1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
=o0o=
VŨ THỊ THANH HƢƠNG
NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG
ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
MÃ SỐ: 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS ĐẶNG XUÂN HẢI
2.3. Thực trạng về giáo dục thường xuyên và xây dựng trung tâm học tập cộng
đồng trên địa bàn An Hải - Hải Phòng. 32
2.3.1. Về việc xây dựng và phát triển trung tâm HTCĐ ở thành phố Hải
phòng [20] 32
2.3.2. Các lực lƣợng xã hội tham gia xây dựng môi trƣờng thuận lợi và lành
mạnh cho duy trì và phát triển trung tâm HTCĐ ở An Hải - Hải Phòng. 33
2.3.3. Các lực lƣợng xã hội tham gia vào đầu tƣ và đóng góp nhân lực, tài
lực, vật lực để phát triển trung tâm HTCĐ. 34
2.3.4. Các lực lƣợng xã hội tham gia đa dạng hoá các hình thức học tập và
đa dạng hoá các loại hình trƣờng, lớp và phƣơng thức hoạt động ở các
trung tâm HTCĐ huyện An Hải - Hải Phòng. 35
Chƣơng 3: 52
NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG
TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN AN HẢI - HẢI PHÒNG. . 52 74
3.1. NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM HTCĐ TRÊN ĐỊA BÀN AN HẢI - HẢI PHÒNG. 52
3.1.1. Về phƣơng diện lý luận. 52
3.1.2. Về cơ sở thực tiễn. 52
3.2 CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG
TÂM HTCĐ NHẰM ĐẢM BẢO CHO TRUNG TÂM HTCĐ PHÁT HUY
VAI TRÒ VÀ HIỆU QUẢ. 53
3.2.1. CẦN LÀM CHO CÁC LỰC LƢỢNG XÃ HỘI VÀ TOÀN THỂ CỘNG
ĐỒNG VÀ CÁC ĐỐI TÁC LIÊN QUAN HIỂU RÕ CHỦ TRƢƠNG XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM HTCĐ. NÂNG CAO NHẬN THỨC,
CUNG CẤP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT VỀ TÍNH CHÂT, ĐẶC
ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TTHTCĐ. 53
3.2.2. LÔI CUỐN, HUY ĐỘNG CÁC LỰC LƢỢNG XÃ HỘI, LỰC LƢỢNG
phân cấp của Chính phủ”. Nhƣ vậy, hệ thống nhà trƣờng nói chung và hệ thống
các trung tâm GDTX, trung tâm HTCĐ nói riêng đều phải đảm bảo thực hiện
nhiệm vụ nâng cao dân trí cho cộng đồng xã hội. Vì vậy sự phát triển các trung
tâm HTCĐ một mặt xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, song mặt khác cũng
cần đƣợc đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội
ở từng khu vực. 3
Hải Phòng - thành phố đang có nhiều chuyển biến về kinh tế - xã hội đƣợc
sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và chính quyền. Thành ủy Hải Phòng đã có Nghị
quyết 04 triển khai nội dung Nghị quyết TW 2 khoá VIII đặc biệt chú trọng việc
“đa dạng hoá các loại hình trƣờng lớp” cho nên nhiều trƣờng ngoài công lập, các
trung tâm HTCĐ đã sớm đƣợc thành lập so với nhiều địa phƣơng của Hải
Phòng. Trong thời gian qua ở Hải Phòng đã thành lập đƣợc 49 trung tâm HTCĐ.
Trong đó, huyện An Hải thành lập đƣợc 5 trung tâm HTCĐ, cùng với hệ thống
trung tâm GDTX đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển
cộng đồng và góp phần tạo ra một xã hội học tập.
Thực tiễn xây dựng và phát triển các trung tâm HTCĐ trên địa bàn An Hải
- Hải Phòng đặt ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn, một trong những vấn đề
đó là: Làm thế nào để phát triển bền vững và phát huy hiệu quả hoạt động của
các trung tâm HTCĐ đã có và xây dựng thêm đƣợc các trung tâm HTCĐ ở
những nơi có nhu cầu nguyện vọng của ngƣời dân, đồng thời phát huy vai trò hỗ
trợ của hệ thống trung tâm GDTX cũng nhƣ các tổ chức khác đối với sự hình
thành và tổ chức hoạt động của trung tâm HTCĐ trên một địa bàn cụ thể.
Vì những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu có tên: "Những
biện pháp xây dựng và phát triển trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn
huyện An Hải thành phố Hải phòng" làm đề tài cho luận văn của mình.(Từ
2004 các quận huyện của Hải Phòng có sự cơ cấu lại; Tên An Hải chúng tôi sử
dụng khi xác định đề tài và thực hiện nghiên cứu khi chƣa tái cấu trúc!)
để so sánh, đối chứng.
Về thời gian: Từ năm 2001 đến nay (2004).
7. Những luận điểm bảo vệ:
1. Phát triển trung tâm HTCĐ là một biện pháp để đẩy mạnh xã hội hóa công
tác giáo dục, thực hiện giáo dục cho mọi ngƣời và góp phần nâng cao chất
lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân.
2. Việc xây dựng trung tâm HTCĐ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cộng
đồng và để giải quyết những vấn đề của cộng đồng.
3. Để đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của trung tâm HTCĐ, cần tăng cƣờng
mối quan hệ với các trung tâm GDTX và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
công đồng.
8. Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Về lý luận: Trong thời kỳ đẩy mạnh xã hội hóa công tác giáo dục, xây dựng
trung tâm HTCĐ, hỗ trợ phát triển giáo dục cộng đồng và đa dạng hoá mô hình
GDTX là một biện pháp phù hợp để thực hiện nội dung quan trọng của xã hội
hóa công tác giáo dục. 5
Về thực tiễn: Triển khai tốt chủ trƣơng xã hội hóa công tác giáo dục và phát
triển GDTX nói chung, trung tân HTCĐ nói riêng trên địa bàn Hải Phòng sẽ góp
phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống và phát triển cộng đồng địa phƣơng.
9. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận : Nghiên cứu tài liệu. phân tích, tổng
hợp.
- Phƣơng pháp điều tra xã hội học, thống kê, so sánh.
10. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương I: Một số cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Thực trạng phát triển giáo dục cộng đồng và các mô hình
viện khoa học GD và trƣờng cán bộ quản lí giáo dục; đặc biệt lƣu ý có bài của
PGS,TS Đặng Quốc Bảo , “Giáo dục cộng đồng: Quan niệm, vấn đề và giải
pháp”, [1].
Sau khi hội khuyến học ra đời, chủ trƣơng phát triển giáo dục cộng đồng, và xây
dựng xã hội học tập ở Việt nam đã đƣợc đẩy mạnh và có những biện pháp cụ thể
Một trong các biện pháp đó là cho ra đời hệ thống các trung tâm học tập cộng
đồng trong phạm vi cả nƣớc. Theo thông kê bƣớc đầu đến nay đã có gần nửa số
xã trong phạm vi toàn quốc đã có trung tâm học tập cộng đồng (gần 3.500) và đã
có những hội thảo về phát triển thiết chế học tập này.
Vấn đề trung tâm học tập cộng đồng cũng đã có một số luận văn thạc sỹ đề
cập đến . Một trong những luận văn đƣợc bảo vệ gần đây của thạc sỹ Trần Mạnh
Cung với tên gọi “Xây dựng trung tâm giáo dục cộng đồng, một biện pháp đẩy
mạnh xã hội hóa công tác giáo dục và hỗ trợ phát triển giáo dục cộng đồng trên địa
bàn nông thôn tỉnh Bắc Giang “ đã bảo vệ thành công năm 2003 . [25]
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng.
1.2.1.1. Quản lý.
Theo PGS - TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí {7] thì quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra. 7
Bất luận một tổ chức nào có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần
phải có sự quản lý và có ngƣời quản lý để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục
đích của mình. Ngƣời quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và
các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức
để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
Theo Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), hậu thế coi ông là “Cha đẻ
của thuyết quản lý khoa học”. Từ một kỹ sƣ cơ khí trở thành một kỹ sƣ trƣởng.
mình, khác với cách tiếp cận “Một biện pháp tốt nhất” do các thuyết khác đề
xƣớng. Và chính tính linh hoạt, năng động trong hành động quản lý do cách tiếp
cận nhƣ vậy tạo nên cũng là điểm mạnh của quan điểm này. Thuyết này hƣớng
dẫn ngƣời quản lý nên sử dụng các thuyết đã có trong các tình huống cụ thể chứ
không đề xuất một “bài bản” gì mới mẻ hoàn toàn. [7]
Theo Phó Giáo sƣ - Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý bắt nguồn
từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm
đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có sự
chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý ,(2)
1.2.1.2 Quản lý giáo dục:
Cũng nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài ngƣời, giáo dục cũng đƣợc
quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới
hình thành. Bản thân sự giáo dục đƣợc tổ chức và có mục đích đã là một thực
tiễn quản lý giáo dục sống động.
Thực tiễn quản lý giáo dục luôn tồn tại và sôi động nhƣng việc tổng kết lý
luận về vấn đề này đã đi chậm khá xa so với thực tiễn [7]. Đầu những năm 50
của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của
các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các luận văn Tiến sĩ, Phó tiến tiến sĩ
và những khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục. Trong số những công trình
đó có những công trình nghiên cứu sâu sắc về “Thanh tra giáo dục”, “Kế hoạch
hóa giáo dục”. Năm 1956 lần đầu tiên xuất hiện cuốn “Quản lý trƣờng học”
(Skolovvedenie) của A.pôpốp, một nhà hoạt động sƣ phạm và quản lý giáo dục
của Liên Xô cũ. Cuốn sách này về thực chất không phải là một công trình khoa
học về quản lý giáo dục mà một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt
động thực tiễn của những ngƣời làm công tác quản lý giáo dục, đặc biệt là quản
lý trƣờng học. Dù mang tính chất của một cuốn “Cẩm nang” hay “Sổ tay hƣớng
dẫn”. “Quản lý trƣờng học” cũng ghi dấu ấn nhƣ một tài liệu hoàn chỉnh đầu
tiên về quản lý giáo dục.
nhạt khác nhau, các lý luận gia về quản lý giáo dục đều trình bày quan điểm của
họ về nhà trƣờng (dù là phổ thông hay đại học) phải đƣợc quản lý nhƣ thế nào 10
hơn là chỉ mô tả các khía cạnh của quản lý hoặc giải thích cấu trúc tổ chức của
nhà trƣờng. Chẳng hạn khi các nhà quản lý giáo dục thực tiễn hoặc các nhà hàn
lâm về quản lý giáo dục đòi hỏi việc ra quyết định trong nhà trƣờng phải tuân
theo phƣơng pháp “Quá trình ra quyết định có sự tham gia của tập thể”. Họ đã
dựa trên những phán đoán có tính định chuẩn thay vì sự phân tích thực tiễn sống
động của nhà trƣờng.
2. Các lý thuyết quản lý giáo dục thƣờng đƣợc xây dựng dựa trên sự quan
sát (obsenvation) thực tiễn diễn ra trong các thiết chế giáo dục. Quan sát có hệ
thống các sự kiện diễn ra trong thực tiễn là một phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học, tuy vậy chƣa đủ để làm căn cứ cho việc xây dựng, hình thành nên một lý
luận, bởi tính chủ quan của chủ thể quan sát là điều không tránh khỏi. Vì vậy,
việc tự giác, cảm nhận, nhận biết và giải thích, hiểu thấu các sự kiện thực tế đòi
hỏi có sự tham gia của khách thể quan sát; trong trƣờng hợp này đó là các thành
viên của những thiết chế giáo dục.
Trong lí luận quản lý giáo dục thí quản lí giáo dục đƣợc hiểu nhƣ việc thực
hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn
bộ các hoạt động giáo dục và cả phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó
nữa [7].
Tóm lại quản lí GD thực chất là thực hiện các chức năng quản lí để điều
hành, điều chỉnh toàn bộ hoạt động GD nói chung và nhà trường nói riêng
nhằm đạt được mục đích và mục tiêu GD đã được xác định
1.2.1.3. Quản lý nhà trƣờng:
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục
khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng
và dạy học, điều đó có một ý nghĩa thật quan trọng. Hệ thống giáo dục của xã
hội thống nhất với nhà trƣờng về mục tiêu, nội dung và phƣơng thức giáo dục,
đó là điều kiện tối ƣu để dạy tốt và học tốt; đào tạo lớp thanh niên thông minh,
sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và
của xã hội.
Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục đối với nhà trƣờng là tổ chức
quá trình giáo dục có hiệu quả để thực hiện đƣợc sứ mạng của một nhà trƣờng
Công tác quản lý trong nhà trƣờng bao gồm các nội dung sau đây:
+ Quản lý toàn bộ các cơ sở vật chất và thiết bị nhà trƣờng nhằm phục vụ tốt
nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh. Quản lý tốt cơ sở vật chất
nhà trƣờng không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt năng lực
của chúng cho dạy hoạ và giáo dục, đồng thời còn làm sao để có thể bổ sung
thêm những thiết bị mới và có giá trị. 12
+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trƣờng theo đúng nguyên tắc
quản lý tài chính của nhà nƣớc và của ngành giáo dục. Đồng thời biết động viên,
thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị
phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học.
+ Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học sinh
thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chƣơng trình công tác của nhà trƣờng. Động
viên, giáo dục tập thể sƣ phạm trở thành một tập thể đoàn kết nhất trí, gƣơng
mẫu và hợp tác tƣơng trợ nhau làm việc. Giáo dục học sinh phấn đấu học tập và
tu dƣỡng trở thành những công dân ƣu tú. Quản lý con ngƣời là việc làm phức
tạp, nó bao gồm các nội dung về nhân sự, tƣ tƣởng tinh thần, chuyên môn, đào
tạo bồi dƣỡng, khen thƣởng và đề bạt Quản lý con ngƣời là một khoa học và
một nghệ thuật. Chính đội ngũ giáo viên có chất lƣợng và phƣơng pháp quản lý
giáo dục tốt sẽ làm nên mọi thành quả của giáo dục.
+ Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chƣơng trình giáo dục của Bộ,
ràng, những luật pháp thành văn, mà do những liên hệ sâu hơn nhƣ huyết
thống, truyền thống Khái niệm cộng đồng hiện đƣợc dùng rộng rãi trong
các lĩnh vực kinh tế - xã hội và chính trị. Ở các lĩnh vực này, cộng đồng vừa
mang những giá trị chung mà mỗi thành viên thừa nhận và tuân theo, vừa tôn
trọng sự phát triển độc lập của mỗi thành viên trong các quan hệ hợp tác với
nhau”. [35]
“Cộng đồng là một kiểu tổ chức xã hội đƣợc hình thành trong một quá trình
lịch sử lâu dài, dựa trên cơ sở của sự thống nhất, sự cố kết với nhau về lợi
ích, quyền lợi, nghĩa vụ, những nhu cầu cùng tồn tại và phát triển của mọi
thành viên sống và làm việc trên một phạm vi lãnh thổ nhất định”. [1]
“Cộng đồng là một tập hợp ngƣời sống trên cùng một vùng lãnh thổ, có
những nét chung về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, có chung những mối quan
tâm, những lợi ích cùng chia sẻ”. [16]
“Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân đƣợc quyết định bởi sự
liên hệ các lợi ích nhờ sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động
của những con ngƣời hợp thành cộng đồng đó. Sự giống nhau này có thể kể
đến các hoạt động vật chất, sản xuất, quan điểm tín ngƣỡng, quan điểm về lối
sống”. [1]
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích,
và cùng sinh sống trong một khu vực xác định. Những người chỉ sống gần 14
nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm
các cá nhân và không thực hiện chức năng như một thể thống nhất.
Vì có khá nhiều định nghĩa về cộng đồng nhƣ vậy nên Gs. Nguyễn Sinh Huy
(1997) đã nhấn mạnh rằng, khi nói đến khái niệm cộng đồng, cần chú ý đến
những yếu tố cơ bản sau đây:
- Cộng đồng trƣớc hết là một tập hợp ngƣời;
- Sự tƣơng quan giữa các cá nhân trong cộng đồng rất chặt chẽ và mật thiết;
chức năng tạo ra những thành viên mới cho xã hội.
- Đặc điểm thứ ba liên quan tới hệ thống luật pháp, văn hóa và bản sắc dân
tộc.”
Trong thực tế chúng ta cũng thường gặp khái niệm “cộng đồng xã hội ” để chỉ
tập người có các đặc điểm giao thoa như đã trình bày ở trên.
1.2.3. Giáo dục cộng đồng (GDCĐ)
Trên thế giới, khái niệm giáo dục cộng đồng (community education) đƣợc sử
dụng từ cuối thế kỷ XIX. Ở Mỹ và Canada, nó gắn liền với sự xuất hiện các hình
thức đào tạo ngắn hạn hoặc các hình thức học tập không dẫn đến bằng cấp, có
mục đích phục vụ cộng đồng địa phƣơng là chủ yếu, không phân biệt lứa tuổi,
dân tộc, thu nhập mà chỉ phân định mọi ngƣời theo nhu cầu và các vấn đề. Ở
châu Âu, khái niệm GDCĐ đƣợc sử dụng muộn hơn. Ở Việt Nam, khái niệm
này cũng đƣợc dùng khá sớm ở miền Nam, còn ở miền Bắc trên thực tế cũng đã
triển khai một số loại hình giáo dục mang tính chất GDCĐ trƣớc khi nói đến
GDCĐ là gì. [16]
Có thể dẫn ra một số định nghĩa khác nhau về GDCĐ nhƣ sau [25]:
Theo Tuyên bố về sứ mạng của Hiệp hội GDCĐ quốc tế: “GDCĐ là quá
trình làm cho cộng đồng có đủ khả năng kiểm soát sự phát triển và cải thiện
chất lƣợng cuộc sống của cộng đồng thông qua học tập suốt đời. Nó tạo thêm
sinh lực cho mọi ngƣời và sử dụng các nguồn lực công, nguồn lực tƣ và
nguồn lực tự nguyện để xây dựng, cải thiện cộng đồng thông qua việc xác
định và đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng. Nó trao quyền cho mọi ngƣời
để họ có thể quyết định và hành động vì sự phát triển của cộng đồng mình”.
GDCĐ là một phƣơng thức giáo dục không chính quy, tạo cơ hội cho các
công dân địa phƣơng, các nhà trƣờng cộng đồng, chính quyền, đoàn thể trở
thành những đối tác chủ động và tích cực trong việc giải quyết những mối
quan tâm về giáo dục, cũng nhƣ những mối quan tâm chung của cộng đồng.
Nó làm cho các thành viên của cộng đồng xích lại gần nhau, cùng nhau xác
định và liên kết những nhu cầu và nguồn lực của cộng đồng theo cách thức
“giúp mọi ngƣời tự giúp mình” để nâng cao chất lƣợng cuộc sống trong cộng
hình thức đa dạng, thủ tục đơn giản, đƣợc quản lý theo nguyên tắc phân cấp hợp
lý cho cơ sở, giúp cho mọi ngƣời lao động hễ có nhu cầu, có điều kiện và khả
năng đều có thể tự chọn cho mình một nội dung học tập với hình thức phù hợp.
Gần 60 năm phát triển, GDTX đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp diệt
"giặc dốt", chuyển 95% dân số không biết chữ sang 94% dân số biết chữ, đã bồi
dƣỡng văn hóa nghiệp vụ cho hàng chục vạn anh hùng, chiến sĩ thi đua, thanh
niên ƣu tú để Đảng, Nhà nƣớc đào tạo thành cán bộ chủ chốt từ Trung ƣơng đến 17
địa phƣơng.
1.2.4.1. Chức năng nhiệm vụ và đối tƣợng của GDTX:
Chức năng: GDTX cung ứng những cơ hội giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu
học tập nhiều mặt và thƣờng xuyên của nhân dân. Trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, chức năng của GDTX sẽ ngày càng tăng thêm, phạm vi hoạt
động của GDTX cũng sẽ đƣợc mở rộng. Khi trình độ sản xuất cao hơn, chất
lƣợng cuộc sống đƣợc nâng lên thì nhu cầu hoạt động của con ngƣời từ sinh hoạt
vật chất đến sinh hoạt tinh thần cũng đƣợc nâng lên tƣơng xứng, đòi hỏi vốn tri
thức nhất định, nhƣ vậy học tập suốt đời sẽ trở thành nhu cầu ngày càng cấp
thiết của đông đảo ngƣời lao động. GDTX phải có chức năng đáp ứng một phần
nhu cầu đó.
Đối tƣợng của GDTX: là những ngƣời không đƣợc hƣởng hoặc hƣởng
không đầy đủ sự giáo dục của nhà trƣờng chính quy (nhƣ phổ thông, chuyên
nghiệp ), đƣợc chia thành 3 nhóm: nhóm ngƣời mù chữ không đƣợc theo học
trong các nhà trƣờng phổ thông, thanh thiếu niên không có điều kiện tiếp tục học
tập trong các nhà trƣờng chính quy (kể cả những ngƣời khuyết tật), ngƣời lao
động đã biết chữ muốn mở rộng hiểu biết, mở mang kiến thức để nâng cao nghề
nghiệp và chất lƣợng cuộc sống của bản thân, của gia đình.
Nhiệm vụ của GDTX:
- Xóa mù chữ, giảm tỷ lệ mù chữ trong xã hội , phấn đấu xóa mù chữ một
học tập theo quy trình cấp lớp là nhằm tăng thêm khả năng, đáp ứng nhu cầu học
tập của các thanh thiếu niên không có điều kiện học tập tại nhà trƣờng chính
quy.
Nếu làm một phép so sánh thì có sự giao thoa rất nhiều giữa khái niệm giáo
dục cộng đồng và giáo dục thƣờng xuyên.
1.2.4.2. Các mô hình GDTX:
GDTX là một loại hình giáo dục vừa mang tính nhà trƣờng vừa mang tính
cộng đồng; nó là một loại hình giáo dục đƣợc tổ chức theo cách thức mềm dẻo;
tạo điều kiện, cơ hội cho mọi ngƣời trong hoàn cảnh điều kiện của mình có thể
học tập thƣờng xuyên, suốt đời để nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức Theo
quan điểm của PGS.TS Trịnh Minh Tứ [39](Tạp Chí Giáo dục số 76; 1/2004):
GDTX là hệ thống giáo dục linh hoạt, mềm dẻo, với nội dung thiết thực, hình
thức đa dạng, thủ tục đơn giản; giúp cho mọi ngƣời hễ có nhu cầu, có điều kiện
và khả năng đều có thể lựa chọn cho mình một nội dung học tập với hình thức
phù hợp. Cũng theo tác giả này trung tâm HTCĐ là 1 trong 6 mô hình GDTX:
1. TTGDTX tổ chức các chƣơng trình giáo dục: XMC và giáo dục sau
XMC, bổ túc tiểu học, BTTHCS, BTTHPT, học nghề, đào tạo lại, tu nghiệp định
kỳ, bồi dƣỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng, bồi dƣỡng ngoại
ngữ, Tin học ứng dụng, chuyên đề cho cán bộ thanh niên nhằm đào tạo, bồi
dƣỡng nhân lực tại chỗ cho địa phƣơng với các chƣơng trình cập nhật. Mô hình
TTGDTX tuy mới đƣợc xây dựng và phát triển trong những năm gần đây nhƣng 19
đã phát huy tác dụng với nhiều hình thức học phong phú, đáp ứng cho nhiều loại
đối tƣợng có nhu cầu học tập.
2. Các trung tâm ngoại ngữ, Tin học: hiện nay ngành GDTX phải đáp ứng
nhu cầu phổ cập Tin học và ngoại ngữ cho thanh niên. Ngoài các chƣơng trình
ngoại ngữ hiện có, các trung tâm ngoại ngữ và Tin học đã xây dựng chƣơng
trình ngoại ngữ chuyên ngành nhằm đáp ứng nhu câù của ngƣời học.
20
Tứ - Tạp chí giáo dục - 01/2004).
Theo PGS.TS Trịnh Minh Tứ [39] thì trung tâm HTCĐ là một trong các
mô hình của GDTX của Việt nam. Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn một số đặc
điểm của trung tâm học tập cộng đồng.
1.2.4.3. Trung tâm học tập cộng đồng
Về trung tâm HTCĐ, theo một số nhà nghiên cứu, nó có xuất xứ từ việc các
công nhân đến làm thuê và định cƣ ở một khu công nghiệp rủ nhau lập hội và
mƣợn một phòng học của trƣờng học làm nơi sinh hoạt, hội họp, vui chơi, giải
trí vào buổi tối. Dần dần, ngoài các hoạt động kể trên, họ còn tổ chức các hoạt
động mang tính chất trao đổi công việc, kinh nghiệm nghề nghiệp. Rồi sau đó,
do nhu cầu viết thƣ về cho gia đình, cho ngƣời thân ở xa mà họ tổ chức học đọc,
học viết với sự giúp đỡ của những nhà giáo. Hình thức sinh hoạt này dần dần trở
nên phổ biến trong các cộng đồng công nhân. Những hoạt động có tính chất giáo
dục, xảy ra tại cộng đồng công nhân nhƣ vậy làm các nhà giáo nảy sinh ra ý
tƣởng thành lập các trung tâm HTCĐ. Rồi sau đó, các nhà trƣờng cộng đồng
mới ra đời. [16]
Nhƣ vậy, có thể thấy giữa nhà trƣờng cộng đồng và trung tâm HTCĐ có
điểm khác nhau cơ bản. Nhà trƣờng cộng đồng là một cơ sở giáo dục đào tạo, có
sự tổ chức quản lý mang tính chất xã hội - nhà nƣớc, có thông báo chiêu sinh, có
nhiều phƣơng tiện vật chất và đội ngũ giáo viên cơ hữu để làm thoả mãn nhu cầu
của ngƣời học. Còn trung tâm HTCĐ thì không hẳn là một cơ sở đào tạo bài bản
vì những ngƣời học (và cả ngƣời dạy) chủ yếu cùng nhau bàn bạc, thoả thuận,
rồi tự tổ chức hoạt động giáo dục với các hình thức phù hợp để thoả mãn nhu
cầu của chính mình.
Trung tâm học tập cộng đồng là gì?
Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục tổ chức học tập theo phƣơng thức
không chính quy ở xã, phƣờng để cung ứng các cơ hội học tập nhằm nâng cao
chất lƣợng cuộc sống của nhân dân và phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã
hội bền vững ở địa phƣơng. Mục đích chính của trung tâm HTCĐ là góp phần
quyết định, thƣờng thông qua hội đồng cộng đồng;
2. Tìm kiếm và tạo ra cơ hội học tập suốt đời cho ngƣời học mọi lứa tuổi;
3. Sử dụng các nguồn lực của cộng đồng cho các chƣơng trình giáo dục;
4. Có cơ hội cho các bậc cha mẹ tham gia vào quá trình học tập của con cái và
cuộc sống học tập;
5. Sử dụng tối đa các phƣơng tiện giáo dục hiện có trong cộng đồng bởi mọi
ngƣời, mọi lứa tuổi;
6. Có sự phối kết hợp và cộng tác của nhiều cơ quan, tổ chức để cung cấp các
dịch vụ giáo dục, xã hội, kinh tế, giải trí, văn hoá cho mọi thành viên của
cộng đồng;
7. Có quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp, nhà kinh doanh và nhà trƣờng 22
cộng đồng để cải thiện bầu không khí học tập;
8. Có các tình nguyện viên giúp đỡ để cung cấp, phân phát dịch vụ cho cộng đồng.
Nội dung, chƣơng trình hoạt động của trung tâm HTCĐ:
Tổ chức thực hiện các chƣơng trình giáo dục: Xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục
sau xoá mù chữ, bổ túc Tiểu học, bồi dƣỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến
thức, các chƣơng trình đáp ứng nhu cầu của ngƣời học về thời sự, pháp luật,
sức khỏe v.v.
Tổ chức điều tra cơ bản về nhu cầu học tập của địa phƣơng, đề xuất nội dung
và hình thức học cho phù hợp với từng loại đối tƣợng.
Tổ chức tƣ vấn các hoạt động sản xuất văn hóa, hoạt động thể dục thể thao trên
địa bàn, quản lý giáo viên, hƣớng dẫn viên và học viên, quản lý cơ sở vật chất
trang thiết bị tài chính theo quy định của Nhà nƣớc.
- Nhìn chung, nội dung, chƣơng trình của HTCĐ rất đa dạng, linh hoạt và
thiết thực, đáp ứng những nhu cầu đa dạng, đa cấp, đa ngành của cộng đồng địa
phƣơng.