Thực trạng tổ chức rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non luận văn tốt nghiệp đại học - Pdf 32

Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
-------***-------

Thực trạng tổ chức
rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản
cho trẻ 5 6 tuổi ở trờng Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành giáo dục mầm non

Giáo viên hớng dẫn: pgs.ts. nguyễn thị mỹ trinh
Sinh viên thực hiện: nguyễn thị hà
Lớp

:

48A2 Mầm non


Vinh – 2011

2


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn cuối khoá với đề tài “Thực trạng tổ chức rèn
luyện các kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non”,
bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp và
sự quan tâm giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa
Giáo dục, cùng với Ban giám hiệu, các cô giáo và các cháu trường Mầm non
Trường Thi, trường Mầm non Bình Minh, trường Mầm non Quang Trung II, ,

các vấn đề lý luận có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp quan sát:
Mục đích: Tìm hiểu việc tổ chức rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản
cho trẻ 5 - 6 tuổi của giáo viên mầm non, đồng thời xác định mức độ phát triển
các kỹ năng vận động cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi được khảo sát.
7.2.2. Phương pháp điều tra:
Mục đích: Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò, mục
đích, nội dung, hình thức và phương pháp rèn luyện các kỹ năng vận động cơ
bản cho trẻ.
7.3. Phương pháp thống kê toán học:
Dùng để xử lý số liệu thu được và kiểm tra độ tin cậy của các kết quả.
8. Đóng góp mới của đề tài:
- Làm rõ được thực trạng rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ
5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
- Đề xuất được các biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện các kỹ năng
vận động cho trẻ 5 - 6 tuổi.

7


9. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện các kỹ năng
vận động cơ bản cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.

8



Phoanxixcô Amôrot, tác giả người Pháp, đã có công lớn trong việc biên
soạn các bài tập rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản. Theo ông, những bài tập
thể dục tốt là những bài tập hình thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống
như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, trườn, bò…
Ở Việt Nam, các vấn đề nêu trên cũng đã được khá nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu.
Trong cuốn “Vun trồng thể lực cho đàn em nhỏ”, tác giả Lương Kim
Chung đã nêu ra các phương tiện và phương pháp rèn luyện thể lực cho trẻ mẫu
giáo lớn, trong đó chú trọng nhất đến các bài tập rèn luyện thể lực, các trò chơi
vận động và việc tổ chức các hoạt động ngoài trời.
Tác giả Vũ Huyền Tâm đã tìm hiểu một số biện pháp rèn luyện kỹ năng
vận động cơ bản cho trẻ 3- 4 tuổi thông qua trò chơi vận động trong luận văn
thạc sỹ của mình (2006).
Phạm Hương đã quan tâm làm sáng tỏ một số biện pháp rèn luyện kỹ
năng vận động cơ bản cho trẻ 3- 4 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời (luận văn
thạc sỹ, Thừa Thiên Huế, 2008).
Những công trình nghiên cứu trên tuy có sự khác nhau về phương diện,
mức độ nghiên cứu nhưng nhìn chung đều cho thấy vai trò của các kỹ năng vận
động cơ bản đối với sự phát triển của trẻ mầm non, coi đó là một trong những
nhiệm vụ cơ bản của giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi này.
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu những biện pháp nâng cao
chất lượng rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 5-6 tuôi.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Kỹ năng
Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng:
- Theo tác giả Lưu Xuân Mới trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” cho
rằng: Kỹ năng là sự biểu hiện kết quả thực hiện hành động trên cơ sở kiến thức
đã có. Kỹ năng là tri thức hành động.

nhân trong điều kiện họ phải tập trung chú ý cao độ vào từng động tác của bài
tập vận động.

11


Đối với trẻ mầm non, kỹ năng vận động được hình thành khi các em đang
tiếp thu kỹ thuật vận động, cố gắng thực hiện vận động với sự tập trung ý thức
cao độ vào các thao tác của bài tập. Để hình thành kỹ năng vận động cho trẻ
mầm non cần tổ chức cho trẻ thực hiện bài tập vận động dưới nhiều hình thức
khác nhau như: tập tay không, tập với dụng cụ, tập với âm nhạc, tập dưới dạng
trò chơi…
Ngoài ra, cần chú ý: muốn hình thành cho trẻ bất cứ một kỹ năng vận
động nào đều phải dựa trên các tri thức đã có và các kỹ năng vận động trước đó.
1.2.3. Rèn luyện kỹ năng vận động
Rèn luyện là luyện tập nhiều lần trong thực tế để đạt tới những phẩm chất
hay trình độ vững vàng, thông thạo.
Trong mọi hoạt động, không ai có thể đạt tới mức độ hoàn thiện sau buổi
học đầu tiên. Đối với các kỹ năng vận động cũng thế, muốn trở nên thành thạo
phải trải qua một quá trình luyện tập lâu dài cùng với sự nỗ lực của bản thân
người học.
Rèn luyện kỹ năng vận động là quá trình tổ chức luyện tập (lặp lại và
biến đổi) các bài tập vận động một cách thường xuyên dưới nhiều hình thức
khác nhau nhằm củng cố các kỹ năng, kỹ xảo vận động đã học.
Luyện tập là một trong những phương pháp cơ bản để trẻ nắm vững kiến
thức, hình thành và củng cố kỹ năng vận động. Chỉ qua luyện tập thường xuyên
trẻ mới hiểu và nhớ được kỹ thuật, trình tự thực hiện các động tác, hình thành
cảm giác nhịp điệu, phát triển các tố chất vận động cần thiết, phù hợp với độ
tuổi mầm non.
1.3. Quá trình rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 5-6 tuổi

Nhiệm vụ chủ yếu của vận động chạy là rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo
léo và sức bền; chuyển động với sự phối hợp giữa tay và chân, đưa cơ thể
chuyển động về phía trước.
- Vận động thăng bằng: Thăng bằng là thành phần cần thiết phải có của
bất kỳ vận động nào. Sự phát triển cảm giác thăng bằng diễn ra từ từ, nó có liên

13


quan tới sự hoàn thiện của vỏ đại não, sự phát triển của các cơ quan tiền đình và
cảm giác cơ bắp, giúp cho sự đánh giá đúng mọi thay đổi của cơ thể trong không
gian.
Để phát triển cảm giác thăng bằng, người ta sử dụng các bài tập đi như đi
trong đường hẹp, đi trên ghế thể dục, đi trên ván nghiêng, đi đầu đội túi cát…
1.3.2.2. Nhóm kỹ năng vận động bật, nhảy
Vận động bật, nhảy thuộc loại vận động không có chu kỳ. Khi nhảy, các
chu kỳ không được lặp lại, toàn bộ vận động được thực hiện một lần theo ba giai
đoạn: giai đoạn chuẩn bị (đánh lăng hoặc chạy lấy đà, gập khớp gối); giai đoạn
chính (bật và bay); giai đoạn kết thúc (chạm đất).
Ba giai đoạn trên của vận động bật nhảy được thực hiện một cách liên tục
và tuần tự. Khi tiếp đất, chạm bằng cả hai chân cùng một lúc, đầu tiên bằng mũi
bàn chân, rồi chuyển sang gót chân để làm giảm xóc.
Để hoàn thiện vận động nhảy cho trẻ, nên cho trẻ tập nhảy dây; nhảy lò
cò; nhảy đổi chân trước, chân sau; nhảy tiến về phía trước; nhảy lùi; nhảy sang
trái, sang phải…
1.3.2.3. Nhóm kỹ năng vận động ném, chuyền, bắt
Ném là vận động không có chu kỳ. Khi thực hiện vận động này thì phần
trên của cơ thể như các nhóm cơ bắp, cẳng tay, cổ tay và toàn thân đều tham gia
vận động, cho nên đòi hỏi trẻ phải có cảm giác thăng bằng và khả năng định
hướng tốt.

cố kỹ năng vận động cơ bản đã học.
- Tiết ôn luyện: củng cố, rèn luyện những kỹ năng vận động cơ bản mà trẻ
đã học, qua đó phát triển tố chất thể lực ở trẻ.
1.3.3.2. Trò chơi vận động
Trò chơi vận động là một dạng hoạt động phức hợp, trong đó có sự phối
hợp giữa các thao tác vận động và một số vận động cơ bản, giữa quá trình nhận
thức và vận động của người chơi. Đối với trẻ mầm non, các trò chơi vận động

15


thường có chủ đề - đó là sự phản ánh cuộc sống và lao động của con người, hoạt
động của sự vật, con vật… phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.
Trong quá trình giáo dục thể chất mầm non, trò chơi vận động là một
phương tiện hoàn thiện kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ. Ví dụ: Muốn hoàn
thiện kỹ năng chạy, ta sử dụng các trò chơi vận động “Mèo và chim sẻ”, “Chim
sẻ và ô tô” ...
Khi lựa chọn trò chơi, giáo viên nên dựa trên những điều kiện của địa
phương, trường, lớp, sự hứng thú và khả năng của trẻ, dựa vào mục đích cần
phát triển kỹ năng, kỹ xảo vận động nào ở trẻ mà lựa chọn trò chơi cho phù hợp
với yêu cầu giáo dục và rèn luyện. Chẳng hạn, những trò chơi vận động được
đưa vào phần chính của tiết học là những trò chơi nhằm rèn luyện những kỹ
năng vận động đã học cho trẻ: dùng trò chơi “Đi, chạy theo tín hiệu” để rèn
luyện kỹ năng đi, chạy; trò chơi “Ném qua dây”, rèn kỹ năng ném xa bằng một
tay.
1.3.3.3. Dạo chơi
Tiến hành dạo chơi với trẻ, giáo viên giúp trẻ nghỉ ngơi tích cực, củng cố
kỹ năng vận động, phát triển các tố chất vận động trong những điều kiện tự
nhiên. Ngoài ra còn giáo dục ở trẻ tính tập thể, lòng dũng cảm, chấp hành tổ
chức, kỷ luật…

dục thể thao có thể là sự đồng diễn thể dục, chuyển đội hình, trò chơi vận động
sau đó có thể là biểu diễn thể dục cá nhân (bật sâu, bật xa, chạy,…).
Hội khỏe được tiến hành một lần trong năm, vào khoảng tháng 3 hoặc
tháng 4.
1.3.3.5. Tổ chức rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản trong thời gian tự
hoạt động của trẻ
Trong quá trình giáo dục thể chất cho trẻ mầm non, giáo viên phải tiến
hành giáo dục cá biệt trong tất cả các hình thức giáo dục thể chất cũng như trong
thời gian tự hoạt động của trẻ.
Giáo dục cá biệt cho trẻ nhằm rèn luyện thể lực cho trẻ hoặc những nhóm
trẻ mà việc tập luyện các bài tập vận động còn chưa đạt yêu cầu, những trẻ kém

17


năng động… giúp trẻ đạt yêu cầu chung về giáo dục thể chất phù hợp với lứa
tuổi. Giáo viên sử dụng tất cả các phương pháp rèn luyện thể chất. Nội dung và
thời gian tiến hành phụ thuộc vào lứa tuổi và khả năng của trẻ. Giáo viên phải
ghi nhớ những trẻ nào ở lớp mình phụ trách còn yếu về mặt nào, kỹ năng vận
động nào chưa đạt yêu cầu để rèn luyện và củng cố cho trẻ.
1.3.4. Các phương pháp hướng dẫn rèn luyện vận động
1.3.4.1. Nhóm phương pháp trực quan
a) Làm mẫu
Trong luyện tập, giáo viên chỉ làm mẫu khi đa số trẻ thực hiện chưa đúng
kỹ thuật vận động hoặc những vận động có chi tiết kỹ thuật khó.
b) Phương pháp mô phỏng bài tập vận động
Thực chất của phương pháp này là đưa các bài tập vận động dưới dạng
các hiện tượng thiên nhiên; xã hội: đặc điểm lao động của người lớn, các
phương tiện giao thông; các đặc điểm đi lại, hành động của một số con vật; để
trẻ tập theo.

tính chất của động tác (bật xa, bật sâu, chèo thuyền, ném xa bằng một tay…).
Sử dụng phương pháp này giúp trẻ nhớ các bài tập vận động không máy
móc, dễ nhớ bài tập, làm giảm thời gian giải thích phải tập như thế nào.
b) Miêu tả bài tập vận động
Thường sử dụng đối với những bài tập, kỹ năng vận động khó hoặc những
bài tập đa số trẻ thực hiện chưa đúng.
Giáo viên có thể yêu cầu trẻ miêu tả bài tập, điều này giúp trẻ biết cách
diễn đạt bài tập vận động bằng lời kết hợp với thực hiện bài tập, buộc trẻ phải
tập trung chú ý, phát triển ở trẻ tính độc lập, có ý thức trong tập luyện.
c) Chỉ dẫn bài tập vận động
Lời chỉ dẫn của giáo viên đối với trẻ cần ngắn gọn, nhằm củng cố kỹ
năng, kỹ xảo vận động, tránh trước hoặc sửa sai cho trẻ và đánh giá việc thực
hiện bài tập của trẻ. Vì vậy, chỉ dẫn có thể đưa ra trước hoặc trong thời gian trẻ
luyện tập.

19


d) Đàm thoại bài tập vận động
Đàm thoại là sự trao đổi (dưới hình thức hỏi – trả lời) nhằm củng cố biểu
tượng vận động hoặc gợi nhớ ở trẻ về vận động. Khi bắt đầu vào buổi tập, giáo
viên có thể hỏi trẻ là ai biết thực hiện vận động? ai có thể lên vận động mẫu cho
các bạn xem?... Hoặc trong quá trình tập luyện, giáo viên có thể hỏi trẻ: bạn tập
như vậy đã đúng chưa? Những câu hỏi này giúp trẻ nhận ra sai sót, những thao
tác kỹ thuật chưa chính xác của mình và của bạn.
1.3.4.3. Nhóm phương pháp thực hành
a) Luyện tập
Phương pháp này tiến hành sau khi giáo viên làm mẫu bài tập, trẻ bắt đầu
thực hiện bài tập.
Luyện tập là một trong những phương pháp cơ bản để trẻ nắm vững kiến

trong các phạm vi rất khác nhau của cuộc sống, trong hoạt động sản xuất, trong
nghệ thuật, trong thể thao.
Đối với trẻ mầm non, phương pháp thi đua sử dụng sau khi trẻ đã nắm
tương đối vững các bước thực hiện bài tập vận động. Thường áp dụng phương
pháp này ở mẫu giáo nhỡ và lớn vì trẻ đã có kinh nghiệm vận động.
Mục đích của thi đua nhằm hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động ở
mức độ cao và rèn luyện các phẩm chất đạo đức. Thi đua làm tăng hứng thú,
kích thích, lôi cuốn trẻ vào việc tập luyện.
Phương pháp thi đua được tiến hành dưới 2 hình thức: thi đua cá nhân và
thi đua đồng đội.
Như vậy, có rất nhiều phương pháp được sử dụng để rèn các kỹ năng vận
động cơ bản cho trẻ. Để đem lại kết quả rèn luyện tốt thì khi sử dụng các
phương pháp trên cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Khi tiến hành lựa chọn các phương pháp rèn luyện cần bảo đảm tính vừa
sức, phù hợp với trình độ vận động của trẻ, các điều kiện cơ sở vật chất, dụng cụ
tập luyện…
- Cần có sự phối hợp giữa các phương pháp giảng dạy.
- Lựa chọn phương pháp phù hợp với từng đối tượng.

21


1.3.5. Đánh giá kết quả rèn luyện
Sau mỗi buổi luyện tập, giáo viên cần có những nhận xét, đánh giá về kết
quả rèn luyện của trẻ:
- Khuyến khích, động viên những trẻ yếu, nhút nhát tham gia vào hoạt
động luyện tập và những trẻ có kỹ năng vận động tốt.
- Nhấn mạnh những biểu hiện tích cực luyện tập và nhận thức của trẻ.
- Ghi lại mức độ phát triển vận động của trẻ: những trẻ nào có kỹ năng
vận động tốt, những trẻ nào còn yếu, chưa thực hiện được yêu cầu vận động đã

1.4.1. Đặc điểm phát triển thể chất
a) Về tầm vóc: Trẻ 5- 6 tuổi tăng nhanh về chiều cao, cân nặng.
- Trung bình về chiều cao:
Trẻ trai có thể đạt từ 106,4cm đến 125,8cm.
Trẻ gái có thể đạt từ 104,8cm đến 124,5cm.
- Trung bình về cân nặng:
Trẻ trai có thể đạt từ 16,0kg đến 26,6kg.
Trẻ gái có thể đạt từ 15,0kg đến 26,2kg.
b) Về giải phẫu sinh lý
Hệ xương của trẻ 5- 6 tuổi bắt đầu được cốt hóa, cơ bắp to ra. Cơ quan hô
hấp và hệ tuần hoàn phát triển mạnh. Trọng lượng của não tăng nhanh, từ 1110g
đến 1350g , gần bằng trọng lượng não của người lớn. Nhờ đó vỏ bán cầu đại não
phát triển mạnh nên vai trò điều chỉnh và kiểm tra của nó đối với vùng dưới vỏ
tăng cường rõ rệt hơn, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện tăng lên nhanh
chóng, hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển nhanh về thể chất như vậy đã tạo nên những điều kiện cần
thiết để trẻ mẫu giáo lớn có thể hoạt đông độc lập được hiều hơn và giúp chúng
lĩnh hội những hình thức mới của kinh nghiệm xã hội trong quá trình tiếp nhận
giáo dục.

23


Tuy vậy, sự phát triển đó chưa tạo ra được một chuyển biến thật mạnh
mẽ, thuận lợi cho hoạt động học tập. Phải đến 6 tuổi trở đi thì sự phát triển thể
chất của trẻ mới bắt đầu thích ứng với hoạt động học tập.
1.4.2. Đặc điểm phát triển vận động
Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra
tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự phối hợp vận động
tốt hơn. Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá

Tư duy của trẻ 5- 6 tuổi đang ở độ phát triển mạnh đặc biệt là kiểu tư duy
trực quan hình tượng. Ở giai đoạn này, một kiểu tư duy mới xuất hiện đó là kiểu
tư duy trực quan sơ đồ- bước trung gian của sự chuyển tiếp từ tư duy trực quan
hình tượng đến tư duy logic. Nhờ đó, một số yếu tố của tư duy logic được xuất
hiện, tạo cho trẻ khả năng khái quát hóa, phán đoán, suy luận và hình thành
được một số khái niệm đơn giản.
1.4.3.3. Đặc điểm phát triển trí nhớ
Đến 5 tuổi, trí nhớ có chủ định đã bắt đầu phát triển đáng kể. Vị trí ưu thế
của trí nhớ không chủ định giờ đây đã bị yếu dần đi, nhưng vai trò của nó vẫn
hết sức quan trọng trong đời sống của trẻ.
Cùng với sự phát triển của tư duy, trí nhớ có ý nghĩa bắt đầu phát triển
mạnh, những gì mà trẻ hiểu thường được ghi nhớ bền vững hơn. Tuy vậy, trí
nhớ máy móc vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ.
1.4.3.4. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành
thạo trong sinh hoạt hàng ngày. Lúc này ngôn ngữ đã thực sự trở thành phương
tiện chủ yếu để giao tiếp với mọi người xung quanh và là cơ sở để cải tổ các quá
trình tâm lý, giúp cho đời sống tinh thần của trẻ có một chất lượng mới: biết
sống và hành động theo kiểu người.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status