THỰC TRẠNG GIÁO dục kỹ NĂNG tự PHÒNG vệ CHO TRẺ 5 6 TUỔI ở TRƯỜNG mầm NON và đề XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC - Pdf 56

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHÒNG VỆ
CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÀ ĐỀ
XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC


Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng tự phòng vệ cho trẻ 5-6
tuổi ở 2 trường mầm non Chu Lai và Yên Trung B và đề xuất
một số biện pháp khắc phục thực trạng.
Khách thể khảo sát
Điều tra được tiến hành trên 30 giáo viên đang trực tiếp dạy
trẻ 5-6 tuổi tại 2 trường MN: trường MN Chu Lai, Yên Trung
B và trên tổng 40 trẻ 5-6 ở 2 trường.
Nội dung khảo sát
Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục tự
phòng vệ cho trẻ 5-6 tuổi ở 2 trường mầm non.
Thực trạng giáo dục kĩ năng tự phòng vệ cho trẻ 5-6 tuổi ở 2
trường mầm non
Thực trạng mức độ kĩ năng tự phòng vệ của trẻ 5-6 tuổi ở 2
trường mầm non
Phương pháp khảo sát


Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát quá trình giáo viên
rèn luyện trẻ một số kĩ năng tự phòng vệ cho trẻ thông qua
các hoạt động:
Chế độ sinh hoạt hàng ngày: quan sát trẻ ăn uống, ngủ nghỉ,
vui chơi
Hoạt động học: quan sát các giờ học như tạo hình, âm nhạc,
khám phá khoa học
Hoạt động vui chơi: quan sát trẻ sử dụng đồ chơi, cách chơi

chọn
1

Rất cần thiết

20/30

66,7

2

Cần thiết

10/30

33,3

3

Không cần

0/30

0

thiết


Quan sát bảng 1 ta có thể thấy hầu hết giáo viên đều nhận
thức rất rõ về tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng tự


16,7

quan đến tri thức, những giá trị và thái
độ làm cho trẻ giải quyết những thách
thức trong cuộc sống
2

Là các nguyên tắc bảo vệ cơ thể

3

10

3

Là năng lực thực hiện các hành động

22

73,3


đúng, an toàn để tránh xa những mối
nguy hiểm, gây hại cho bản thân trẻ
4

Là khả năng xử lí các tình huống trong

0


SL

%

0

0

10 33,3

0

0

66, 10 33,3

0

0

0

0

0

0

L

0

0

20

66, 10 33,3

năng tránh bị người
lạ xâm hại
Giáo dục cho trẻ kĩ


năng an toàn giao

7

thông
Giáo dục cho trẻ kĩ

15

50

15

50

0


0
2

Hành vi của bố mẹ và các thành viên
khác trong gia đình

25/3
0

83,3


3

Phương tiện thông tin đại chúng

10/3

33,3

0
4

Đặc điểm lứa tuổi, giới tính của trẻ

15/3

50

0

đố, những nhiệm vụ để trẻ giải quyết, thực hiện. Tuy nhiên,
cách đặt câu hỏi của giáo viên chưa thực sự hợp lí, rất ít
những câu hỏi mở, mức độ biều cảm ngôn ngữ của cô chưa
phù hợp với nội dung cô đưa ra.
Phương pháp trực quan: trong tiết học khám phá môi trường
xung quanh, giáo viên trường MN Chu Lai cho trẻ xem hình
ảnh của một số tín hiệu giao thông
Phương pháp tạo tình huống: giáo viên của 2 trường có tạo
một số tình huống nguy hiểm dễ xảy ra trong sinh hoạt hằng
ngày trẻ tránh gặp phải như: giáo viên hỏi nếu chạy nhanh mà
gặp phải vũng nước thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đưa ra một số
những lời khuyên, lời rặn giúp trẻ tránh tình huống nguy hiểm
đó. Một số tình huống giáo viên đưa ra vẫn chưa đủ để giúp
trẻ có nhiều kĩ năng tự phòng vệ.


Phương pháp thực hành trải nghiệm: trẻ của 2 trường đều
được thực hành một số trò chơi giúp trẻ rèn luyện thể chất và
cũng có một số trò chơi rèn luyện kĩ năng tự phòng vệ như:
trò chơi “nhanh trí”, “vượt chướng ngại vật”
Phương pháp đóng vai theo chủ đề: đây là phương pháp mà
giáo viên cả 2 trường đều sử dụng thường xuyên nhưng không
linh hoạt, sáng tạo.
- Một số hình thức giáo viên của trường mầm non Chu Lai và
Yên Trung B thường sử dụng để giáo dục kĩ năng tự phòng vệ
cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non
Giáo viên giáo dục KNTPV cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tích
hợp,lồng ghép KNTPV cho trẻ trong các tiết học
Đối với trẻ mầm non, rèn kĩ năng sống cho trẻ là rèn luyện kĩ
năng ứng xử hợp lý các tình huống trong cuộc sống, thói quen

trường MN đều lựa chọn hoạt động vui chơi không chỉ để giải
trí mà còn để nâng cao một số kĩ năng tự phòng vệ .
Đối với trường mầm non Chu Lai, các trò chơi mà giáo viên
tổ chức phần lớn chỉ mang ý nghĩa rèn luyện và phát triển thể
chất cho trẻ mà rất ít trò chơi mang nội dung giáo dục
KNTPV.
Ở trường mầm non Yên Trung B, tần suất giáo viên sử dụng
trò chơi mang nội dung giáo dục KNTPV cho trẻ nhiều hơn
trường Chu Lai, ví dụ: trong trò chơi “em tập lái ô tô” giáo
viên đã dạy trẻ kĩ năng an toàn khi tham gia giao thông.
Giáo viên phối hợp với phụ huynh :
Sau mỗi buổi học, giáo viên và phụ huynh thường trao đổi với
nhau về trẻ, đó là thời gian GV đưa ra những lời khuyên,
những biểu hiện… giúp phụ huynh nắm bắt rõ tình trạng của
con họ.
Ởcả 2 trường mầm non, giáo viên và phụ huynh đều có sự
trao đổi với nhau nhưng còn rất hạn chế, đặc biệt là vấn đề
liên quan đến KNTPV càng không được phụ huynh quan tâm
nhiều nên việc giáo viên muốn đề cập cũng rất khó khăn. Có


rất ít phụ huynh có thời gian trao đổi, thảo luyện với giáo viên
về vấn đề này.
Thực trạng kĩ năng tự phòng vệ của trẻ 5-6 tuổi ở trường
mầm non Chu Lai và Yên Trung B
- Tiêu chí đánh giá kĩ năng tự phòng vệ của trẻ 5-6 tuổi ở
trường mầm non Chu Lai và trường mầm non Yên Trung B
Tiêu chí 1( 5 điểm): trẻ có kĩ năng an toàn khi chơi
-Mức độ cao (5 điểm): trẻ biết cách chơi và cẩn thận khi chơi
đùa. Biết cách thay phiên nhau chơi và không xô đẩy trong



Tiêu chí 4( 5 điểm): trẻ sử dụng các vật dụng, vật liệu an
toàn
Mức độ cao( 5 điểm): trẻ nhận biết được sự nguy hiểm của
những dị vật là hạt dưa, hạt bí, hạt dẻ, hướng dương, đậu
phộng, tăm xỉa rang, cúc áo… và những thiết bị nguy hiểm:
dao, kéo, ổ điện, bật lửa…
Mức độ TB( 3 điểm): trẻ chỉ biết được những thiết bị nguy
hiểm như: dao kéo, ổ điện, còn những dị vật thì trẻ vẫn chưa
nhận thức được sự nguy hiểm có chúng.
Mức độ thấp( 1 điểm): trẻ không biết được sự nguy hiểm của
các vật dụng vật liệu, thiết bị, các dị vật đã nêu trên.
- Thang đánh giá kĩ năng tự phòng vệ của trẻ 5-6 tuổi ở
trường mầm non Chu Lai và trường mầm non Yên Trung B
+Mức độ 1 (cao): 8-10 điểm
+Mức độ 2 (TB): 5-7 điểm
+Mức độ 3 (thấp): < 5 điểm
- Phân tíchkết quả khảo sát thực trạng kĩ năng tự phòng vệ
của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Chu Lai và Yên Trung B


Chúng tôi tiến hành đo mức độ thành thạo kĩ năng tự phòng
vệ của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Chu Lai và Yên Trung
B thông qua việc quan sát quá trình chơi của cá nhân ở góc
phân vai, hoạt động tập thể, hoạt động học để nắm bắt được
mức độ thành thạo của từng trẻ.
Sau khi kết thúc quá trình khảo sát, dựa vào tiêu chí đánh giá
đã trình bày ở mục 5.3.1 chúng tôi thống kê và khái quát kết
quả mà trẻ đạt được trên từng tiêu chí trên bảng số liệu sau

7

3

3,75

2

20

TC2

5

5

10

2,95

3

20

TC3

5

8


con thưa cô bạn Quang Minh nhặt được viên bi rồi cho vào
miệng ạ!”. Như vậy là bé Bảo Anh đã nhận thức được sự nguy
hiểm của việc cho viên bi vào miệng và còn kịp thời báo cho
cô giáo biết nữa. Hay bé Linh Thư, trong giờ khám phá môi
trường xung quanh đã kể được rất nhiều những đồ dùng, dị
vật nguy hiểm xung quanh bé như “ dao, kéo, ổ điện, vật có
đầu nhọn.”Đó chính là biểu hiện của KNTPV.
Tiêu chí 2: trẻ đạt mức trung bình khá
Các trẻ đạt mức độ trung bình thì đều có kĩ năng chơi an toàn,
một số những kiến thức cơ bản về giới tình, về sự nguy hiểm
của các vật dụng, vật liệu nhưng cách xử lí tình huống khi gặp
nguy hiểm thì chưa linh hoạt, đôi lúc mất tập trung, không
lắng nghe, chú ý sự hướng dẫn của cô giáo. Cụ thể là ở góc
gia đình, khi đặt tình huống là “ người lạ đến gõ cữa thì nên
làm gì?”, phần lớn trẻ đều phải nhờ có sự gợi ý, giúp đỡ của
cô giáo mới có thể đưa ra cách xử lí an toàn.Ở mức độ yếu thì
trẻ không nắm được những kiến thức cơ bản mà cô cung cấp,
từ đó cũng không có kĩ năng tự phòng vệ cho bản thân mình


như:một số trẻ không biết được bên phải bên trái, không biết
cơ quan sinh dục là vùng nhạy cảm, không biết cách cầm kéo.
Tiêu chí 3: trẻ chỉ đạt mức trung bình yếu
Một vài trẻ không thể nhận biết được đâu là bên phải đường,
đâu là bên trái đường, không biết phần đường dành cho người
đi bộ là vỉa hè.
Tiêu chí 4: trẻ cũng chỉ đạt mức trung bình yếu
Một số trẻ không biết cầm kéo như thế nào, kĩ năng sử dụng
kéo rất kém, đặc biệt là một số trẻ trai rất hay lấy những dị vật
nhỏ cho vào miệng như: cúc áo, đất nặn, sáp màu.

TRUNG

YẾU

BÌNH
TC

12

5

3

3,9

7

6

7

3,0

6

10

4

3,2


Dựa vào bảng 7 về thực trạng kĩ năng tự phòng vệ của trẻ 5-6
tuổi ở trường MN Yên Trung B qua 4 tiêu chí chúng tôi rút ra
một số nhận xét như sau:
Tiêu chí 1: trẻ của trường MN Yên Trung B có kĩ năng chơi
khá tốt


Chẳng hạn như: bé Ngọc Ánh trong giờ chơi luôn chơi những
trò chơi nhẹ nhàng, không chen lấn, xô đẩy và đặc biệt biết
nhường nhịn các bạn khác. Hay bé Đức Minh nhận biết được
rất nhiều biển báo, tín hiệu giao thông. Còn bé Thảo Vy biết
rất nhiều kiến thức cơ bản về sức khỏe giới tính vì mẹ bé làm
bác sĩ…
Tiêu chí 2: trẻ đạt mức độ trung bình
Kĩ năng này còn khá hạn chế, nhiều trẻ chưa thể phân biệt
được người lạ, người quen, chưa biết cách ứng xử, giải quyết
những tình huống giáo viên đưa ra
Tiêu chí 3: trẻ đạt mức độ trung bình
Một số trẻ biết rất nhiều biển báo, luật an toàn giao thông
nhưng cũng có rất nhiều trẻ không phân biệt được bên phải
bên trái đường, đường dành cho người đi bộ
Tiêu chí 4: trẻ đạt mức độ trung bình
Hầu như là trẻ đều biết cách sử dụng dao, kéo an toàn, chỉ có
một số trẻ hiếu động, nghịch ngợm thường hay nghịch những
dị vật nguy hiểm trong lớp học, đặc biệt cũng hay cho vào
miệng.


Nhìn vào biểu đồ ta thấy, ở 2 tiêu chí( TC1,TC3,TC4) trường

10

33,3

T
1

nghiệm của giáo viên
2

Thời gian giáo dục hạn
chế

3

Chưa có sự quan tâm phối
hợp của phụ huynh

4

Chương trình, tài liệu về
nội dung giáo dục KNTPV
cho trẻ còn hạn chế


5

Cơ sở vật chất không đầy

20

xuyên với giáo viên, nhận thức của phụ huynh về tầm quan
trọng của việc giáo dục KNTPV còn yếu,…
Chương trình, tài liệu về nội dung giáo dục KNTPV cho trẻ
còn hạn chế
33,3% giáo viên cho rằng họ thiếu chương trình, tài liệu tham
khảo liên quan đến giáo dục KNTPV cho trẻ
Tất cả các giáo viên đều đồng tình là thời gian giáo dục
không gây khó khăn đối với họ
Qua những phân tích trên cho thấy trong quá trình giáo dục
KNTPV cho trẻ giáo viên gặp không ít những khó khăn. Tuy
nhiên với một số nguyên nhân như thiếu sự quan tâm phối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status