CƠ sở lý LUẬN QUẢN lý HOẠT ĐỘNG GIÁO dục kỹ NĂNG hợp tác CHO học SINH TRUNG học cơ sở - Pdf 56

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ


Tổng quan về nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu trên thế giới
Dạy học hợp tác là ý tưởng đã có từ rất lâu đời. Người
Do Thái cho rằng muốn học một điều gì cũng cần phải hợp
tác với nhau, để lĩnh hội được nội dung kinh Talmud mỗi
người học phải có 3 thứ: một bản kinh Talmud, một thầy dạy
và một bạn học.
Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho
rằng người học sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu
cho người khác cùng hiểu. Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amôt
Komenxki (1592 - 1670) tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc
dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình... Các nhà giáo dục
tiên tiến đều đã nói đến lợi tích của việc HTHT, HS học với
nhau, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập
thuậnlợi.
Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và
Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm
nhỏ, họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động. Thông
qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ,


giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học
tập tốt.
Ý tưởng HTHT được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ
và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những
nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker,

đó, nhiều nhà giáo dục cũng bắt đầu tìm kiếm những con
đường giáo dục để cải thiện quan hệ chủng tộc trong môi
trường lớp học.
Trong những năm 70 của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên
cứu đã thành lập nhóm “nghiên cứu hành động” để thiết kế
các phương pháp sư phạm trên cơ sở các mối quan hệ tương
tác giữa các cá nhân trong lớphọc.


Tại hội nghị quốc tế đầu tiên về HTHT tại Israel vào năm
1979, David Johnson; Elliot Aronson; Richard Schmuck và
Larry Sherman đã đưa ra giải pháp “Hợp tác học tập”. Họ đã
trình bày bản chất, đặc điểm, cấu trúc, nguyên tắc của HTHT,
học tập cá nhân, học tranh đua và đã chỉ ra ưu, nhược điểm của
từng cấu trúc của HTHT. Đặc biệt, chỉ rõ muốn học tập tốt học
sinh phải có KNHTHT đồng thời chứng minh rằng HTHT góp
tích cực vào sự hội nhập giữa học sinh da đen và da trắng.
Nổi bật, các nhà nghiên cứu như: Johnson (et al, 1981);
Sharan (1990); Slavin (1995) là đã chỉ ra 5 yếu tố chính trong
cấu trúc DHHT: Sự phụ thuộc lẫn; Trách nhiệm cá nhân;
Tương tác mặt đối mặt; Nhóm không đồng nhất; Kỹ năng xã
hội.
Tính đến năm 1992, nghiên cứu việc giảng dạy và học
tập hợp tác đã thực hiện trên 200 trường đại học và cao đẳng.
Astin đã rút ra kết luận rằng: sự tương tác giữa người học với
nhau và giữa người dạy với người học là những cơ sở rõ ràng
nhất để có thể dự đoán được những thay đổi tích cực về quan
điểm nhận thức trong HS đại học và cao đẳng.



hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy cần phải tổ
chức cho học sinh học tập hợp tác theo nhóm.
Đã có công trình nghiên cứu đề tài cấp bộ “Cải tiến tổ
chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác” [4]do
Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm đã làm rõ khái niệm DHHT
và vận dụng mô hình học tập hợp tác ở trườngTHCS.
Nguyễn Hữu Châu trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về
chương trình và quá trình dạy học” đã đề cập đến DHHT chỉ
ra DHHT là sử dụng nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng
nhau nhằm phát huy tối đa kết quả học tập của bản thân. Ông
cho rằng: HTHT phức tạp hơn học cá nhân, các thành viên
phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu


thuẫn và khẳng định rèn kỹ năng học cá nhân, học tranh đua,
học tập hợp tác trở thành một mục tiêu kép trong dạy học[6].
Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại
- lý luận, biện pháp, kỹ thuật”[14] trên cơ sở khái quát các
công trình nghiên cứu của Slavin R.; Davison N.; Johnson D.
W.; Johnson R. T. đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh
với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng
KNHTHT và các nguyên tắc đảm bảo cho DHHT thành công.
Tiếp đến trong một số bài báo như: “Hệ thống kĩ năng học tập
hiện đại” “Nhận diện và đánh giá kĩ năng”..., tác giả Đặng
Thành Hưng đã chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập trong môi
trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả
cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực,
cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề... Đây chính là
những KNHTHT được tác giả nhận diện trong môi trường học
tập hiện đại.

mối quan hệ của con người đều là hợp tác. Mọi KN có liên
quan tới cá nhân, nhóm và tổ chức đều được coi là kỹ năng
hợp tác.
Những năm gần đây đã có một số luận án tiến sĩ nghiên
cứu về dạy học theo nhóm: Trần Duy Hưng (2000) với đề tài
“Tổ chức dạy học cho học sinh trung học cơ sở theo nhóm
nhỏ”[13] đã đưa ra những vấn đề lý luận DH theo thóm nhỏ ở
trung học cơ sở, Lê Văn Tạc (2005) với đề tài “Dạy học hoà
nhập cho trẻ khiếm thính theo phương thức hợp tác nhóm” đã
đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận về học hợp tác nhóm theo
hình thức dạy học hoà nhập cho trẻ khiếm thính [29]. Hoàng
Lê Minh (2007) “Tổ chức dạy HHT trong môn toán ở trường
trung học phổ thông” [21], đã hệ thống hóa một số vấn đề lí
luận và vận dụng DHHT trong môn toán ở trường trung học
phổ thông. Nguyễn Triệu Sơn (2007) “Phát triển khả năng
học hợp tác cho HSSP Toán một số trường đại học miền núi
nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo” [26], đã
đề xuất biện phát phát triển khả năng HHT cho HSSP Toán ở
một số trường đại học miền núi. Phan Văn Tỵ (2009) “Vận
dụng dạy HHT trong dạy học các môn xã hội và nhân văn ở
đại học quân sự” [30], đã nghiên cứu, đề xuất quy trình tổ


chức các giờ lên lớp, giờ xêmina, giờ tự học các môn khoa
học xã hội và nhân văn ở trường đại học quân sự theo kiểu
DHHT. Nguyễn Thành Kỉnh (2010) “Phát triển kỹ năng dạy
học hợp tác cho giáo viên THCS” [20], đã nghiên cứu bản
chất của DHHT và đề xuất một số biện pháp phát triển KN
dạy học hợp tác cho giáo viên THCS thông qua hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn. Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) "Rèn

Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau
để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong
xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động
nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên
những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu
và chất lượng quản lý càng cao.
- Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành,
người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói
chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý
giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng
tôi chỉ đề cập tới khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý
một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó
là các cơ sở trường học. Về khái niệm quản lý giáo dục các
nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục
thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối


ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối
nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất
trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến
tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về
chất”.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ
thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của
chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực
hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam,
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ,


+ Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn
biến đổi).
+ Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một
nghệ thuật.
+ Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
Đặc điểm cơ bản của quản lý giáo dục.
+ Quản lý giáo dục gắn liền với việc điều hành quá trình
giáo dục đào tạo con người, đặc biệt là lao động sư phạm của
các nhà giáo.
+ Quản lý giáo dục được gắn liền với quyền lực nhà
nước trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục,
thông qua việc xây dựng, ban hành và chấp hành các văn bản
như luật, điều lệ và các qui định, qui chế chuyên môn sư
phạm.
+ Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù là hình thành
và phát triển nhân cách cho người học, nên quản lý giáo dục
phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai sót trong công
việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra “phế
phẩm” trong giáo dục.


+ Quản lý giáo dục gắn liền với phát triển quan điểm
quần chúng, xã hội.
+ Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu
sắc.
- Kĩ năng, giáo dục kĩ năng.
- Kĩ năng
Theo tác giả Hoàng Phê chủ biên cuốn từ điển “Tiếng
Việt” thì kĩ năng được hiểu là khả năng vận dụng những kiến

Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động mà con người đã
nắm vững. Con người có kĩ năng hoạt động nào đó là người


đã nắm vững được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện
hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến
kết quả hành động
Quan điểm thứ 2: Xem xét kĩ năng từ góc độ mặt năng
lực của con người và nhấn mạnh kết quả của hành động.
Một số tác giả như X.I.Kixegof, N.Đ. Levitov, V.V.
Bôgxloxki, Tsebseva cùng quan điểm kĩ năng không chỉ đơn
thuần bao gồm mặt kĩ thuật của hành động mà còn chú trọng
tới mặt kết quả của nó trong mối quan hệ với mục đích,
phương tiện, điều kiện và cách thức tiến hành hành động. Các
tác giả xem kĩ năng như biểu hiện năng lực của nhân cách.
Theo Boogxloxki cho rằng: Kĩ năng có 2 mức độ đó là
kĩ năng sơ đẳng và kĩ năng thành thạo. Kĩ năng sơ đẳng ban
đầu là những hành động, cái được hình thành trên cơ sở của
các tri thức và kĩ xảo đó là cái được lĩnh hội từ trước.
Theo N.Đ.Levitov cho rằng: Kĩ năng là sự thực hiện một
động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách
lựa chọn đúng đắn có chiếu cố đến những điều kiện nhất định.
Như vậy tác giả đã chú ý đến kết quả hành động, có nghĩa là


phải biết chọn cách hành động phù hợp, đúng đắn trong
khuôn khổ điều kiện cho phép.
Theo X.I Kixegof thì: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có
hiệu quả hệ thống các hành động phù hợp với các mục đích và
điều kiện thực hiện hệ thống này”.

cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã
hội.
Hoạt động giáo dục kĩ năng được tổ chức có mục đích,
có nội dung và theo những hình thức nhất định. Trong hoạt


động giáo dục của nhà trường thường được diễn ra hai hoạt
động chính đó là:
Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua
các môn học tự chọn và bắt buộc..
Hoạt động ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với
các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức.
Kĩ năng không thể được hình thành qua việc nghe giảng
và tự đọc tài liệu mà cần phải tổ chức cho học sinh tham gia
các hoạt động tương tác với giáo viên và với nhau. Việc tổ
chức các hoạt động có tính chất tương tác cao tạo cơ hội quan
trọng để giáo dục kĩ năng hiệu quả. Người học cần đặt mình
vào các tình huống cụ thể để thực hành và trải nghiệm. Người
học chỉ có kĩ năng khi được trực tiếp làm việc đó chứ không
chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi được các em
được hoạt động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ
dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với những
điều kiện có trong cuộc sống.
Cần phải có một quá trình để giáo dục kĩ năng. Từ nhận
thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Vì vậy nhà giáo
dục có thể tác động đến bất cứ mắt xích nào trong chu trình


trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức
và hành vi hành vi thay đổi kéo theo thay đổi về nhận thức và

Theo Hoàng Phê thì: “ Hợp tác là chung sức giúp đỡ
nhau trong công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích
chung”.
Với Nguyễn Thanh Bình: “Hợp tác là những hành vi
giúp đỡ người khác, tuân thủ các cam kết hoặc cùng chung
sức hoàn thành một công việc, phối hợp với nhau ở một lĩnh
vực nào đó nhằm thực hiện một mục đích chung.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status