc dưới gan phải.
- Không có RT.
- Có hai RT.
Điểm Mac-Burney
Hình 1.1. Các vị trí của ruột thừa.
* Nguồn: theo Nguyễn Quang Quyền (2001) [21]
Mạc treo RT là phần tiếp tục của lá dưới mạc treo tiểu tràng, đi qua
phía sau đoạn cuối hồi tràng. Nếu mạc treo RT dài thì RT thẳng, dễ tách; nếu
6
+ Lớp đệm: là mô liên kết có nhiều tuyến Lieberkuhn, những nang bạch
huyết lớn và nhỏ phát triển xuống cả lớp dưới niêm mạc.
+ Lớp cơ niêm: là dải cơ trơn không liên tục, mỏng và bị ngắt quãng
bởi nang bạch huyết.
Lớp niêm mạc và dưới niêm mạc rất dày nên lòng RT rất hẹp và có khi
bị bít lại. Ở người già số lượng và kích thước của nang bạch huyết này giảm,
song song với quá trình này là sự phì đại của niêm mạc và gia tăng tổ chức xơ
ở lớp dưới niêm mạc [6], [11].
Hình 1.3. Cấu trúc mô học ruột thừa.
* Nguồn: theo Nguyễn Quang Quyền (2001) [21]
1.1.3. Sinh lý
Các nghiên cứu cho thấy RT có 3 chức năng chính:
- Chức năng miễn dịch: Gorgollon cho rằng RT là tổ chức lympho phát
triển với chức năng miễn dịch. Fichtelius xem RT như là cơ quan bạch huyết
trung tâm, liên quan đến quá trình trưởng thành của tế bào lympho B.
- Chức năng bảo vệ: E.I. Sinhennhicop và Gross cho rằng RT có nhiều
đám bạch huyết đóng vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ cơ thể chống
lại vi trùng. Chức năng phòng chống nhiễm trùng của RT (hệ thống bạch
7
huyết ở RT) cũng không kém phần quan trọng như chức năng của hệ thống
bạch huyết của Amygdale ở vòm họng.
- Chức năng tiêu hóa: RT tiết ra chất dịch kiềm, gồm các men như
Amylaza, Pepsin và chất nhầy. Trong 24 giờ RT người trưởng thành tiết ra
khoảng 2ml dịch nhầy, Amylaza và các men tiêu Protide.
ép động mạch, RT vùng nghèo mạch máu nuôi dưỡng nhất (bờ tự do RT) bị
hoại tử với các điểm nhồi máu (giai đoạn viêm hoại tử). Sau đó, các điểm hoại
tử nhất là bờ tự do của RT bị thủng, mủ trong lòng RT và vi khuẩn chảy vào ổ
phúc mạc gây viêm phúc mạc (VPM).
Nếu quá trình viêm nhiễm diễn ra từ từ, thì các quai ruột, mạc nối lớn,
phúc mạc thành bụng sẽ bị viêm, dính vào nhau và bao bọc lấy RT, khi RT bị
thủng, mủ sẽ không lan khắp ổ bụng mà tạo thành VPM khu trú (áp xe RT).
Nếu sức đề kháng của bệnh nhân tốt, quá trình viêm không nặng lắm, RT
chưa hóa mủ sẽ hình thành đám quánh RT.
1.2.2. Vi khuẩn trong viêm ruột thừa
Một loạt các vi khuẩn yếm khí và ái khí đã được phát hiện khi phân lập
từ dịch phúc mạc, các thành phần trong ổ áp xe hoặc mô RT ở những BN bị
RT hoại tử hay thủng. Trong lòng RT thường đã chứa nhiều vi khuẩn gram (-)
ái khí như: Escherichia Coli, Klepsiella Enterobacter, Str. Faecalis Proteus
Mirabilus, Proteus Vulgaris…; và vi khuẩn gram (-) yếm khí như Bacteroid
Fragilis, Clostridia, Strep tococci [4].
9
1.3. GIẢI PHẪU BỆNH VIÊM RUỘT THỪA
1.3.1. Phân loại giải phẫu bệnh
Có nhiều cách phân loại:
- Nguyễn Văn Khoa [13] phân loại theo giai đoạn sớm, muộn của tổn
thương, chia làm ba mức:
+ Mức I: Viêm sung huyết (thể xuất tiết).
+ Mức II: Viêm thể mưng mủ (viêm tấy).
+ Mức III: Viêm thể hoại tử.
+ Mức IV: Thể hoại thư.
- Đặng Hanh Đệ [4] chia 4 thể giải phẫu bệnh tương đương với 4 giai
+ Tổn thương viêm đã gây hoại tử làm RT bị thủng, vùng hoại tử
thường thấy ở phần thân hoặc đuôi RT.
- Viêm ruột thừa thể hoại thư: Hiếm gặp, do vi khuẩn kỵ khí gây nên,
có hoại tử khô hoặc hoại tử ướt.
+ Thể ướt: ổ bụng nhiều dịch thối, RT thối rữa ngả màu vàng úa.
+ Thể khô: RT màu tím đen toàn bộ, ít dịch [13].
1.4. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ PHÚC MẠC
1.4.1. Giải phẫu phúc mạc
Phúc mạc là một màng bán thấm che phủ các tạng trong ổ bụng, và mặt
trong thành bụng. Phúc mạc có diện tích tương đương diện tích da, khoảng
1500cm2, gồm lá thành và lá tạng liên tiếp với nhau và khép kín tạo thành
khoang phúc mạc hay khoang màng bụng [31].
Phúc mạc là một mạng lưới tổ chức liên kết chun được phủ một lớp tế
bào vảy hình đa diện dày 3µm, có khả năng sản xuất ra các phần tử Cytokin,
chất trung gian tiền viêm, để chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh:
hóa chất, cũng như vi khuẩn.
11
Mạc nối lớn (mạc nối vị - kết tràng) che phủ phía trước các quai hỗng
hồi tràng và khung kết tràng đi tới tận tiểu khung. Mạc nối lớn là tổ chức rất
giàu mạch máu và các mạch bạch huyết rất phong phú. Các dây thần kinh
chi phối mạc nối lớn cũng rất phong phú và hợp thành các đám rối. Mạc nối
lớn giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình miễn dịch và bảo vệ tại chỗ của
phúc mạc.
Đại tràng ngang và mạc treo của nó chia khoang phúc mạc thành 2
tầng: tầng trên và tầng dưới mạc treo đại tràng ngang.
Túi cùng Douglas nằm ở phần thấp nhất của khoang phúc mạc. Khi BN
nằm ngửa thì phần thấp nhất của khoang phúc mạc là rãnh cạnh đại tràng phải
và trái và ngách gan-thận hay còn gọi là khoang Morrison.
bảo vệ, nhưng cũng gây nên những tác hại với cơ thể.
* Tại chỗ: phúc mạc tiết những chất dịch có tác dụng diệt khuẩn gồm
đại thực bào và các bạch cầu đa nhân trung tính; tiết fibrin có tác dụng kết
dính các tạng lại, tạo các vách khu trú ổ nhiễm khuẩn lại. Mạc nối lớn tới bọc
và cách ly vùng nhiễm khuẩn.
* Tác động toàn thân: VPM cấp gây nhiều hậu quả nghiêm trọng tới
toàn thân:
- Phản ứng viêm làm tăng tính thấm thành mạch giúp độc tố vi khuẩn
hấp thu vào máu gây nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân. Đồng thời làm thoát
huyết tương vào khoang phúc mạc, khoang sau phúc mạc.
- Phúc mạc giàu thần kinh, khi bị kích thích bởi quá trình viêm gây liệt
ruột cơ năng, dịch ứ đọng trong lòng ruột, làm chướng bụng, giảm hấp thu
dịch tiết khoang phúc mạc, dẫn đến giảm khối lượng tuần hoàn, rối loạn nước
điện giải (mất dịch, protid).
- Do giảm khối lượng tuần hoàn có thể gây trụy tim mạch.
- Do chướng bụng, co cứng cơ thành bụng có thể gây suy thở.
13
- Độc tố vi khuẩn có thể làm tổn thương mao mạch phế nang gây phù
phổi cấp.
- Suy thận cấp do giảm khối lượng tuần hoàn, do độc tố vi khuẩn gây
viêm thận ống - kẽ.
- Toan chuyển hóa do giảm tưới máu tổ chức.
- Tổn thương tế bào gan do độc tố vi khuẩn.
1.4.4. Phân loại viêm phúc mạc
* Theo nguyên nhân bệnh sinh
+ Viêm phúc mạc nguyên phát.
+ Viêm phúc mạc thứ phát.
* Theo tác nhân gây bệnh
ít di động theo nhịp thở. Sờ nắn đau khắp ổ bụng, đau nhất ở hố chậu phải, đôi
khi co cứng cơ thành bụng, cảm ứng phúc mạc.
Dấu hiệu Blumberg (+).
Thăm trực tràng: túi cùng Douglas phồng, rất đau.
Chọc dò ổ bụng có thế thấy dịch mủ đục, mùi thối.
- Viêm phúc mạc RT thể không điển hình: thường rất khó chẩn đoán,
đau bụng ít không rõ ràng, điểm đau không ở HCP. Có thể không sốt (nhất là
người già, người gầy yếu hay đã dùng kháng sinh). Các triệu chứng thực thể
không rõ ràng, dễ nhầm với một số bệnh lý khác.
* Thể viêm phúc mạc ruột thừa theo diễn biến:
- Viêm phúc mạc toàn thể: do bệnh nhân đến muộn, toàn thân biểu hiện
nhiễm khuẩn rõ, bệnh nhân đau khắp bụng, khám có cảm ứng phúc mạc, co
cứng cơ thành bụng. Thăm trực tràng thấy Douglas phồng, đau.
Theo Nguyễn Đình Hối (1994) VPMRT được chia thành các hình thái [10]:
15
+ Viêm phúc mạc tức thì: chỉ một vài giờ sau khi bắt đầu đau bệnh
nhân đã thấy đau nhiều, đau khắp bụng, khám thấy đầy đủ các triệu chứng của
một VPMRT toàn thể.
+ Viêm phúc mạc sau 48 giờ: khoảng 48 giờ sau khi bắt đầu đau, đột
nhiên bệnh nhân thấy đau trội lên. Lúc này khám thấy có đầy đủ các triệu
chứng của VPM.
+ Viêm phúc mạc hai thì: lúc đầu bệnh nhân có các triệu chứng của
viêm ruột thừa cấp. Sau nhiều giờ, các triệu chứng của bệnh giảm dần, bệnh
nhân thấy dễ chịu, có vẻ như đã khỏi. Nhưng rồi 4-5 ngày sau, cơn đau đột
nhiên xuất hiện trở lại. Lúc này khám thấy có đầy đủ triệu chứng của một
viêm phúc mạc. Người ta gọi thời gian giảm đau đó là thời gian giảm đau dối
trá hay thời gian giảm đau phản bội.
+ Viêm phúc mạc ba thì: lúc đầu là một VRT (thì một), VRT không
- Viêm phúc mạc ruột thừa ở người già:
Thường do phát hiện chậm, bệnh nhân già yếu, khả năng phối hợp
với thầy thuốc kém, dễ nhầm với bệnh lý gây tắc ruột do u đại tràng.
VPMRT ở người già tiên lượng thường xấu do sức đề kháng kém và thường
có bệnh kết hợp.
- Viêm phúc mạc ruột thừa ở phụ nữ: Cần chú ý đến viêm phúc mạc do
viêm phần phụ trào ngược. Để chẩn đoán phân biệt cần khám kỹ. Bệnh nhân
VPM do viêm phần phụ thường thấy đau ở hạ vị hoặc hai hố chậu, có khí hư
nhiều hoặc có tiền sử bệnh hoa liễu.
- Viêm phúc mạc ruột thừa ở phụ nữ mang thai: Phản ứng thành bụng, co
cứng cơ thành bụng không rõ do bụng mềm. Dễ viêm phúc mạc toàn thể, ít
khi thành đám quánh hay áp xe ruột thừa.
- Viêm phúc mạc ruột thừa ở một số cơ địa đặc biệt khác:
+ VPMRT ở người béo phì. Khó khăn trong chẩn đoán và điều trị.
17
+ VPMRT ở BN có dịch cổ chướng: cần phân biệt với VPM nguyên
phát do nhiễm khuẩn dịch cổ chướng. Cần chú ý trong hồi sức và điều trị sau
phẫu thuật.
+ VPMRT ở người nghiện ma túy: triệu chứng đau ít, thành bụng
mềm khó chẩn đoán, sức đề kháng kém, đôi khi kèm theo suy giảm miễn
dịch, HIV (+).
+ VPMRT ở người dùng thuốc kháng sinh, giảm đau dài ngày: các triệu
chứng lu mờ, khó chẩn đoán.
+ VPMRT ở người đang mắc các bệnh cấp tính kèm theo: Rất khó chẩn
đoán và đắn đo trong xử trí, thường nặng nề sau mổ.
1.5.1.2. Một số chỉ số lâm sàng trong viêm phúc mạc ruột thừa
Theo Đỗ Đức Vân (1994) thấy VPMRT đứng đầu trong các nguyên
nhân gây VPM. Tác giả đã đưa ra bảng các chỉ số cần chú ý:
1.5.2. Cận lâm sàng
1.5.2.1. Xét nghiệm máu
Giá trị của xét nghiệm bạch cầu (BC) trong chẩn đoán VPMRT đã
được nhiều tác giả đề cập [10], [46], [57]. Các tác giả này cho rằng số
lượng BC tăng là một biểu hiện quan trọng của VPMRT, hầu hết BN
VPMRT có số lượng BC tăng cao. Sự tăng số lượng BC và tăng BC đa
nhân trung tính là một gợi ý có nhiễm trùng trong ổ bụng, nếu không tìm
thấy các nguyên nhân khác.
Sinh hóa máu không có ý nghĩa chẩn đoán VPMRT nhưng có ý nghĩa
tiên lượng tình trạng nhiễm độc và mức độ rối loạn nước điện giải.
Tốc độ máu lắng thường không tăng hoặc tăng nhẹ trong VRT cấp
chưa có biến chứng. Nhưng với VRT thủng gây VPM, đám quánh RT và đặc
biệt trong áp xe ruột RT thì máu lắng tăng rất cao.
1.5.2.2. Siêu âm ổ bụng
Siêu âm có giá trị chẩn đoán cao, theo Võ Duy Long và cộng sự
(2003) ở những BN đau HCP, nghi ngờ VRT, siêu âm bụng có độ nhạy 77,5%,
độ đặc hiệu 94,8%, giá trị tiên đoán dương 96,3% [17]. Theo Trần Công Hoan
(2013) trong những trường hợp thấy được RT này, siêu âm có độ nhạy là
96,7%, độ đặc hiệu 89,1%, và độ chính xác 93,7%. Nhưng phải làm tỷ mỉ, có
kỹ thuật và có đầu dò phù hợp. Hình ảnh VRT cấp trên siêu âm: đường kính
ruột thừa > 0,6cm, hình ảnh bia bắn (ở mặt cắt siêu âm ngang RT), hình ảnh
ngón tay đeo găng (ở mặt cắt siêu âm dọc RT), dịch quanh RT, HCP, đè ép
đầu dò siêu âm vào vùng HCP đau tăng [9]. Theo Wijesuriya L.I (2007), việc
chẩn đoán VRT dựa vào siêu âm có độ nhạy 86-96% và độ đặc hiệu 85-98%
[74].
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân trong VRT muộn khi quá trình hoại tử
bắt đầu từ niêm mạc lan dần ra ngoài làm hủy hoại dần các lớp của thành RT,
19
20
xe quanh RT và khí ngoài lòng ống. Các dấu hiệu áp xe quanh RT và khí
ngoài lòng ống cho thấy có độ đặc hiệu theo thứ tự là 99% và 98% đối với
VRT thủng. Tuy nhiên, độ nhạy của các dấu hiệu này thấp (34% và 35%). Vì
vậy, khi có khí ngoài lòng ống quanh RT hoặc áp xe quanh RT, chúng ta có
thể chẩn đoán một cách tự tin là thủng RT. Tuy nhiên, không có các dấu hiệu
này không loại trừ được thủng. Các dấu hiệu khác như dịch tự do và khuyết
bắt quang thành khu trú thấy nhạy hơn đối với thủng (theo thứ tự là 37% và
64%) nhưng ít đặc hiệu (76% và 80% ) theo Bixby và cộng sự trong nghiên
cứu 62 BN VRT thủng và 182 BN VRT không thủng [64].
1.1.1.1. Nội soi ổ bụng
Nội soi ổ bụng cho hình ảnh trực tiếp tổn thương khoang phúc mạc và
ruột thừa, không những giúp chẩn đoán chính xác mà còn giúp chẩn đoán
phân biệt với nhiều nguyên nhân gây VPM khác.
Nghiên cứu của Sozuer E.M. (2000) về nội soi chẩn đoán và điều trị
các trường hợp đau bụng cấp tính có độ nhạy là 98%, độ đặc hiệu là 96% [66].
Với VPMRT đa số các tác giả cho rằng nội soi ổ bụng chẩn đoán cho độ chính
xác 100% [3]. Hình ảnh tổn thương qua nội soi là ổ bụng có dịch mủ, giả mạc
và RT viêm mủ, hoại tử.
Tác giả Aurora D. Pryor (2004) kết luận rằng: Phẫu thuật nội soi chẩn
đoán nghi ngờ VRT được khuyến cáo cho phụ nữ trẻ, người già, hoặc BN
khác với bệnh lý không rõ ràng bởi vì khả năng chẩn đoán rộng hơn và cho
BN béo phì vì dễ dàng cải thiện kỹ thuật của mình [36].
1.5.2.4. Các xét nghiệm khác
Xét nghiệm protein C (CRP): Chung L.L. và cộng sự (1996) cho rằng
mức protein C tăng cao (≥ 50mg/l) có ý nghĩa trong chẩn đoán VRT thủng ở
trẻ em [41]. Các tác giả Mencci D. (1996) và Oosterhuis W.P. (1993) nhận
21
dùng ống thông Petzer hay Melécot dẫn lưu manh tràng qua gốc RT. Lỗ rò sẽ
tự bít lại nhanh chóng sau khi rút ống thông, rất ít khi phải mổ đóng lỗ rò.
- Một vấn đề quan trọng trong VPM là làm sạch ổ bụng. Đối với VPM
toàn thể cần thiết phải rửa ổ bụng bằng nhiều lít dịch nước ấm. Rửa cho tới
khi ổ bụng sạch, nước trong. Rửa bằng dung dịch sinh lý pha Bethadine.
Trong trường hợp VPM muộn, ổ bụng rất bẩn thì nên áp dụng phương pháp
tưới rửa liên tục sau mổ [10].
- Dẫn lưu ổ bụng trong VPMRT vẫn là một vấn đề đang được bàn cãi.
Có tác giả cho rằng cần dẫn lưu để đề phòng áp xe tồn dư, một số cho rằng
dẫn lưu như vậy sẽ nhanh chóng bị bít lại sau vài giờ, mặt khác dẫn lưu lại
như một dị vật có thể gây nguy cơ dính tắc ruột. Trong trường hợp ổ bụng
tương đối sạch và khi mổ đã lấy hết dịch mủ, rửa ổ bụng sạch và phẫu thuật
viên chắc chắn sẽ không có áp xe tồn lưu thì có thể không cần đặt ống dẫn
lưu. Trường hợp ổ bụng có nhiều mủ, giả mạc, nhiều mô hoại tử, trong mổ
không thể lấy hết thì dẫn lưu ổ bụng là bắt buộc [10].
- Đóng vết mổ: đóng bụng một lớp để hở da, khâu da thì hai khi vết
mổ sạch.
1.6.2. Mổ nội soi
1.6.2.1. Mổ cắt ruột thừa nội soi
* Trên thế giới:
Năm 1983 Kurt Semm thực hiện nội soi ổ bụng cắt một RT không
viêm. Một thời gian sau, các phẫu thuật viên người Đức đã nhanh chóng thực
hiện thành công cắt RT qua nội soi điều trị VRT [23].
23
Thời gian đầu việc ứng dụng phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt ruột
thừa cũng gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Những người ủng hộ đưa ra hàng
loạt các nghiên cứu chứng minh lợi ích của cắt ruột thừa nội soi [44], [45],
[72], [77]. Ngược lại cũng có nhiều nghiên cứu cho rằng việc cắt RT nội soi
cắt RT trong điều trị VPMRT so với mổ mở [60].
Năm 2004, Ball C.G. và cộng sự nghiên cứu so sánh PTNS điều trị
VRT cấp và VRT có biến chứng, tác giả kết luận: giữa hai nhóm không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian nằm viện, thời gian trở lại hoạt
động bình thường, tỷ lệ biến chứng. Tuy nhiên ở những bệnh nhân VRT có
biến chứng thì nhóm mổ mở có thời gian nằm viện dài hơn đáng kể, tỷ lệ biến
chứng cao hơn. Tác giả kết luận: PTNS an toàn và hiệu quả, phương pháp này
nên là sự lựa chọn đầu tiên cho phần lớn viêm ruột thừa có biến chứng [38].
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về cắt
RT nội soi điều trị VPMRT. Theo báo cáo tại Hội nghị ngoại khoa toàn quốc
năm 2004, tác giả Đỗ Minh Đại và cộng sự nghiên cứu PTNS tại Bệnh viện
Hoàn Mỹ từ tháng 6/2000 đến tháng 8/2004 cho kết quả: nội soi chẩn đoán
chính xác 100% nguyên nhân gây VPM và xử lý thành công bằng nội soi
96%, Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 2.3%, áp xe dư là 3.1%, không có tử vong.
Tác giả kết luận: PTNS điều trị VPMRT rất hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều
lợi ích cho BN và có thể thực hiện thường qui ở những cơ sở có phẫu thuật
viên mổ nội soi kinh nghiệm [3].
Năm 2009, Dương Mạnh Hùng nghiên cứu ứng dụng PTNS trong điều
trị VPMRT tại Bệnh viện Trung ương Huế cho kết quả thành công là 97.1%,
không có tử vong phẫu thuật; với thời gian mổ trung bình là 66.4 ± 19.2 phút,
thời gian nằm viện trung bình là 5,4 ± 2,2 ngày, tỷ lệ biến chứng sau mổ
25
chung là 5,9% (trong đó nhiễm khuẩn vết mổ là 1,8%, áp xe tồn dư là 2,3%,
tắc ruột sớm sau mổ là 0,6%) [12].
Năm 2011, Hồ Văn Linh nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
và kết quả điều trị VPMRT bằng PTNS tại bệnh viện 103 có 90,5% đạt kết
quả tốt, kết quả trung bình 9,5%, không có trường hợp nào biến chứng phải
can thiệp mổ lại [16].