CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG
GIAO TIẾP, ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI DÂN CHO
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC XA
1
Cơ sở lý luận
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong lịch sử phát triển của loài người, ngôn ngữ có một
vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của
mỗi con người. Nó thúc đẩy sự phát triển của tư duy, là cơ sở
của nhận thức xã hội và là phương tiện để giao tiếp. Thông
qua tiếng nói, mỗi người thực hiện việc giao tiếp trong xã hội.
Ngày nay, ngoài tiếng mẹ đẻ, để tiếp nhận và giao tiếp trong
cộng đồng nhân loại, con người còn dùng tiếng nước ngoài và
các hình ảnh phi ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, khả năng giao
tiếp trong xã hội được rộng mở, đa dạng và phong phú. Ngay
từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, triết học đã quan tâm đến các
vấn đề giao tiếp. Các hoạt động giáo dục lao động, giáo dục
sức khoẻ, giáo dục hình thành năng lực thực hành, năng lực
hợp tác đã được coi trọng. Từ những hoạt động giáo dục, năng
lực cá nhân được phát huy, thúc đẩy xã hội loài người phát
triển.
Khổng Tử (551-497 TCN) là một triết gia, một nhà giáo
dục lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại đã có tư tưởng gắn
giáo dục với thực tiễn để tạo ta lớp người "trị quốc bình thiên
2
hạ". Ông khẳng định "Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi,
gia đình đến sức khoẻ tâm lý đạo đức của thanh niên, tác giả
Malin I.I đã khẳng định văn hoá tâm lý của giao tiếp trong gia
đình được thể hiện ở hệ thống các chuẩn mực; định hướng giá
trị; những cách thức và phong cách hành vi, giao tiếp và mối
quan hệ qua lại trong gia đình..., những cái được áp dụng
trong hệ thống các mối quan hệ qua lại và giao tiếp giữa cha
5
mẹ với con cái. Tác giả đã làm nổi bật lên 5 loại văn hoá tâm
lý của giao tiếp trong gia đình và ảnh hưởng của chúng tới sự
hình thành nhân cách và sức khoẻ tâm lý đạo đức của thanh
niên. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thiếu hụt chức năng bất
kỳ nào đó của người lớn trong gia đình hoặc sự xem thường
nó sẽ làm rối loạn sức khoẻ tâm lý của trẻ. Chính văn hoá tâm
lý của giao tiếp trong gia đình và ảnh hưởng của chúng sẽ tác
động đến sự phát triển KNGT của thanh niên. Để nâng cao
khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu
những KNGT xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong
việc kết giao bạn bè. Với cách trình bày của mình, tác giả
Linda Maget giúp các bậc cha mẹ và trẻ học được KNGT xã
hội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộc
sống, đó là mục tiêu của cuốn sách muốn đem lại. Hay
chương trình dạy tiếng Malaysia cho rằng "sự thành thạo
ngôn ngữ làm cho học sinh học tập có hiệu quả, vì vậy ngôn
ngữ được coi trong. Khi học xong trung học phổ thông học
sinh biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ phát triển
của mình". Hay đối với Thái Lan trong chương trình giảng
dạy tiếng Thái Lan lại nhấn mạnh "việc dạy tiếng phải trau
nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh
Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,
Nguyễn Văn Lê... được công bố, in ấn, xuất bản và áp dụng
trong giáo dục, trong cuộc sống.
Năm 2012, Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận đã tổ chức
Hội thảo khoa học “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, thực
trạng và giải pháp”, trong đó có 21 bài viết của 21 giáo viên
các trường trung học phổ thông trên địa bàn Quận đã quan
tâm nghiên cứu sâu về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng sống; thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục KNGT
tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Quận và đề
9
xuất nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị
[36].
Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục với chủ đề “Giáo dục
KNGT cho học sinh phổ thông vùng nông thôn miền núi phía
Bắc” của Ngô Giang Nam (2013) - Trường Đại học Thái
Nguyên nghiên cứu sâu về thực trạng giáo dục kỹ năng sống
liên quan đến KNGT cho học sinh vùng núi phía Bắc, đồng
thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nội
dung này [26].
Năm 2010, tập thể tác giả do ông Nguyễn Hữu Độ,
Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội đứng đầu đã biên soạn tài liệu
giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Hà Nội
và đã thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các KNGT
ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội.
Đây là một tài liệu có tính thực tiễn trong giáo dục KNGT cho
học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội [14].
quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành
chính, luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo, bồi
dưỡng công chức hành chính và quản lý Nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng công chức hành chính; trên cơ sở đó có những
đánh giá về những kết quả đạt, những hạn chế, bất cập và
nguyên nhân của thực trạng này. Trên cơ sở đó, luận án xác
định mục tiêu, phương hướng và đề xuất hệ thống các giải
pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công
chức hành chính trong giai đoạn hiện nay [39].
Đề tài Khoa học cấp Bộ của tác giả Bùi Đức Kháng
(2010), Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước đáp ứng
yêu cầu hội nhập. Sau khi phân tích tổng quan và thực trạng
công đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước,
đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đề tài đề xuất hệ
thống giải pháp đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, v.v...
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đề cập theo về
từng nội dung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
như các tác giả: Lê Chi Mai với “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chính quyền cơ sở - Vấn đề và giải pháp” [25]; Vũ Đức Đán
12
với “Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền
cơ sở” [12]; Thang Văn Phúc bài “Những định hướng đổi mới
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước
theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)”
[28]; Hữu Phan với “Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các
chức danh cán bộ, công chức cấp xã” [27]; Ngô Thành Can
phường, thị trấn [29]. Thì Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây
gọi chung là cấp xã) có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư
Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ
tịch UBND; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí
thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam
(áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm,
14
ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ
tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Tóm lại “Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường
trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội” [29; Điều 4].
Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ
ràng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, đó là những người giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ
thống chính trị Việt Nam, từ trung ương đến địa phương.
- Công chức cấp xã
Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3,
Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như sau: “Công
chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước” [29; Điều 4].
Như vậy, công chức xã được tuyển dụng và phụ trách
những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn
với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh. Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được
tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý, cấp
xã thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là
công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu
dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn
hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và
chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công
chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên
thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính
trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của
Việt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại
hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở
Việt Nam.
- Đặc điểm, vai trò của cán bộ công chức cấp xa
17
- Về đặc điểm công chức cấp xã
Công chức cấp xã (xã, phường, thị trấn), đặc biệt là tại
xã thường là người được tuyển chọn từ nguồn tại chỗ của địa
phương, sinh sống và có quan hệ gắn bó với cộng đồng dân
cư nơi làm việc.
Họ là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối quan trọng chính
quyền với nhân dân. Bản thân công chức cấp xã là người
thường trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hằng
nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng
làng, cùng họ, vừa là người dân, là người gần gũi dân, sát dân
nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền
để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế cho
thấy, ở đâu mà CBCC chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân,
19
nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp
chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng, ngược lại ở đâu mà cán
bộ chính quyền cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ
đề ra chính sách không phù hợp.
CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp tuyên
truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực hiện
tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống. Là
người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách
pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư.
CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết
những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của
nhân dân.
CBCC chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong
tục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người
tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là người phát
huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Tóm lại, CBCC chính quyền cấp xã là người có vị trí,
vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh
20
30/10/2012 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu
chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, thị trấn;
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số
43/2013/QĐ-UBND ngày 10/10/2013 quy định tiêu chuẩn,
chức trách, nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh Lào Cai thì công chức cấp xã nói
chung, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng
ngoài những tiêu chuẩn chung đã nói ở trên, cần phải có
những tiêu chuẩn cụ thể sau:
+ Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
+ Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Trung cấp trở lên
của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức
danh công chức đảm nhiệm;
22
+ Trình độ tin học: có chứng chỉ tin học văn phòng trình
độ A trở lên;
+ Tiếng dân tộc thiểu số: Phải biết giao tiếp thành thạo
tiếng DTTS đối địa bàn công tác cần sử dụng tiếng DTTS
trong thực thi công vụ. Nếu khi tuyển dụng chưa đảm bảo tiêu
chuẩn này thì chậm nhất sau 36 tháng sau khi tuyển dụng phải
hoàn thành;
+ Quản lý hành chính Nhà nước và trình độ chính trị:
Chậm nhất 36 tháng sau khi tuyển dụng phải được đào tạo,
bồi dưỡng theo chương trình đối với chức danh công chức cấp
xã hiện đang đảm nhiệm;
Bên cạnh đó, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định
24
giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [40, tr
48].
Theo hướng thứ hai có một số định nghĩa như sau:
“GT là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục
đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm, kĩ năng,
kĩ xảo nghề nghiệp” [17, tr11].
“GT là bất kì sự tương tác nào giữa người này với người
khác, bao gồm việc chia sẻ thông tin, ý tưởng và tình cảm với
nhau. Đó là quá trình hai kênh: tiếp nhận những phản ứng
của người khác đáp lại tác động của mình, và điều chỉnh suy
nghĩ, cảm nhận của mình” [41, tr 39].
Những định nghĩa trên gần như phản ánh đầy đủ những
đặc điểm và thành phần của GT từ nhiều góc độ khác nhau,
mặc dù những yếu tố này còn tản mạn, chưa có hệ thống và
chưa khái quát. Sự tương tác, chia sẻ, cộng tác và hợp tác
cũng là hình thức tiến hành GT. Các ngôn ngữ chung ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng, từ ngôn ngữ chính thức như lời
nói, chữ viết, kí tự, kí hiệu… cho đến cử chỉ, vận động cơ thể,
điệu bộ và bất cứ phương tiện gì thỏa mãn nhu cầu GT.
25