1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng sức khỏe và bệnh tật của trẻ em là tấm gương phản ánh
khách quan điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa chính trị của mỗi quốc gia nói
chung và Việt Nam nói riêng . Đối với ngành y tế, để có được thông tin cần
thiết đánh giá được tình trạng sức khỏe, sự thay đổi bệnh tật qua từng thời kỳ,
đồng thời đánh giá được các biện pháp đã can thiệp, việc nghiên cứu mô hình
bệnh tật là rất quan trọng đặc biệt là mô hình bệnh tật ở trẻ em. Xác định được
thay đổi mô hình bệnh tật trẻ em qua các thời kì đã tạo cơ sở đánh giá hiệu
quả cho các phương pháp điều trị từ đó đề ra chiến lược chăm sóc sức khỏe
ban đầu, chiến lược y tế phù hợp, hỗ trợ cho công tác quản lý, tổ chức của Bộ
Y tế nói chung và trong từng bệnh viện nói riêng. Mô hình bệnh tật trẻ em có
sự thay đổi và phân hóa rõ rệt ở các nước phát triển và đang phát triển . Nhìn
chung, ở nước ta trong những năm trở lại đây theo GS Nguyễn Thu Nhạn, mô
hình bệnh tật ở trẻ em có sự thay đổi, biến chuyển rõ rệt. Các bệnh nhiễm
khuẩn, tiêu chảy cấp, suy dinh dưỡng có xu hướng giảm dần, trong khi đó các
bệnh không lây như béo phì, tim mạch, dị tật bẩm sinh, bệnh thần kinh tâm
thần như tự kỷ bắt đầu xuất hiện ngày càng có xu hướng gia tăng . Đối với
YHCT, mô hình bệnh tật cũng có nét đặc trưng riêng, tuy nhiên song song với
YHHĐ thì các bệnh tâm thần, thần kinh như bại não, tự kỷ, di chứng viêm
não… cũng dần xuất hiện ngày một nhiều và có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo thống kê về mô hình bệnh
Nhi tại các bệnh viện Đa khoa như khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai [2], Bệnh
viện Thanh Nhàn [3]... Nhưng công trình nghiên cứu, báo cáo hệ thống về mô
hình bệnh nhi trong các bệnh viện YHCT còn rất ít. Do đó, việc nghiên cứu
2
Năm 2002, ở Brunei nước có bình quân đầu người cao thứ 10 thế giới,
đạt 48,333USD/năm, đầu tư rất nhiều cho phát triển y tế, thì trong 10 bệnh
hàng đầu hay gặp chỉ có 1 bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, còn lại chủ yếu
là các bệnh tim mạch tiểu đường, hen, … (các bệnh không lây). Ngược lại
ở Campuchia một nước nghèo, thu nhập bình quân 1000 USD/năm các
bệnh thường gặp lại là sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm
khuẩn hô hấp cấp… là các bệnh truyền nhiễm còn phổ biến ở các nước
đang phát triển [4].
Cũng là các vùng lãnh thổ của Trung Quốc nhưng mô hình bệnh tật ở
Hồng Công và Ma Cao có sự khác biệt rõ rệt. Hồng Kông trước năm 1997 là
thuộc địa của Anh có mức sống cao, nên mô hình bệnh tật gần giống của các
nước phát triển. Ở Hồng Kông, trong 5 bệnh hàng đầu chỉ có 2 bệnh là bệnh
nhiễm trùng là viêm đường hô hấp cấp và bệnh da. Ngược lại ở Ma Cao, cả 5
bệnh hàng đầu đều là bệnh lây: lao, viêm gan B, C, nhiễm HIV…[4]
Từ năm 1974, văn phòng của Tổ chức Y tế thế giới ở Tây Thái Bình
Dương đưa ra thống kê định kỳ về mô hình bệnh tật và tử vong nói chung của
trẻ em nói riêng, cùng với tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu
người, ngân sách đầu tư cho y tế, chiến lược phát triển y tế… của 35 quốc gia
và vùng lãnh thổ. Điều này giúp cho việc nghiên cứu mô hình bệnh tật có hệ
4
thống, dễ dàng so sánh giữa các quốc gia có thu nhập đầu tư cho y tế khác
nhau [4].
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ở các nước phát triển, bệnh nhiễm khuẩn và
suy dinh dưỡng còn phổ biến, tuy nhiên các bệnh này có xu hướng ngày càng
giảm. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các nước châu Á giảm từ 51% trước năm 1980
xuống dưới 20% những năm cuối thập niên 90. Các bệnh không lây như tim
mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh, di truyền, chuyển hóa, béo phì … có xu hướng
chiếm 18 – 19%, tiêu hóa, sơ sinh tùy theo từng năm, sau đó đến các bệnh
nhiễm trùng [6].
Nghiên cứu mô hình bệnh tật trẻ em điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa
khoa Uông Bí và Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn của Đinh Công Minh
(2002) cho kết quả: ở bệnh viện đa khoa Uông Bí, các bệnh hô hấp chiếm
tỷ lệ hàng đầu 36,4%, các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật đứng thứ 2
chiếm 14,3%, bệnh tiêu hóa chiếm 8,3%, bệnh chu sinh 8,1%, bệnh chấn
thương, ngộ độc chiếm 4,9%. Với Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, mô hình
bệnh tật cũng tương đương Bệnh viện đa khoa Uông Bí, bệnh hô hấp chiếm
41,4%, bệnh nhiễm khuẩn chiếm 18,9%, chấn thương ngộ độc chiếm 8,8%,
bệnh tiêu hóa chiếm 5,3%. [7]
Nghiên cứu của Võ Phương Khanh về mô hình bệnh nhi đến khám tại
viện Nhi Đồng 2 cho thấy: năm 1995 bệnh đường hô hấp chiếm 38,9%, bệnh
nhiễm khuẩn chiếm 37,1%, bệnh tiêu hóa chiếm 6,8%, bệnh tiết niệu – sinh
dục chiếm 2,8%. Tới năm 2007 bệnh hô hấp chiếm 39,9%, bệnh nhiễm khuẩn
chiếm 28,2%, bệnh tiêu hóa chiếm 8,9%, bệnh bẩm sinh chiếm 4,3% [8]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiên về mô hình bệnh tật tại khoa Nhi
Bệnh viện Châm cứu trung ương (2012) cho thấy: những mặt bệnh nổi bật là bại
não 79,6%, di chứng viêm não 7,4%, liệt VII ngoại biên 2,9%, còn lại là các mặt
bệnh khác [9].
6
1.2. Tổng quan về ICD 10
1.2.1. Cấu trúc của ICD-10
ICD – 10 được chia thành 21 chương [10] [11]
• Chương I
: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng.
- ……
- Nhóm 21: Bệnh nhiễm khuẩn khác
1.2.3. Cấu trúc một nhóm trong mỗi chương
Trong mỗi nhóm bao gồm các bệnh:
Ví dụ: Thiếu máu dinh dưỡng:
- Thiếu máu do thiếu sắt.
- Thiếu máu do thiếu Vitamin B12.
- Thiếu máu do thiếu acid Folic.
- Thiếu máu do dinh dưỡng khác.
1.2.4. Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm
Mỗi bệnh phân loại chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc
trưng của bệnh đó.
Ví dụ: Lỵ trực khuẩn (A03) được phân thành:
- Lỵ trực khuẩn do Shigella dysenteria (A03.0).
- Lỵ trực khuẩn do Shigella flexneri (A03.10).
-…
- Nhiễm Shigella, không xác định và lỵ trực khuẩn KXĐK (A03.9).
1.2.5. Bộ mã ký tự
Gồm 25 chữ cái từ A đến Z, trừ chữ U không sử dụng
8
- Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh.
- Ký tự thứ 2 (số thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh.
- Ký tự thứ 3 (số thứ hai) mã hóa tên bệnh.
- Ký tự thứ 4 (số thứ ba) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay
tính chất đặc thù của bệnh.
Giữa ký tự thứ 3 và 4 có 1 dấu thập phân (.).
Ví dụ: Di chứng viêm não do virus viêm não Nhật Bản B: A83.0
rất hiệu quả trong lâm sàng phải tận dụng ưu thế này.
- Điều trị cần kịp thời, dùng thuốc phải thận trọng.
1.3.2. Điều trị không dùng thuốc
Phương pháp Châm cứu:
Là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của nền YHCT
phương Đông, là tên gọi chung của 2 phương pháp châm và cứu được nhiều
nước trên thế giới áp dụng điều trị điển hình là Trung Quốc. Riêng tại Việt
Nam Châm cứu được coi là phương pháp phòng và chữa bệnh hiệu quả được
áp dụng từ thời xưa, được nhắc nhiều đến trong các tác phẩm “Y tông tâm
lĩnh”, “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông. Châm cứu
truyền thống có thể châm, hào châm, trên cơ sở thừa kế phương pháp châm
cứu hiện đại, quá trình chữa bệnh, các nhà thực hành đã sáng tạo ra nhiều
phương pháp mới như: đầu châm, diện châm, nhĩ châm, tỵ châm, thủ châm,
túc châm [13]. Một số kỹ thuật châm mới:
Điện châm:
Là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng của châm cứu (YHCT) với
phương pháp chữa bệnh của dòng điện (YHHĐ) qua máy điện châm (là loại
máy phát ra dòng điện 1 chiều hoặc dòng điện xung, có nhiều đầu kích thích,
tính năng ổn định an toàn, điều chỉnh thao tác dễ dàng, tác dụng làm dịu đau,
10
ức chế cơn đau điển hình, kích thích hoạt động các cơ, tăng cường dinh
dưỡng, giảm xung huyết phù nề tại chỗ.
11
Thủy châm :
Là phương pháp người làm xoa bóp dùng đôi tay của mình để thực hiện
một số động tác xoa bóp nhằm làm dịu cơn đau, mỏi mệt… cho người bệnh.
Xoa bóp ở nước ta được áp dụng từ lâu đời, từ thời Hồng Bàng dựng nước
đến thời Tuệ Tĩnh trong cuốn Hồng nghĩa giác tư y thư hay trong Vệ sinh yếu
quyết của Hải Thượng Lãn Ông, đến năm 1962 do Bác sĩ Hoàng Bảo Châu
phụ trách chuyên điều trị các bệnh như: đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp
vai, di chứng bại liệt, viêm gân, suy nhược thần kinh. Hiện nay, xoa bóp gồm
3 loại hình: xoa bóp điều trị 1 số chứng bệnh (cấp và mạn tính), xoa bóp thẩm
mĩ (làm đẹp da, giảm béo…), xoa bóp để phòng một số bệnh và nâng cao sức
khỏe. Với các thủ thuật: xoa, xát, day, ấn, miết, phân, hợp, véo, bấm, điểm,
bóp, đấm, chặt, lăn, phát, rung, vê, vờn, vận động.
1.3.3. Điều trị dùng thuốc
Trong quá trình hình thành và phát triển YHCT Việt Nam việc dùng
thuốc là phương pháp chữa bệnh quan trọng, ngay từ thời kỳ phong kiến kinh
nghiệm chữa bệnh được tổng kết lại, dần xây dựng mối quan hệ điều trị với lý
luận và kinh nghiệm sử dụng thuốc. Ở nước ta, nổi bật lên là Danh y Tuệ Tĩnh
cuối đời Trần được suy tôn là “Vị thánh thuốc nam” với “Hồng nghĩa giác tư
y thư” và “Nam dược thần hiệu”, kế thừa Tuệ Tĩnh là Danh y Lê Hữu Trác với
bộ “Hải thượng y tông tâm lĩnh”. Ngày nay, những bài thuốc được nghiên cứu
và ứng dụng mạnh mẽ trên lâm sàng tạo ra nhiều chế phẩm, các dạng thuốc
khác nhau như: thuốc sắc, thuốc tán, thuốc hoàn, cao thuốc, rượu thuốc, thuốc
đan, chè thuốc, cốm thuốc, siro thuốc, thuốc viên, thuốc mỡ, cao dán… có
thể được dùng bằng cách uống hay dùng ngoài.
Đối với trẻ em thể chất còn non yếu, “trĩ âm, trĩ dương”, tạng phủ chưa
vững chắc, dùng thuốc phải đúng quy định, liều lượng phải thận trọng. Những
vị thuốc quá hàn, quá nhiệt, quá cay, có độc, công phạt mạnh, lúc sử dụng
càng phải thận trọng. Cổ nhân nói “thuốc đắng lạnh thường làm tổn thương
sinh khí, thuốc cay nóng làm hao tổn chân âm. Thuốc công phạt quá mạnh
làm hại tỳ vị, hao kiệt chân nguyên”. Với trẻ em, dạng thuốc sử dụng nên tinh
Bệnh viện có 28 khoa phòng, 5 trung tâm được chia thành ba khối: lâm sàng, cận
lâm sàng và các khối phòng ban chức năng. Sơ đồ tổ chức của bệnh viện như sau:
14
BAN GIÁM ĐỐC
Giám đốc
Phó GĐ
Khối phòng chức năng
Phó GĐ
Khối lâm sàng
Phòng Điều dưỡng
Khoa Nội
Phòng Vật tư – kỹ thuật
Khoa Lão
Phòng Tổ chức cán bộ
Khoa Phụ
Phòng Tài chính – kế toán
Khoa Thận nhân tạo
Khoa Dinh dưỡng
Trung tâm kỹ thuật cao
Khoa Đa khoa ngũ quan
Khoa Hồi sức cấp cứu
Khoa Châm cứu dưỡng
sinh
Trung tâm nghiên cứu và
điều trị bệnh lý cột sống
Khoa Khám chữa bệnh tự
nguyện chất lượng cao
Khoa Kiểm soát & Điều
trị ung bướu
Trung tâm sản xuất
thuốc YHCT
15
1.4.3. Vài nét về khoa Nội - Nhi
Khoa Nội – Nhi là một trong 15 khoa và trung tâm, trực thuộc khối lâm sàng.
Khoa được thành lập năm 1967 và kế thừa nhiều kinh nghiệm chữa bệnh nhi
khoa và áp dụng điều trị có hiệu quả. Những ngày đầu thành lập, Khoa đã tham
gia nghiên cứu và điều trị chủ yếu cho trẻ em viêm não. Sau đó thừa kế kinh
nghiệm chữa suy dinh dưỡng của lương y Nguyễn Trọng Cầu, chữa tiêu chảy
kéo dài của lương y Nguyễn Đình Tích… nên mặt bệnh cũng mở rộng và dần
thay đổi theo. Các đối tượng khám và điều trị tại Khoa đã chuyển dần sang suy
dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư, viêm khớp
mạn tính thiếu niên …
thể chất còn non yếu, tỳ vốn bất túc. Ăn uống thất thường, ốm đau nhiều lần,
dùng thuốc tả hạ không đúng hoặc mẹ thiếu kinh nghiệm nuôi dưỡng làm
chính khí trẻ càng giảm sút, tỳ vị bị tổn thương. Công năng tỳ vị bị rối loạn,
thức ăn không tiêu, tích trệ lại thành chứng cam. Chủ chứng của chứng cam:
trẻ gầy róc, bụng chướng to, ăn uống kém (tương đương bệnh SDD của
YHHĐ). Tiết là số lần đại tiện nhiều, phân loãng, nặng thì như nước , tả là
phân lỏng loãng, ỉa gấp như nước dốc xuống. Bệnh chủ yếu ở tỳ vị và đại
trường. Nguyên nhân là do ngoại cảm (hàn thấp, thấp nhiệt,…) hoặc do ăn
nhiều thức ăn sống lạnh, ngọt béo khó tiêu hoặc tỳ vị tổn thương, cũng có thể
thận dương hư hay mệnh môn hỏa suy làm công năng vận hóa thủy cốc của tỳ
vị bị trở ngại, sự thăng thanh giáng trọc mất bình thường mà gây bệnh [12].
Kinh giản: kinh là kinh phong, giản là điên giản. Hai chứng này có
phân biệt nhưng đều có chứng hậu giống nhau như thần trí không tỉnh táo, vật
vã co giật, đờm ủng khí nghịch… Chu Đan Khê cho rằng: Điên giản là do vật
bên ngoài kích thích tới đến nỗi thần bị kinh hãi, khí kết ở tâm mà sinh ra
đờm. Đờm ủng thời khí nghịch kết thành co giật. Mắt miệng méo xệch, miệng
17
sùi bọt dãi. Một lúc lại tỉnh bình thường như chưa có gì xảy ra. Hoặc ngày
phát một lần, hoặc ngày phát vài lần. Hoặc 3 – 5 ngày phát một lần. Hoặc mỗi
tháng phát một lần. Hoặc nửa năm phát một lần. Nếu không chữa ngay sẽ biến
thành bệnh giản. Phép chữa nên trước phải lợi đờm thuận khí, sau đó mới
thanh tâm an thần. Còn như kinh phong, hoặc do ngoại cảm phong hàn, hoặc
do nội thương ăn uống, đến nỗi nhiệt từ trong sinh ra, do nhiệt mà sinh đờm,
do đờm mà sinh co giật, chứng trạng là miệng mắt méo lệch, chân tay run, khí
suyễn, chảy rãi miệng sùi bọt, lúc đầu thời tỉnh, nóng cơn không lui, chốc lại
tái phát . Phép chữa nên hạ hỏa khai đờm, tiếp theo là thanh nhiệt an thần.
Kinh phong tương đương với sốt cao gây co giật, điên giản tương đương với
chứng ngũ nhuyễn là phải bổ can, thận, tỳ [17].
Di chứng ôn bệnh (di chứng viêm não): bệnh thường phát vào mùa
hè nên còn thuộc thử ôn. Đó là thứ nhiệt cực thịnh, gây sốt cao tổn thương tân
dịch mạnh. Bệnh diễn biến nhanh qua phần vệ khí, vào phần huyết làm can
huyết hư sinh phong gây co giật, gọi là thử phong hay thử kinh. Nhiệt nhập
tâm bào, bế tâm khiếu, sinh hôn mê. Nhiệt cực sinh hàn, chân tay giá lạnh, tuy
thân mình vẫn nóng gọi là thử quyết. Trường hợp nặng, ở giai đoạn huyết kéo
dài, thử làm tân dịch và khí bị hại nặng, cô thấp thành đàm, tắc trở kinh lạc và
đường thanh khí, nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng thần kinh tâm trí, giai
đoạn sau của ôn bệnh sử dụng châm cứu và xoa bóp là những phương pháp
được khẳng định có hiệu quả rõ rệt nhất là giai đoạn trẻ rối loạn ý thức, phải
phục hồi chức năng thụ động [12].
Khẩu nhãn oa tà (liệt VII ngoại biên): Thuộc phạm vi chứng trúng
phong kinh lạc của YHCT. Bệnh do phong hàn, phong nhiệt, huyết ứ ở kinh
lạc đặc biệt là các kinh dương ở mặt làm cho kinh lạc bị bế tắc, khí huyết
không lưu thông khiến mặt lệch, miệng méo về bên lành, mắt bên liệt nhắm
19
không kín, khó thổi lửa, huýt sáo, thức ăn đọng lại má bên liệt, nhân trung
lệch về bên lành, rãnh mũi má bên liệt mờ hoặc mất…
Di niệu: là tình trạng trẻ trên 3 tuổi đêm ngủ còn đái ra quần, lúc tỉnh
dậy mới biết. Do tiên thiên bất túc hoặc hậu thiên bất điều, đến nỗi thận
dương không đủ, hạ nguyên hư lạnh sinh ra đái dầm. Thận chủ bế tàng, khai
khiếu ở tiền âm, hậu âm, có chức năng điều khiển đại tiểu tiện. Bàng quang
chủ tàng chữ tân dịch, có công năng hóa khí lợi thủy, khiến cho tiểu tiện đúng
giờ. Nếu thận và bang quang đều hư, không chế ước được đường nước sẽ gây
đái dầm [12].
Phong chẩn: tương ứng với bệnh sốt phát ban, đây là một bệnh
trị, tình hình sử dụng thuốc nói chung
Thông kê kết quả điều trị chung của khoa
Kết quả
21
2.3. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
* Phương pháp thu thập thông tin:
- Nghiên cứu hồi cứu tất cả các bệnh án ra viện của các bệnh nhi điều trị
nội trú tại khoa Nội – Nhi BV YHCTTƯ có thời gian vào viện từ 1/1/2010
đến 31/12/2014.
- Số liệu thu thập tại phòng kế hoạch tổng hợp.
* Công cụ thu thập thông tin:
- Mẫu bệnh án nhi khoa YHCT do Bộ Y tế ban hành.
- Thông tin của mỗi bệnh nhi được thu thập theo phiếu nghiên cứu thiết
kế sẵn.
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Nhập liệu bằng phần mềm ePIDATA 3.1
- Phân tích số liệu bằng phần mềm stata 12 và Excel
- Quản lý tài liệu tham khảo bằng phần mềm EndNote X7
- Số liệu sau khi phân tích được trình bày dưới dạng bảng, biểu, đồ thị
của Excel và Word
2.5. Chỉ số nghiên cứu
2.5.1. Các đặc điểm dịch tễ, hành chính
- Ghi nhận các đặc điểm về tuổi, giới, dân tộc, vùng miền
+ Tuổi: tính theo tuổi dương lịch dựa vào ngày tháng năm sinh ghi trong
giấy khai sinh đính kèm bệnh án
+ Giới: Nam/nữ
• Tự kỷ
• NKHH cấp tính
• SDD
23
• RLTH
• Sốt virus
• Sốt phát ban
• Các bệnh khác
- Chẩn đoán theo YHCT: gồm các chứng:
• DC ôn bệnh
• Ngũ trì, ngũ nhuyễn
• Khẩu nhãn oa tà
• Di niệu
• Á khẩu
• Khái thấu
• Phong chẩn
• Các chứng khác
2.5.3. Điều trị
- Thông tin về tỷ lệ sử dụng các phương pháp điều trị: YHCT kết hợp
YHHĐ, YHCT đơn thuần và YHHĐ đơn thuần.
- Thông tin sử dụng các biện pháp không dùng thuốc: điện châm, thủy
châm, XBBH, cứu, cấy chỉ, chiếu đèn hồng ngoại.
- Thông tin dùng các loại thuốc YHHĐ: phân theo các nhóm kháng sinh,
NSAID, vitamin, giãn cơ, bổ thần kinh, an thần kinh, chống động kinh, các
nhóm khác theo các đường: uống, tiêm, truyền, đặt hậu môn, khác
- Thông tin sử dụng các dạng thuốc YHCT: gồm các dạng: thuốc thang,
cao nước, hoàn, bột, chè, cốm, cao dán, dùng ngoài.