Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh - Pdf 26

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
4. Giả thuyết khoa học 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
7. Phương pháp nghiên cứu 6
8. Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TTHTCĐ 8
1.1. Vài nét tổng quan về nghiên cứu Trung tâm học tập cộng đồng 8
1.1.1. Mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở một số nước trên thế giới 8
1.1.2. Vấn đề nghiên cứu, phát triển mô hình TTHTCĐ ở Việt Nam 13
1.2. Trung tâm học tập cộng đồng (mô hình của Việt Nam) 16
1.2.1. Khái niệm trung tâm học tập cộng đồng 16
1.2.2. Mục tiêu hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng 18
1.2.3. Đặc điểm tổ chức của trung tâm học tập cộng đồng 20
1.2.4. Nội dung, phương pháp, hình thức học và dạy ở các TTHTCĐ 22
1.2.5. Người học và người dạy trong trung tâm học tập cộng đồng 25
1.2.6. Đặc điểm các nguồn lực của trung tâm học tập cộng đồng 27
1.3. Hoạt động quản lý TTHTCĐ và người cán bộ quản lý TTHTCĐ 28
1.3.1. Quản lý trung tâm học tập cộng đồng 28
1.3.2. Người cán bộ quản lý trung tâm học tập cộng đồng 34
1.4. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trong các TTHTCĐ 39
1.4.1. Khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý trung tâm học tập cộng đồng 39
1.4.2. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng 41
* Kết luận chương 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TTHTCĐ VÀ CÔNG
TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TTHTCĐ Ở HUYỆN YÊN HƯNG -

74
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của chính quyền
các cấp đối với công tác phát triển đội ngũ CBQL ở TTHTCĐ
75
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phối hợp và liên kết trong chỉ đạo phát triển đội
ngũ CBQL các TTHTCĐ
75
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng và tương hỗ trong đội ngũ CBQL từng
TTHTCĐ
76
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích trong công tác và trong
đãi ngộ cho đội ngũ CBQL các TTHTCĐ
77
3.1.6. Nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp giữa từng ban giám đốc TTHTCĐ với tất
cả đội ngũ CBQL các TTHTCĐ trên địa bàn huyện
77
3.2. Một số biện pháp phát triển đội ngũ CBQL TTHTCĐ trên điạ bàn huyện
Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh
78
3.2.1. Xây dựng quy hoạch CBQL theo đặc thù tổ chức,hoạt động TTHTCĐ 78
3.2.2. Tổ chức chặt chẽ quy trình giới thiệu – thẩm định trong khâu tuyển chọn 81
3.2.3. Sử dụng hiệu quả đội ngũ CBQL trên cơ sở phối hợp thế mạnh cá nhân 83
3.2.4. Bồi dưỡng năng lực và đào tạo kỹ năng quản lý giáo dục cho CBQL 85
3.2.5. Kết hợp giám sát, đánh giá với điều chỉnh kịp thời 88
3.2.6. Đảm bảo các chế độ đãi ngô hợp lý và kịp thời 89
3.2.7. Xây dung hệ thống hỗ trợ công tác quản lý trên phạm vi toàn huyện 90
3.3. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất 92
3.3.1. Mục đích và đối tượng khảo nghiệm 92
3.3.2. Quá trình khảo nghiệm 92
3.4.3. Kết quả khảo nghiệm và nhận xét 93

Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX: " Thực hiện giáo dục cho mọi người, cả
nước trở thành một xã hội học tập” [16-Tr.35].và được phát triển tại Đại hội Đảng
lần thứ X: "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở -
mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông
giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi
3
người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập
thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự
công bằng xã hội trong giáo dục"[17-Tr.39]. Với tư tưởng mới mẻ ấy, hệ thống
giáo dục quốc dân Việt Nam đã có sự biến đổi đáng kể với sự ra đời những mô
hình tổ chức cơ sở giáo dục ở nhiều cấp độ khác nhau trong lĩnh vực Giáo dục
thường xuyên và Dạy nghề, trong đó có mô hình Trung tâm học tập cộng đồng
(TTHTCĐ). Luật Giáo dục (năm 2005) đã chính thức công nhận Trung tâm học
tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
được tổ chức ở các xã, phường, thị trấn. Đây chính là cơ sở giáo dục dành cho tất
cả mọi người để thực hiện việc xây dựng xã hội học tập từ đơn vị hành chính thấp
nhất ở nước ta hiện nay. “Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” do
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành ngày 18/5/2005 đã khẳng định điều
đó qua việc xác định: “Phấn đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ trên 80% số lượng các
xã, phường, thị trấn trong cả nước có trung tâm học tập cộng đồng”[42-Tr.4].
Với sự quan tâm chỉ đạo về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và
sự nỗ lực của toàn xã hội, hệ thống TTHTCĐ ở nước ta đã có bước phát triển rõ
rệt và có đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng xã hội học tập. Tuy nhiên do
là một mô hình tổ chức cơ sở giáo dục rất mới nên, để đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững và hoạt động có hiệu quả thực sự, hệ thống TTHTCĐ ở nước ta đang
đứng trước những thách thức không nhỏ. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho
việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để từng bước hoàn thiện hệ thống này.
Tỉnh Quảng Ninh nói chung và huyện Yên Hưng nói riêng là địa phương
có phong trào xây dựng “xã hội học tập” phát triển khá mạnh và đã quan tâm
nhiều tới xây dựng hệ thống TTHTCĐ. Tỉnh Quảng Ninh đã triển khai sớm

cấu hợp lý và ổn định, năng lực quản lý tốt, đáp ứng các đặc điểm và yêu cầu phát
triển TTHTCĐ tại địa bàn huyện Yên Hưng, từ đó rút kinh nghiệm để phát triển
đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ toàn tỉnh Quảng Ninh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Hưng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ của các xã và thị
trấn của huyện Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh.
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ cán bộ quản lý các TT HTCĐ hiện tại chưa phù hợp, thiếu ổn định
và năng lực quản lý còn thấp là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế
chất lượng hoạt động của các TT HTCĐ. Vì thế, tìm ra những biện pháp hữu hiệu
để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các TT HTCĐ sẽ tạo chuyển biến quan trọng
để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự phát triển bền vững của các
TTHTCĐ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý TTHTCĐ và phát triển đội
ngũ cán bộ quản lí các TTHTCĐ.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động và quản lý các TTHTCĐ tại địa
bàn huyện Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ
ở địa bàn huyện Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ quản lí các TTHTCĐ của các xã và thị trấn thuộc huyện
Yên Hưng (có đối chiếu so sánh với một số địa bàn khác của tỉnh Quảng Ninh).
- Phạm vi khảo sát : 5 năm (từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2009)
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG (TTHTCĐ)
1.1. Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng
1.1.1. Mô hình TTHTCĐ ở một số nước trên thế giới
1.1.1.1. Trung tâm học tập cộng đồng (Kominkan) ở Nhật Bản.
Hình thức tổ chức mang tính chất Trung tâm học tập dành cho dân chúng
được thành lập theo cách tự phát đã xuất hiện rất sớm ở Nhật Bản. Từ thế kỷ thứ
XVII, Nhật Bản đã có 15.000 Terakoya (tiếng Nhật có nghĩa là: Nhà dành cho học
viên hoặc Trung tâm học tập). Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, trên cơ sở
nghiên cứu các Terakoya, Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích thành lập các
Trung tâm học tập chung cho cộng đồng với tên gọi là Kominkan (tiếng Nhật có
nghĩa là: Nhà văn hóa của nhân dân). Người đề xuất ra mô hình này là Giáo sư
Teranaka Sakuto- Giáo sư của Trường Đại học Matsumoto – một nhà cải cách
giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2. Hoạt động của các Kominkan
liên quan sâu sắc đến việc xây dựng đất nước Nhật Bản sau chiến tranh và trở
thành nền móng vững chắc trong việc xây dựng cộng đồng Nhật Bản ngày nay.
Sơ đồ 1.1: HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁC KOMINKAN Ở NHẬT BẢN
Bộ Giáo dục - Khoa học -
Thể thao và Công nghệ
Luật Giáo dục – Xã hội
Chính quyền quận/huyện
8
Việc tăng cường đầu tư và quản lý các Kominkan (trong đó có việc Bộ
luật Giáo dục – Xã hội của Nhật Bản ra đời năm 1949 khẳng định Kominkan
là một bộ phận của hệ thống giáo dục người lớn) đã khiến số Kominkan ở
Nhật Bản phát triển rất nhanh chóng : năm 1947 có 3.534 trung tâm, năm
1963 có 19.410 trung tâm, năm 1993 có 17.562 trung tâm, năm 2002 có
17.947 trung tâm. Đến năm 2006, ở Nhật Bản có 18.000 Kominkan hoạt động
dưới sự bảo trợ của Nhà nước trung ương và địa phương, phủ khắp 90% tổng
số thị trấn, làng xã của nước Nhật (ngoài ra còn có 76.883 Kominkan do người

thức và thông tin cho mọi người dân sống trong cộng đồng.
Các của TTHTCĐ ở Thái Lan thực hiện 3 chức năng chủ yếu là:
- Giáo dục cơ sở (xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở),
- Giáo dục nghề nghiệp (mở lớp huấn luyện kỹ năng ngắn ngày và giáo
dục nghề cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông);
- Thông tin, tư vấn (qua các hoạt động và qua tài liệu).
Kết quả nghiên cứu về mô hình TTHTCĐ ở Thái Lan đã khẳng định các
nguyên tắc cơ bản để điều hành và quản lý hoạt động của TTHTCĐ là:
- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân. Người đứng đầu trung tâm phải
có định hướng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi người đều có cơ
hội học tập.
- TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế mở. Mọi người trong cộng đồng có
thể đến học bất cứ lúc nào.
- TTHTCĐ phải trở thành cầu nối thông tin giữa mọi người, gắn được
việc học chữ với việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày.
- TTHTCĐ phải có mạng lưới liên kết với các cơ sở giáo dục, với các tổ
chức xã hội, các cơ sở sản xuất và các chuyên gia trên các lĩnh vực.
(Xin xem mô hình quản lý và tác động của TTHTCĐ ở Thái Lan tại Sơ đồ 1.2)
10
Sơ đồ 1.2: MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TTHTCĐ Ở THÁI LAN
1.1.1.3. Trung tâm học tập cộng đồng ở Ấn Độ
Từ năm 1988, Chính phủ Ấn Độ đã quyết định thành lập hàng loạt các
Jana Shikshan Nilayams (viết tắt là JSNs - tiếng Ấn Độ có nghĩa là Trung tâm
học tập) trong cả nước với mô hình cứ 4-5 làng (khoảng 5.000 dân) có một
Trung tâm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục sau xoá mù chữ và
GDTX. Tới những năm 1990-1991, chính sách giáo dục quốc gia của Ấn Độ
đề ra thêm nhiều chương trình để đẩy mạnh giáo dục sau xóa mù chữ và
GDTX, trong đó có chương trình thành lập các Trung tâm GDTX (Continuing
Education Centres - CECs). Các Trung tâm GDTX này không chỉ phục vụ cho
những người mới biết chữ mà cho cả trẻ em, thanh niên thất học và tất cả

1.1.1.4. Trung tâm học tập cộng đồng ở Myanmar
Mô hình trung tâm học tập cộng đồng bắt đầu được xây dựng tại
Myanmar từ năm 1994 với sự giúp đỡ của UNDP, UNESCO và các tổ chức
phi chính phủ khác. Tính đến năm 2007, Myanmar đã có 480 Trung tâm.
Mục đích của các TTHTCĐ tại Myanmar là: Khuyến khích sự tham gia
của cộng đồng trong việc hạn chế tỷ lệ bỏ học và nâng cao tỷ lệ đến trường
tiểu học của trẻ em; Tập trung vào hoạt động tăng thu nhập và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân; tạo cơ hội cho người dân được tiếp cận với
thông tin. Ở Myanmar, TTHTCĐ có thể vừa là một trung tâm thông tin, trung
tâm huấn luyện nghề nghiệp vừa là một câu lạc bộ để trao đổi, thảo luận, một
thư viện, nơi đọc sách báo hoặc trung tâm văn hoá, vui chơi, giải trí của cộng
đồng, có vai trò to lớn trong việc tạo cơ hội học tập tiếp tục cho trẻ em và
người lớn.
Về măt tổ chức và quản lý, TTHTCĐ tại Myanmar được xác định là
một cơ sở giáo dục tại làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được
nhân dân địa phương thành lập và quản lý, nhằm cung cấp cho nhân dân
những cơ hội học tập đa dạng để cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển
cộng đồng.
1.1.1.5. TTHTCĐ ở các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Trong khuôn khổ Chương trình Châu Á - Thái Bình Dương về Giáo dục
cho mọi người (APPEAL), Dự án phát triển TTHTCĐ đã được triển khai từ
năm 1998. Đến năm 2005, chương trình phát triển TTHTCĐ của UNESCO đã
được triển khai tại 20 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương .
Ở các quốc gia này, TTHTCĐ đã phát huy vai trò phục vụ cho các đối
tượng người lớn, thanh thiếu niên thuộc mọi đối tượng trong cộng đồng thông
12
qua các hoạt động xóa mù chữ và GDTX. TTHTCĐ giúp người học có được
thông tin chủ yếu và những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của
cá nhân, gia đình và xã hội.
Tóm lại, nghiên cứu sự phát triển mô hình tổ chức và quản lý của các

lệ trên 95% đơn vị cấp xã đã thành lập TTHTCĐ.
Về mặt tổ chức và quản lý, mô hình TTHTCĐ của Việt Nam được thiết
kế và phát triển trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới
(như đã trình bày ở trên), đồng thời có sự kế thừa và phát huy các yếu tố tích
cực của các mô hình thiết chế văn hoá - giáo dục tại cộng đồng đã có từ trước
đây ở trong nước (như Nhà Rông, Đình làng,..). Do đó, TTHTCĐ đang được
xây dựng và phát triển ở Việt Nam vừa có sự phù hợp với những điều kiện,
hoàn cảnh mới và mang ý tưởng của thời đại, vừa có yếu tố truyền thống. (Xin
xem sơ đồ quản lý TTHTCĐ ở địa phương tại Sơ đồ 1.3)
Sau hơn mười năm phát triển, hệ thống TTHTCĐ ở Việt nam đã được
đánh giá là một mô hình cơ sở giáo dục mới với những điểm mạnh, điểm yếu
và đang đứng trước những cơ hội và thách thức khá rõ rệt. Cụ thể là:
i) TTHTCĐ ở nước ta đã khẳng định những điểm mạnh chủ yếu sau:
+ Đã tạo ra cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho người dân
ngay tại cộng đồng do được tổ chức ngay tại cơ sở làng xã, với phương châm
“cần gì, học nấy”;
+ Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở cộng đồng
cả về nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và
nâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi trường dân cư;
+ Góp phần phát triển cộng đồng bền vững thông qua việc đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế địa phương, thực hiện các mục
tiêu phát triển văn hóa - xã hội của địa phương và nâng cao nhận thức, kỹ năng
của người dân trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường.
ii) Những hạn chế cần khắc phục:
14
+ Chưa thực sự tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho
tất cả mọi người (mới chỉ thu hút được khoảng 20-40% người dân tham gia);
+ Chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của nhiều THTCĐ còn hạn chế
(Chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của nhiều
TTHTCĐ chưa đa dạng, thiết thực, phù hợp với nhu cầu của người dân và các

dục mới, bên cạnh việc phát triển khá nhanh về số lượng, hệ thống TTHTCĐ ở
nước ta vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy việc nghiên cứu các giải
pháp để nâng cao chất lượng các TTHTCĐ (trong đó có vấn đề “phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ” - nhằm giải quyết một trong những khó
khăn/thách thức đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay) là một vấn đề cần thiết
không chỉ đối với một địa phương mà đối với cả nước.
Sơ đồ 1.3: HỆ THỐNG QUẢN LÝ TTHTCĐ TẠI ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
1.2. Trung tâm học tập cộng đồng (mô hình Việt Nam)
1. 2.1. Khái niệm Trung tâm học tập cộng đồng
TTHTCĐ (từ sau đây, khi nhắc đến khái niệm “trung tâm học tập cộng
đồng” là để chỉ TTHTCĐ theo mô hình của Việt Nam) là một cơ sở giáo dục
nhưng là một loại hình cơ sở giáo dục có những đặc điểm rất riêng biệt so với
các loại hình cơ sở giáo dục khác. Để quản lý hệ thống TTHTCĐ và đề xuất
các giải phát phát triển, nâng cao chất lượng hệ thống này (trong đó có việc
16
Sở GD&ĐT
tỉnh
UBND
cấp xã
UBND
cấp huyện
Phòng GD&ĐT
cấp huyện
Trung tâm
GDTX
cấp huyện
Trung
tâm
HTCĐ
“phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng”), cần

hiện "chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô
hình xã hội học tập” như mục tiêu mà Đại hội X của Đảng đã khẳng định.
Việc xây dựng “xã hội học tập”, chủ trương mang tính chiến lược mà Đảng ta
nêu lên bắt nguồn từ tư tưởng mang tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư tưởng này đã trùng
hợp với xu thế phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI.
Xây dựng “xã hội học tập” để tiến tới nền kinh tế tri thức đang là một
trong những chủ đề trọng tâm của UNESCO, của các Hội nghị giáo dục quốc
tế. Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông
tin; sự xuất hiện của xã hội thông tin, của kinh tế tri thức, của xã hội học tập;
xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Những yếu tố đó liên kết chặt
chẽ giữa các quốc gia vào cộng đồng chung thế giới và khu vực, việc học tập
suốt đời lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Những kiến thức có được trong nhà
trường chính quy của mỗi người không đủ đáp ứng với những nhu cầu mới,
luôn thay đổi của cuộc sống hiện đại. Do đó, mỗi người phải học thường
xuyên, học suốt đời “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung
sống cùng nhau”, như ông Jacque Delors, Chủ nhiệm Uỷ ban quốc tế về giáo
dục cho thế kỷ XXI đã khẳng định.
Hiểu một cách cơ bản nhất, “xã hội học tập” là một xã hội mà mọi
người được khuyến khích và hỗ trợ để học tập, mọi người vừa làm vừa học,
học thường xuyên, học liên tục để không ngừng nâng cao trình độ học vấn và
tay nghề nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới: tin học hoá, toàn cầu
hoá, xã hội thông tin và tri thức. “Cả loài người đang bước vào ngưỡng cửa
của thế kỷ XXI với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, coi việc học là việc
làm thường xuyên, suốt đời của mọi người, lấy việc học là động lực quyết
định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên” [20-Tr.28].
18
Với tư cách là hạt nhân xây dựng “xã hội học tập” tại cơ sở, mục tiêu
của TTHTCĐ là: tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng được
học tập thường xuyên , được hưởng dịch vụ giáo dục, thực hiện đa dạng các

dục khác. Trước hết, tuy cũng được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
tắt là cấp xã) nhưng TTHTCĐ có nhiều điểm không giống các cơ sở giáo dục
cùng được tổ chức ở cấp xã như trường Mầm non, trường Tiểu học, trường
Trung học cơ sở (THCS). Mặt khác, tuy cũng là cơ sở giáo dục thường xuyên
nhưng TTHTCĐ không có các thành phần cấu trúc tương tự ở Trung tâm Giáo
dục thường xuyên (TTGDTX) cấp tỉnh và cấp huyện. Cụ thể là:
+ TTHTCĐ không nhất thiết phải có khuôn viên, phòng học, sân chơi
độc lập và cố định (hầu hết các TTHTCĐ đều mượn cơ sở sẵn có của xã như
Hội trường, Nhà văn hóa xã hoặc Nhà sinh hoạt cộng đồng của các thôn...);
+ TTHTCĐ không có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách và không có
giáo viên cơ hữu. Họ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, không theo nhiệm kỳ
và không nhất thiết phải có chuyên môn sư phạm;
+ TTHTCĐ không tổ chức học sinh (học viên) theo biên chế lớp cố
định từng niên khóa (mọi người dân tự nguyện đăng ký và đến dự bất kỳ lớp
học nào, vào thời gian nào khi thấy cần thiết)
+ TTHTCĐ không có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy, học
tập cố định; không có “thời khoá biểu” và hồ sơ sổ điểm học sinh.
Những điểm khác biệt đó vừa do mục tiêu hoạt động của TTHTCĐ như
đã trình bày ở trên, vừa do tính chất cơ sở giáo dục và tính chất của hoạt động
học tập ở TTHTCĐ quy định:
Về tính chất của cơ sở giáo dục, TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thực sự
“do dân, của dân và vì dân”. TTHTCĐ chủ yếu do người dân trong cộng đồng
tự lập ra và tự quản lý. TTHTCĐ là của từng cộng đồng dân cư (chủ yếu là
mỗi xã có một TTHTCĐ) góp công sức, của cải tại chỗ để tạo nên. Tác động
của Nhà nước trung ương và nhà nước địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện) chỉ
mang tính chất hỗ trợ ban đầu và tạo mặt bằng tối thiểu. Mọi người dân đều
20
tham gia xây dựng, ủng hộ và kiểm soát. TTHTCĐ hoạt động trước hết là để
đáp ứng nhu cầu “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm” một
cách thường xuyên, liên tục, học suốt đời của cán bộ và các tầng lớp nhân dân

thể khái quát thành các nhóm nội dung chính sau:
+ Học tập đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật, thời sự chính trị.
+ Học tập về khoa học kỹ thuật , sản xuất và đời sống, học nghề.
+ Học tập về văn hoá, ngoại ngữ, tin học.
+ Học tập về văn nghệ, thể dục - thể thao, vệ sinh - môi trường.
Các nhóm nội dung học tập trên được thể hiện qua một số chương trình học
tập và giảng dạy chủ yếu sau đây:
+ Chương trình nâng cao trình độ văn hoá ứng với các trình độ phổ
thông như: chương trình xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo
dục THCS, tin học, ngoại ngữ thông dụng. Những chương trình này được tiến
hành bằng cách dùng đội ngũ giáo viên ngay tại địa phương để vận động học
viên ra lớp và phối hợp với chính quyền, ban, ngành đoàn thể hỗ trợ, cùng
cộng tác trách nhiệm tạo điều kiện để người dân đi học đầy đủ, nghiêm túc và
hiệu quả cao. Ở TTHTCĐ, các nội dung được thực hiện linh hoạt theo yêu cầu
thực tế, có thể dạy bất cứ lức nào người dân cho là hợp lý.
+ Chương trình tạo thu nhập: Căn cứ vào đặc thù của địa phương và nhu
cầu học tập của nhân dân, các TTHTCĐ mở các chuyên đề phù hợp để thiết
thực giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao
chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc tư vấn,
chuyển giao khoa học công nghệ, truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn (yí dụ: các
nội dung về chăn nuôi, trồng trọt, nghề thủ công,..). Vì tính đa dạng về nội
dung của chương trình, học viên có thể chọn cho mình những nội dung cần
thiết và phù hợp với quỹ thời gian, điều kiện học tập, nhu cầu học tập của
22
mình nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp bản thân và gia đình đồng
thời góp phần cùng cộng đồng nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Chương trình học theo sở thích: cung cấp các cơ hội khác nhau cho cá
nhân tham gia học tập những vấn đề xã hội, văn hoá, tinh thần, sức khoẻ và
nghệ thuật,...mà họ quan tâm, nhằm khuyến khích và tăng cường các hoạt động
học tập để làm tăng khả năng của mỗi người trong việc sử dụng thời gian, cải

tượng người lớn.
+ Trong giảng dạy, người dạy (giáo viên/hướng dẫn viên) phải phát huy
tối đa những kinh nghiệm của người học và tổ chức được sự tham gia tích cực
của người học trong quá trình học tập. Sự thành công của buổi học luôn dựa
trên mức độ đảm bảo sự tương tác tích cực giữa người dạy và việc đảm bảo
môi trường học tập năng động.
+ Việc giảng dạy ở TTHTCĐ luôn phải chú ý sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau tuỳ theo đối tượng và mục tiêu học tập. Liên kết và phối hợp
là phương thức hoạt động chủ yếu của TTHTCĐ. Đối tượng đến học tập tại
TTHTCĐ là mọi người dân đại diện cho mọi tổ chức, thuộc mọi tầng lớp xã
hội, mọi trình độ văn hoá từ mù chữ đến sau đại học. Họ tham gia các hình
thức học tập tuỳ theo nhu cầu cá nhân, cần gì học nấy. Những nhu cầu này có
thể từ xóa mù chữ, bổ túc văn hoá cơ bản, nghề thông dụng đến kỹ thuật tiên
tiến như máy vi tính hoặc các lĩnh vực công nghệ khác.
Các hình thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ rất đa dạng, linh hoạt,
mềm dẻo để tạo điều kiện tốt nhất cho người học. Có thể có những hình thức
học tập và giảng dạy chủ yếu như sau:
+ Hình thức học tập không theo cấp lớp, trình độ văn hoá, lứa tuổi, giới
tính gồm có: Các buổi học theo chuyên đề; Các lớp tập huấn chuyển giao ứng
dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội; Các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề khác nhau; Các cuộc hội
thảo tại chỗ (“hội thảo đầu bờ”); Các câu lạc bộ sở thích; Các hoạt động tham
quan thực tế; Các Hội thi, giao lưu văn hoá; Các triển lãm; Các buổi nói
24
chuyện; Các buổi tổ chức nghe loa đài, xem tivi, xem phim, đèn chiếu, video;
Các buổi giới thiệu sách báo tại thư viện, tại hội trường trung tâm hoặc các
thôn bản, tổ dân phố…
+ Hình thức học tập theo cấp, lớp gồm có: Các lớp xoá mù chữ, bổ túc
văn hoá, học nghề, ngoại ngữ, tin học… Các lớp học này nhằm mục đích học
để lấy văn bằng, chứng chỉ chính thức nên thường có qui chế chặt chẽ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status