CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI
CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO
SINH VIÊN
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Trên thế giới
Trong lịch sử phát triển của loài người, ngôn ngữ có một
vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của
mỗi con người. Nó thúc đẩy sự phát triển tư duy, là cơ sở
nhận thức xã hội và là phương tiện để giao tiếp. Thông qua
tiếng nói, chữ viết và các hành động phi ngôn ngữ mỗi người
thực hiện việc giao tiếp trong xã hội. Ngày nay, ngoài tiếng
mẹ đẻ, để tiếp nhận và giao tiếp trong cộng đồng nhân loại,
con người có thể dùng tiếng nước ngoài. Trong xã hội hiện
đại, với sự phát triển của công nghệ thông tin, con người còn
giao tiếp thông qua mạng internet và các trang mạng xã hội.
Vì vậy, các hình thức và phương tiện giao tiếp trong xã hội
được mở rộng, đa dạng và phong phú.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà GD, triết học đã quan tâm
đến các vấn đề giao tiếp. Khổng Tử (551 - 497 trước công
nguyên) là một triết gia, là một nhà GD lỗi lạc của Trung
Quốc thời cổ đại, người khẳng định: “Đọc thuộc ba trăm
thước kinh thư giỏi, giao việc đi sứ không có KN đối đáp, học
kiểu như vậy chẳng có ích gì”. Tư tưởng đó của Khổng Tử
cho thấy ngoài việc học kiến thức chuyên môn, kiến thức văn
hóa còn phải học cách giao tiếp để giao tiếp thành công và
hiệu quả trong công việc [4].
[34].
Từ những năm 90 của thể kỷ XX, thuật ngữ “KN sống”
đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của Quỹ Nhi
đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), trước tiên là chương trình
“GD những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần GD cho thế
hệ trẻ. Phần lớn các công trình nghiên cứu quan niệm KN
sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất với KN xã hội. Dự án do
UNICEF tiến hành ở các nước Đông Nam Á là những nghiên
cứu có tính hệ thống. Trong xu thế hội nhập mỗi quốc gia phải
có những định hướng cơ bản trong GD và GD những KN
sống nhằm đào tạo thế hệ trẻ có đủ phẩm chất, năng lực đáp
ứng nhu cầu phát triển của xã hội [4].
Tại Úc, hội đồng Kinh doanh (The Business Council of
Australia – BCA) cùng với Phòng thương mại và công nghiệp
(the Australian Chamber of Commerce and Industry – ACCI)
với sự bảo trợ của Bộ GD - Đào tạo và Khoa học, hội đồng
quốc gia tại Úc đã đề xuất cuốn “KN hành nghề cho tương
lai”. Cuốn sách đã đề cập tới các kiến thức, KN mà yêu cầu
người lao động phải có. Các KN hành nghề do cuốn sách trình
bày bao gồm 8 KN: KNGT, KN làm việc nhóm, KN giải quyết
vấn đề, KN sáng tạo và mạo hiểm, KN lập kế hoạch và tổ
chức công việc, KN quản lý bản thân, KN học tập, KN công
nghệ, trong 8 KN đề cập trên thì KNGT là một trong những
KN được đề cập đầu tiên [29].
Chính phủ Canada cũng có một Bộ phận chuyên phụ
trách về việc nghiên cứu và phát triển các KN cần thiết nhất
cho người lao động đó chính là “Bộ Phát triển Nguồn nhân
lực
“tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”.
Người Việt xưa ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Quốc
qua tác động bởi sự đô hộ gần một nghìn năm của phương
Bắc, tác động của Khổng giáo, họ có những biểu hiện giao
tiếp hoàn toàn khác nhau với cách giao tiếp của người Việt
Nam hiện đại. Trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội,
con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và những hoạt
động giao tiếp được mỗi người quan tâm, nó được lưu truyền,
gìn giữ, dạy và học… giữa mọi người trong xã hội [17].
Tại Việt Nam, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ
trước, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về vấn đề
giao tiếp dưới góc độ tâm lý học của các nhà tâm lý học có
thể chia thành một số hướng nghiên cứu như sau:
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của
giao tiếp, đặc điểm giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung,
phương tiện giao tiếp… có công trình của Phạm Minh Hạc,
Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ngọc Bích,
Trần trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy…[24][42][47].
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp như là một tiến
trình truyền đạt thông tin, đặc điểm giao tiếp của người tham
gia vào truyền thông, có công trình của Nguyễn Văn Lê,
Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Khắc Viện…[33].
- Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực trạng đặc điểm giao
tiếp của một số đối tượng là SV sư phạm, đề xuất các tác động
nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của họ như đề tài của Tống
Duy Riêm, Bùi Ngọc Thiết, Trần Thị Kim Thoa…[33].
- Hướng thứ tư: Nghiên cứu về KNGT trong lãnh đạo,
quản lý kinh tế, kinh doanh, du lịch, sư phạm… có công trình
núi phía Bắc” của tác giả Đoàn Thị Cúc (2013) cũng đã chỉ ra
các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp của SV, từ đó đề
xuất các biện pháp khắc phục [12].
Luận án tiến sĩ với đề tài “KNGT sư phạm của SV các
ngành sư phạm trường Đại học sư phạm Đại học Đà Nẵng”
của tác giả Lê Duy Hùng (2009) đã nêu ra ba nhóm kỹ năng
chính: KN định hướng giao tiếp, KN điều khiển bản thân, KN
điều khiển đối phương [27].
Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Hệ thống kỹ năng
giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn kỹ
năng đó cho sinh viên khoa Tâm lý giáo dục” của tác giả
Nguyễn Như An (1993)[1].
Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “GD KN sống cho
học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động GD ngoài
giờ lên lớp” của tác giả Phan Thanh Vân (2010) cũng chỉ ra
được những KN sống cơ bản cho học sinh trung học phổ
thông trong các hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp [50].
Năm 2010, tập thể tác giả do Nguyễn Hữu Độ làm chủ
biên đã biên soạn tài liệu “GD nếp sống thanh lịch – văn
minh cho học sinh Hà Nội” và đã thí điểm đối với học sinh
lớp 5 qua thực hiện các KNGT ứng xử trong mối quan hệ gia
đình, nhà trường và xã hội. Đây là một tài liệu có tính thực
tiễn trong GD KNGT cho học sinh tại Hà Nội [20][8].
Hà Thị Thư đã nghiên cứu đề tài “KN tổ chức giao tiếp
nhóm của SV ngành công tác xã hội” đăng trên tạp chí Tâm lý
học xã hội số 10, trang 36-46/2015. Trong bài viết tác giả có
đề cập tới KNGT của SV khi làm việc nhóm, đặc biệt đó là
KN thu hút/lôi cuốn mọi người trong nhóm [43].
sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình
thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng tác động qua lại
lẫn nhau. Cuốn sách “Giới thiệu về lâm nghiệp cộng
đồng”(1999) do Ulrich Apel biên soạnthuộc dự án phát triển
lâm nghiệp xã hội Sông Đà của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn. Tài liệu cũng chỉ ra những đặc điểm giao tiếp với
nông dân, các KNGT với nông dân như KN lắng nghe, các
ngôn ngữ cử chỉ, các làm quen, những câu hỏi khi giao tiếp
với người dân cách tiếp cận bằng sử dụng PRA và RRA [46],.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu ở trên dù
mang tính khái quát hay phân tích chuyên sâu về một khía
cạnh nào đó trong quản lý GD nói chung và GD KNGT nói
riêng đều là những công trình có giá trị về mặt lý luận và thực
tiễn trong GD KNGT cho học sinh, SV. Nhưng, đến nay chưa
có đề tài hay nghiên cứu nào về GD KNGT với các cư dân
nông thôn tại các TTHTCĐ cho SV HVNNVN. Vì vậy, việc
nghiên cứu thực trạng để đề xuất những giải pháp đẩy mạnh
GD KNGT cho SV là có ý nghĩa.
- Các khái niệm cơ bản
- Giao tiếp
Giao tiếp là điều kiện tất yếu cho sự phát triển và tồn tại
của con người. Nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình
thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, giao tiếp ảnh
hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của mỗi con người.
Không ai có thể hình thành và phát triển nhân cách hoàn thiện
mà không cần giao tiếp. Vậy giao tiếp là gì?
Theo LX.Vưgôtxki: “Giao tiếp là sự thông báo hoặc là
quan hệ qua lại một cách thuần túy giữa người với người như
Theo từ điểm bách khoa toàn thư mở Wikipedia giao tiếp
được chia thành ba loại [45]:
- Giao tiếp truyền thống: là các mối quan hệ giữa người
và người hình thành trong quá trình phát triển xã hội, đó là
quan hệ giữa ông bà, cha me, con cái, hàng xóm,… và cuối
cùng trở thành văn hoá ứng xử riêng trong xã hội.
- Giao tiếp chức năng: xuất phát từ sự chuyên hoá trong
xã hội, ngôn ngữ,… đó là những quy ước, những chuẩn mực,
thông lệ chung trong xã hội cho phép mọi người không quen
biết nhau, rất khác nhau nhưng khi thực hiện những vai trò xã
hội đều sử dụng kiểu giao tiếp đó (như quan hệ giữa lãnh đạo
và nhân viên, người bán và người mua, chánh án và bị cáo...).
- Giao tiếp tự do: là những quy tắc và mục đích giao tiếp
không quy định trước như khuôn mẫu, nó xuất hiện trong quá
trình tiếp xúc, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan hệ.
Loại hình giao tiếp này trong cuộc sống thực tế là vô cùng
phong phú, trên cơ sở những thông tin có được và để giải toả
xung đột mỗi cá nhân.
Nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của giao tiếp, tác giả
Trần Trọng Thủy quan niệm: “giao tiếp của con người là một
quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay
không có ý thức mà là trong đó, các cảm xúc và tư tưởng
được biểu đạt trong các thông điệp bằng phi ngôn ngữ”. Khái
niệm giao tiếp của tác giả được khai thác là một quá trình có
chủ định hoặc không chủ định, thực hiện bằng lời hoặc không
bằng lời, có thể kiểm soát được và có thể không kiểm soát
cho rằng “KN là năng lực vận dụng những tri thức đã được
lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng
trong những điều kiện cụ thể”[19] hay tác giả Nguyễn Quang
Uẩn cho rằng: “KN là năng lực của con người biết vận hành
các thao tác của một hành động theo quy trình”[47].
Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu trên cho
thấy những điểm chung trong quan niệm về KN:
- Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành KN. Tri
thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri
thức về đối tượng hành động.
- KN là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động
cá nhân.
- KN luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động
nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Tóm lại: Từ những phân tích trên chúng tôi hiểu khái
niệm của KN như sau: KN là năng lực thực hiện một hành
động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận
dụng những tri thức, cách thức hành động, thao tác đúng đắn
để đạt được mục đích đề ra.
- Giáo dục
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà
tâm lí học và nhà cải cách GD người Mỹ, ông cho rằng cá
nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự
chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà
cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội
lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người
thuật, cách ứng xử, đối đáp được đúc rút qua kinh nghiệm
thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả thuyết
phục hơn khi áp dụng thuần thục KNGT. Có thể nói KNGT đã
được nâng lên thành nghệ thuật giao tiếp bởi trong KNGT có
rất nhiều KN nhỏ khác như KN lắng nghe, KN thấu hiểu, KN
sử dụng ngôn ngữ cơ thể, KN sử dụng ngôn từ, âm điệu… Để
có được KNGT tốt đòi hỏi người sử dụng phải thực hành
thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh mới có thể cải
thiện tốt KNGT của mình.
Nghiên cứu về KNGT, các nhà nghiên cứu có những
quan niệm khác nhau,cách nhìn khác nhau và cách khai thác
khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Thu (2010) quan niệm “KNGT
là năng lực của người biểu hiện trong quá trình giao tiếp. Đó
là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ… là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ hành vi
được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa”. Trong thực tế,
KNGT không chỉ phụ thuộc vào phương tiện mà nó phụ thuộc
khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, phụ thuộc vào
những nét văn hóa đặc trưng vùng miền mà người đó sinh
sống, có khi chịu ảnh hưởng của sựGD, quản lý của gia đình
[41].
Theo tác giả Ngô Công Hoàn (1998), “KNGT là khả
năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như
những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái,
phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp”. Hay nói cách khác
KNGT là toàn bộ những cử chỉ, thái độ, thao tác, ngôn ngữ
được phối hợp hài hòa, của cá nhân với cá nhân, cá nhân với
quá trình tổ chức các hoạt động GD nhằm giúp SV hình thành
và rèn luyện các thao tác và hành động để trao đổi, tiếp nhận,
xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để hướng dẫn,
định hướng, trao đổi, cũng như hình thành các KNGT khi tiếp
xúc với cư dân nông thôn.
- Sinh viên
SV là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung
cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành
nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội
công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.
Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ
đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học.
- Cư dân nông thôn
* Khái niệm
Theo từ điển Tiếng việt (1999) cư dân nông thôn là
người sống bằng nghề làm ruộng, là người sống bằng việc sản
xuất và cung cấp các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi cho xã
hội [44].
Theo Trần Văn Điền (2015) cư dân nông thôn là những
người lao động, cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông
lâm nghiệp. Cư dân nông thôn được sống chủ yếu bằng ruộng
vườn, chuồng trại chăn nuôi, sau đó đến các ngành nghề mà
tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời
kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về
ruộng-một tư liệu sản xuất đặc biệt. Họ hình thành nên giai
cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội [18].
* Về đặc điểm tâm lý cư dân nông thôn
Tâm lý cư dân nông thôn (thực chất là tâm lý xã hội