1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị tật bẩm sinh (DTBS) được định nghĩa là tình trạng bất thường xuất
hiện tại thời điểm khi sinh và đã có trước sinh. DTBS gồm một loạt các bất
thường với mức độ ảnh hưởng khác nhau. Một vài DTBS rất trầm trọng và có
thể dẫn đến tử vong, song một số khác có thể ít nghiêm trọng và có thể điều
trị được với những chăm sóc y tế thích hợp. Có khoảng 70% trường hợp
DTBS chưa thể giải thích rõ ràng về nguyên nhân; trong một số trường hợp
nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ có thể là yếu tố kinh tế xã hội, nhiễm trùng
trong quá trình mang thai; các yếu tố về di truyền, môi trường (và bao gồm
các yếu tố như thuốc men, rượu, khói thuốc lá) hoặc kết hợp các yếu tố di
truyền và môi trường [34].
DTBS là vấn đề y tế đang được quan tâm trên toàn cầu và là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong, các bệnh mãn tính và tình trạng khuyết tật ở trẻ
em tại nhiều nước; gây ảnh hưởng to lớn đến cá nhân, gia đình, hệ thống
chăm sóc sức khoẻ và toàn xã hội. Cứ 100 trẻ sinh ra có 3 - 5 trẻ bị DTBS.
Ngoài ra, cũng có khoảng 270.000 trẻ tử vong trong vòng 28 ngày tuổi trên
toàn thế giới [50].
Dị tật bàn chân là có rất nhiều dạng khác nhau. Có những dạng tị tật bàn
chân ảnh hưởng rất lớn đến chức năng và gây tàn tật cho trẻ như bàn chân
khoèo, bàn chân xương sên thẳng trục bẩm sinh, bên cạnh đó có những dị tật
cổ bàn chân ảnh hưởng nhiều tới thầm mỹ, ít hoặc lâu dài gây đau và khó
khăn trong sinh hoạt hàng ngày.
Việc khám sàng lọc trẻ mới sinh để trên thế giới được làm thường quy từ
vài trục năm nay vì vậy trẻ em của nước họ đã được phát hiện và can thiệp
nên có kết quả rất tốt, thay đổi nhiều tới chất lượng sống của trẻ.
2
+ Phần giữa bàn chân bao gồm 3 xương
chêm và xương hộp, xương ghe
+ Phần bàn chân sau bao gồm xương gót,
xương sên.
Khớp cổ chân là một khớp mộng tạo bởi phần thấp phía dưới xương chày
và xương mác với đỉnh của xương sên. Khớp cổ chân có chức năng vận động là
gấp và duỗi bàn chân (hay là gấp mặt gan bàn chân và gấp mặt mu bàn chân).
Khớp dưới sên có trục đơn nối liền xương sên và xương gót cho phép
bàn chân nghiêng trong và nghiêng ngoài
Các khớp gian cốt cổ chân bao gồm khớp sên - gót - ghe, khớp gót - hộp,
khớp chêm - thuyền và các khớp gian chêm, chúng góp phần vào sự linh hoạt
và mền dẻo của bàn chân trong các hoạt động gấp và duỗi (gấp mặt mu và gấp
mặt lòng), dạng và khép, xoay trong và xoay ngoài.
Các khớp cổ chân và bàn chân, khớp bàn - đốt, gian - đốt cho phép gấp
duỗi bàn chân.
Cẳng chân bao gồm xương chày và xương mác.
Cùng với xương và khớp còn có một hệ thống gân, cơ dây chằng, mạch
máu thần kinh để đảm bảo cho bàn chân có thể phát triển và đạt được những
chức năng bình thường.
Các cơ cẳng chân có thể chia thành 3 nhóm:
4
Các cơ khu cẳng chân trước bao gồm: cơ chày trước, cơ duỗi dài
các ngón chân, cơ duỗi dài ngón chân cái, cơ mác ba.
•
đốt ngón chân
Tất cả trẻ em sinh ra với dạng bàn chân bẹt, hầu hết các bàn chân trẻ sơ
sinh đều có một lớp đệm rất dày ở dưới cung gan chân và sẽ giảm dần rất
chậm cho đến khi bàn chân trưởng thành. Cung gan chân chưa có lúc mới
sinh và phát triển rất chậm trong suốt thời thơ ấu, thường hình thành xong lúc
năm hoặc sáu tuổi. Có một vài bàn chân cần thời gian lâu hơn để hình thành
cung gan chân và không hề gây đau cho trẻ em.
5
2.2. Cốt hóa xương của bàn chân và cổ chân
Trong bào thai, đầu xa của xương đốt bàn chân cốt hóa đầu tiên, theo sau
đó là khối xương bàn chân và cuối cùng là đốt ngón chân gần và giữa.
Ở trẻ sơ sinh bình thường có cốt hóa ở trung tâm của xương gót, xương
sên và xương hộp. Tuy nhiên xương hộp có thể đến 3 tuần tuổi mới cốt hóa.
Sự cốt hóa ở mặt bên xương chêm giữa tháng 4 và 20 tháng tuổi, trung
bình xương chêm cốt hóa lúc 2 tuổi, phần giữa xương chêm lúc 3 tuổi và
xương ghe giữa 2 đến 5 tuổi.
Chỏm xương gót cốt hóa giữa 4 đến 6 tuổi ở nữ và 5 đến 7 tuổi ở nam.
Khi sinh ra, trung tâm đầu xa xương chày đã có sự cốt hóa. Trung bình
hai mắt cá bắt đầu cốt hóa ở nữ lúc 7 tuổi, nam lúc 8 tuổi. Sự cốt hóa ở đầu xa
xương mác xuất hiện giữa tháng 11 và tháng 18 sau khi sinh.
2.3. Sự khác biệt giữa bàn chân của người trưởng thành
và trẻ mới sinh [3]
Bàn chân
Cung gan chân
Tầm vận động khớp
Tất cả các bé cần được hỏi về tiền sử mẹ mang thai, thời gian mang thai,
tiền sử sinh gồm cách thức diễn biến trong khi sinh. Ví dụ như một cuộc
chuyển dạ đẻ khó khăn do thai to có thể là yếu tố nguy cơ của gãy xương đòn
hoặc liệt đám rối cánh tay, hay ngôi mông có thể tăng nguy cơ rối loạn phát
triển khớp háng (trật khớp háng bẩm sinh). Các bé đều được hỏi phát hiện
bệnh hoặc dị tật của các anh chị mình…
3.2. Khám bệnh
Trẻ cần được khám trong phòng sạch ấm áp, ánh sáng dịu nhẹ. Trẻ được
đặt nằm ngửa. Cần đánh giá tình trạng da toàn thân trước tiên, da có những
chấm nâu cà phê và bị mòn có thể liên quan đến chứng xơ cứng do lao hoặc
rối loạn mô đệm. Tầm vận động cổ hạn chế có thể liên quan đến hội chứng
Klippel – Feil hoặc tật xơ hóa cơ ức đòn chũm bẩm sinh (đặc biệt là cơ ức đòn
chũm căng cứng). Xương đòn cần được khám phát hiện có bị gãy không.
Khám tầm vận động của vai, khuỷu, hông, gối và cổ chân. Nếu cứng và hạn
chế ở nhiều khớp có thể bị bệnh viêm cứng đa khớp.
Tất cả các trẻ sơ sinh cần được khám sàng lọc rối loạn phát triển khớp
háng (trật khớp háng bẩm sinh) bằng nghiệm pháp Ortolani và Balow để pháp
hiện trật khớp háng, nếu hạn chế dạng háng một phần cần được làm nghiệm
pháp Galeazzi. Mọi trường hợp có nghi ngờ rối loạn phát triển khớp háng cần
được chẩn đoán xác định bằng siêu âm khớp háng trước 3 tháng tuổi; chụp
XQ khớp háng khi trẻ ngoài 3 tháng tuổi
Đối với bàn chân, người khám cần lưu ý tư thế cả phần trước và sau của
bàn chân. Thông thường cung gan chân chưa hình thành lúc mới sinh, nhưng
nếu ở sơ sinh đã có cung gan chân rõ cần lưu ý tới những tổn thương tại hệ
thần kinh trung ương. Trẻ cần được kiểm tra cử động bàn chân bằng cách kích
thích dọc bờ ngoài bờ trong của bàn chân.
7
Trước khi sinh, hai háng gấp và xoay ngoài, khớp gối gấp và các bàn
chân bị xoay vào trong. Do vị trí của các chi trong tử cung, toàn bộ lực xoắn
có liên quan mật thiết với các tư thế này và trẻ mới sinh biểu hiện một vài
mức độ xoay ngoài của xương đùi, xoay trong xương chày và bàn chân
nghiêng trong.
Một vài tư thế nhất định khi ngủ và ngồi trong thời nhũ nhi cũng sẽ tác
động những lực tiếp tục lên các chân đang phát triển, điều này không những
sẽ ngăn cản sự tự điều chỉnh của cổ bàn chân, mà còn làm tăng biến dạng
xoắn vặn mới và những biến dạng chức năng của cổ bàn chân tồn tại mãi.
Giãn dây chằng bẩm sinh là tình trạng di truyền đặc biệt gây lên sự quá
ưỡn của khớp phải chịu tải trọng và sẽ gây những biến đổi cơ học và tạo nên
những quá tầm của giải phẫu cơ xương.
Kết hợp các yếu tố đó lại giúp cho chúng ta có thể hiển được sự biến
dạng chức năng và việc thăm khám cẩn thận là rất cần thiết trước khi kết luận
bất cứ một dị tật hoặc là tình trạng bất thường nào. Và chúng ta phải phân biệt
rõ sự khác biệt biến dạng chức năng và dị tật
Biến dạng chức năng cổ - bàn chân được phân làm 3 nhóm:
-
Biến dạng chức năng theo vị trí tư thế
-
Biến dạng về hình học (kích thước)
-
Biến dạng chức năng về giải phẫu do có sự xuất hiện của xương vừng ở cổ
bàn chân
thai kỳ. Bàn chân khoèo hiếm khi được phát hiện bằng siêu âm hình ảnh
trước tuần lễ thứ 16 của thai kỳ. Vì vậy, giống như loạn sản khớp háng và
vẹo cột sống tự phát, chân khoèo là một biến dạng theo sự phát triển.
10
5.1.2 Nguyên nhân và sinh bệnh học và dịch tễ học của bàn chân khoèo
Hippocrates [7] là người đầu tiên nghĩ rằng dị tật bàn chân khoèo là do
những áp lực bất thường trong tử cung bà mẹ mang thai tạo nên. Gần đây hơn,
Browne (1936) [7] là người đứng đầu ủng hộ cho quan điểm chính áp lực bất
thường trong tử cung có thể gây nên bàn chân khoèo. Lý thuyết này không
còn được đứng vững ở đầu thế kỷ 19 do một vài tác giả nhận thấy không thể
lý giải nguyên nhân do áp lực bất thường tử cung có thể gây nên sự đa dạng
tổn thương trong bàn chân khoèo. Little (1839) và Guérin (1839) [7] nghĩ
rằng bàn chân khoèo bẩm sinh là do tổn thương do liệt cơ co thắt bàn chân.
Adams (1873) cũng cho rằng trong một vài trường hợp bàn chân khoèo có
nguyên nhân là các cơ chế biến dạng méo mó [7]. Ketcs gặp 10 trong 196
trường hợp ông cho là có di truyền. Nutt (1925) cho rằng nguyên nhân bàn
chân khoèo là do bất thường và gen , thần kinh và xương. Stean (1958) tin
rằng bàn chân khoèo bẩm sinh là kết quả của chấn thương tổn thương sinh lý
học do stress trong ba tháng đầu của thai kỳ [7].
Một số tác giả khác nêu lên các yếu tố ngoại lai khác như: mức oxy thấp
trong máu, virus, vi sinh vật, loạn sản tủy, bại não, bệnh khớp bệnh thần kinh
cơ, bất thường nhiễm sắc thể, hội chứng Larsen… làm ảnh hưởng đến biến
dạng này [8].
Dị tật bàn chân khoèo được phát hiện và mô tả từ thời Ai cập cổ đại
(1000 năm trước công nguyên). Tần suất mắc dị tật bàn chân khoèo đã được
các y văn trên thế giới đề cập đến. Tất cả các tác giả đều mạnh mẽ khẳng định
tật bàn chân khoèo tiền sử gia đình liên quan đến 1/3 dị tật bàn chân và các dị
cứu của Asuquo và cộng sự (2015) với 53,7%. [12]
Theo một nghiên cứu dài 16 năm của tác giả Krogsgaard và cộng sự
(2006) gồm 936525 trẻ trên toàn bộ Đan mạch có kết luận tỉ lệ xuất hiện bàn
chân khoèo là 1,2/1000 trẻ sơ sinh sống. Trẻ trai có bàn chân khoèo nhiều gấp
2,2 lần so với trẻ gái. Tỉ lệ trẻ bàn chân khoèo kèm theo dị tật khác là 1,4%,
khá thấp với các kết quả nghiên cứu khác [13].
12
Nghiên cứu của Gurnett và cộng sự (2008) lại đề cập tới nguyên nhân
gây ra bàn chân khoèo. Mặc dù bàn chân khoèo thường vô căn, trong nghiên
cứu chỉ ra 76% các trường hợp bàn chân khoèo là vô căn, trong 24 trường hợp
tìm thấy căn nguyên thì 54% có liên quan tới tổn thương thần kinh trung
ương. [14]
Treadwell MC và cộng sự (1999) đã chẩn đoán dị tật bàn chân khoèo
trước khi sinh bằng siêu âm thấy tỉ lệ gặp là 4,3/1000 ca. [15]
Ở Việt Nam chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng ở Viện nhi trung
ương mỗi năm có khoảng 70 – 100 trẻ em có dị tật bàn chân khoèo tới khám
và điều trị trên tổng số 1500 trẻ đến điều trị tại khoa PHCN.
5.1.3. Các mức độ biến dạng bàn chân khoèo: Đánh giá mức độ biến dạng
bằng điểm Pirani [6]
Cơ sở đánh giá
Bác sỹ Pirani đã lập ra một phương pháp chắc chắn và hợp lý để
đánh giá độ biến dạng trên lâm sàng đối với trẻ dưới 2 tuổi có biến dạng
chân khoèo bẩm sinh chưa phẫu thuật. Sự đánh giá này có cơ sở khoa học
vì có sự đo lường chắc chắn và hợp lý.
Đánh giá mức độ biến dạng cho phép người điều trị (đặc biệt là những
người chưa có kinh nghiệm) biết mình đang ở đâu trên lộ trình điều trị, biết
khi nào phẫu thuật cắt gân được chỉ định, và để khẳng định với gia đình
Hình 4. Tính điểm ở phần sau bàn chân
Sử dụng thang điểm Pirani
Tính điểm: Bàn chân khoèo theo cách thức điều trị Ponseti được tính
điểm mỗi tuần cho HS, MS và điểm tổng.
Lập đồ thị: Lập sơ đồ điểm trên đồ thị, dựa vào đường biểu diễn để
biết tình hình bàn chân đang ở đâu trên lộ trình điều trị, cha mẹ trẻ cũng có
thể dễ dàng nhìn thấy được sự tiến bộ (đồ thị A trang đối diện).
Phẫu thuật cắt gân: được chỉ định khi HS>1, MS< 1, và đầu xương
sên bị che phủ.
Điều trị bàn chân khoèo theo phương pháp posetti đã được công nhận
hiệu quả và phổ biếu trên toàn thế giới cho can thiệp bàn chân khoèo
15
Hình 5. Sử dụng thang điểm Pirani
5.2. Bàn chân bẹt
Hình 6. Hình ảnh bàn chân bẹt [16]
5.2.1 Lịch sử nghiên cứu và dịch tễ học bàn chân bẹt
Bàn chân bẹt được đề cập từ hàng trăm năm trước đây, theo truyền thống
người có cung gan chân cao là được coi là tốt – một dấu hiệu quý tộc, đức
hạnh và hạnh phúc. Cung gan chân thấp hoặc không có cung gan chân được
coi là dị dạng, một dấu hiệu của tình trạng sức khỏe yếu kém, và một tình
trạng cần được điều trị. Quan điểm này xuất phát từ đầu thế kỷ 18 do bác sĩ
Andry và các đồng nghiệp. [17] Andry yêu cầu tất cả các trẻ sơ sinh có bàn
chân bẹt cần được chỉnh hình để tạo vòm dự phòng bàn chân bẹt khi trưởng
thành. [17]
Mặc dù dị tật bàn chân bẹt thường là lý do bố mẹ đưa trẻ đi khám nhưng
chân bẹt ở tuổi mầm non là sấp sỉ 45% còn ở trẻ lớn hơn là 15%. Bàn chân
17
bẹt gặp ở trẻ béo phì cao hơn trẻ có cân nặng cân đối gấp 3 lần được rất nhiều
tác giả đưa ra trong các nghiên cứu về bàn chân bẹt [21], [22]
5.2.2 Sinh bệnh học bàn chân bẹt
Trong y văn có hai giả thuyết giải thích cho sự hình thành của bàn chân
bẹt linh động. Duchenne, Jones [23] và một tác giả tin rằng sự duy trì cung
gan chân dựa vào sức mạnh của cơ. Tuy nhiên, Basmajian và Stecko thì lại tin
rằng cung gan chân hình thành dựa trên phức hợp gân và dây chằng cổ bàn
chân [16]. Họ cung cấp bằng chứng cho thấy các cơ hoạt động để duy trì sự
cân bằng, đẩy cơ thể về phía trước và điều chỉnh bàn chân phù hợp với địa
hình không bằng phẳng nhưng không xác định được hình dáng của bàn chân.
5.2.3. Phân loại bàn chân bẹt
Dựa trên nghiên cứu các binh lính người Canada, Harris và Beath chia
bàn chân bẹt thành ba loại [18]
- Bàn chân bẹt linh động: loại này chiếm hai phần ba bàn chân bẹt, có
đặc điểm là tầm vận động của khớp cổ bàn chân hoàn toàn bình thường và
không có triệu chứng và độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt. Loại này không
cần can thiệp gì hoặc có thể cho đi giày có miếng lót hỗ trợ tạo vòm.
- Bàn chân bẹt linh động với gân Achile ngắn: loại này chiếm 27% tổng
số bàn chân bẹt với đặc điểm là hạn chế gập mặt mu cổ chân. Bệnh nhân có
bàn chân này thường có đau kèm theo. Điều trị cho bàn chân bẹt loại này gồm
giày chỉnh hình, kéo giãn gân Achile và tập mạnh cơ chày trước
- Bàn chân bẹt đóng cứng: chiếm chưa tới 9% trong tổng số ca bàn chân
bẹt. Loại này thường liên quan tới dị tật cổ chân đóng cứng và có triệu chứng
đau rõ rệt kèm theo hạn chế mọi tầm vận động của cổ bàn chân. Loại này nếu
chức năng bị ảnh hưởng nhiều thường chỉ định phẫu thuật chỉnh hình.
trong thực tế. Bởi có rất nhiều cổ chân đóng cứng không có triệu chứng và
khối dính cổ chân không phải kết dính xương – xương bị bỏ sót trên XQ và
trong khám xét lâm sàng. Các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh hiện đại và giải
phẫu bệnh tử thi có đưa ra tần xuất gặp cao hơn nhiều, khoảng 13% [26].
Trước khi sự ra đời CT, MRI, nghiên cứu giả phẫu bệnh trên tử thi của
Pfitzner (520 đối tượng, năm 1896) được coi là đại diện chính xác nhất của tỉ
lệ xuất hiện thực cổ bàn chân đóng cứng trong cộng đồng với tỉ lệ 6% [26].
Nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh gần đây của Lysack và Fenton [27] đưa ra tỉ
lệ cổ chân đóng cứng là 5,6%. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tỉ lệ cổ
chân đóng cứng cả hai chân chiếm từ 50% - 68% các trường hợp.
Cổ chân đóng cứng thường phân bố đều hai giới. Tuy nhiên có một vài
nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ có nhỉnh hơn ở nam giới. Conway và Cowell đưa ra kết
luận đàn ông bị cổ chân đóng cứng gấp 4 lần phụ nữ [28]. Menz và cộng sự thì
ghi nhận số ca phẫu thuật cổ chân đóng cứng ở nam gấp 1,5 lần ở nữ giới [29].
20
5.3.2 Cơ chế sinh bệnh cổ chân đóng cứng
Cổ chân đóng cứng có thể là bẩm sinh hoặc thứ cấp sau chấn thương,
phẫu thuật, viêm khớp, nhiễm trùng và chứng tăng sinh mạch [30], [31]. Theo
Leboucq (1809), phần lớn các cổ chân đóng cứng (đặc biệt đóng cứng khối
gót - ghe) là bẩm sinh. Các khối đóng cứng được cho là thất bại của việc tách
biệt và phân chia trong thời kì bào thai [24]. Cổ chân đóng cứng có tính chất
di truyền nhưng di truyền biến đổi chứ không đồng nhất giữa các cá thể [32].
Các cổ chân đóng cứng cũng liên quan đến các rối loạn bẩm sinh khác, bao
gồm dị tật khuyết xương mác, dị tật các ngón có màng, đa khớp đóng cứng
bẩm sinh, hội chứng Apert, và hội chứng Nievergelt-Pearlman [41], [42].
5.3.3 Phân loại cổ chân đóng cứng
Cổ chân đóng cứng được phân loại theo hình thái học là xương hay sụn
Hình 8. Bàn chân trẻ sơ sinh có tật xương sên thẳng trục [37]
A: Bàn chân trước bị dạng, B: Phần trước và giữa bàn chân bẹt và gập lòng
Dị tật xương sên thẳng trục bẩm sinh là rối loạn bàn chân bẹt đóng cứng
có đặc trưng phần sau bàn chân vẹo ngoài và thuổng, phần giữa bàn chân gập
mặt lòng và phần trước bàn chân dạng do xương ghe bị lạc vị trí xuống dưới
trước mặt lưng xương sên. Dị tật này không phải luôn luôn được phát hiện
ngay sau sinh bởi sự khó khăn khi chẩn đoán phân biệt với các dị tật tư thế
khác [38]. Nếu không được điều trị xương sên thẳng trục có thể dẫn tới
khuyết tật đáng kể bao gồm đau chân và mắt cá cũng như sự hình thành dạng
dày sừng ở phần da phía trong lòng bàn chân xung quanh vùng phóng chiếu
của xương sên [39], [40]. Phẫu thuật chỉnh trục là lựa chọn cơ bản để dự
22
phòng các biến chứng ngắn hạn và dài hạn của xương sên thẳng trục [41].
Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu phát triển cách đây một thập kỷ đã chứng minh
thành công trong chỉnh hình đồng thời cũng trách được xâm phạm quá rộng
mô mềm trong phẫu thuật [47], [51], [52], [53].
5.4.1 Dịch tễ học xương sên thẳng trục
Mặc dù tỷ lệ hiện mắc chính xác của xương sên thẳng trục vẫn chưa
được biết đến nhưng tỉ lệ hiện có ước tính là 1 trong 10.000 trẻ sinh sống [45].
Con số này được đánh giá là quá thấp so với thực tế do thiếu hụt chẩn đoán
lúc sơ sinh. Hơn nữa tình trạng này rất hiếm, thiếu hụt nhiều nghiên cứu làm
cho khó xác định liệu có tương đồng giữa hai giới hay sự theo dõi dọc của
biến dạng này hay không. Việc thu nhập thông tin về dạng dị tật này trong các
nghiên cứu lớn và đa trung tâm là điều cần nhấn mạnh vì dự liệu rất cần thiết
để xác định.
5.4.2. cơ chế sinh bệnh xương sên thẳng trục
Cần lưu ý rằng các hệ thống phân loại hiện tại cố gắng xác định xương
sên thẳng chục ít dựa trên khám lâm sàng so sánh với hình ảnh xq [48], [49]
và việc điều trị cũng không nhất quán. Vì vậy chẩn đoán hạn chế gấp mặt mu
(được xác định là không có khả năng gấp mặt mu thụ động đạt được 10° với
đầu gối gập) kèm theo có chẩn đoán xương sên thẳng trục trên XQ sẽ có chỉ
định chỉnh hình [37].
6. Bàn chân trước khép
6.1 Lâm sàng bàn chân trước khép
Bàn chân có hình hạt đậu, bờ ngoài bàn chân con lồi, sờ thấy đầu gần
của xương đốt bàn 5 ở bờ ngoài, phần trước bàn chân khép và có thể
nghiêng trong, ngón 1 lệch hẳn vào trong, cử động khớp cổ chân và phần
sau bàn chân bình thường. Toàn bộ biến dạng bàn chân khép trước là trên
mặt phẳng ngang.
6.1.1 Nghiệm pháp ngón tay chữ V [50]
Nghiệm pháp ngón tay chữ V có thể được coi là nghiệm pháp sàng lọc khởi
đầu bàn chân trước khép.
24
Trong nghiệm pháp này, ta sử dụng hai ngón tay trở và giữa, tay trái khám
chân trái, tay phải khám chân phải. Gót chân nằm kẹp giữa hai ngón tay, bở trong
của bàn chân dựa vào ngón tay trỏ, bờ ngoài của bàn chân ở bên cạnh ngón giữa
bàn tay, bàn chân trước khép có đặc điểm bờ ngoài bàn chân không tiếp xúc chạy
dọc ngón tay giữa, thấy khoảng cách phần ngón chân và đầu ngón tay giữa
Hình 9. Nghiệm pháp ngón tay chữ v phát hiện bàn chân trước khép [50]
6.1.2 Nghiệm pháp đường chia gót chân [50]
Nghiệm pháp đường chia đôi góc chân được tiến hành bằng cách kẻ một
đường thẳng đi qua phần chính giữa của góc chân, thông thường đường thẳng
BCTK nặng: khi đường chia đôi gót đi qua vùng giữa ngón 4 và
ngón 5.
o
Phân loại bàn chân trước khép theo tính linh động hay đóng cứng của
BCTK
BCTK kiểu 1: phần trước bàn chân linh động và có thể vận động thụ
động hoặc chủ động dạng nghiêng ngoài quá đường giữa.