GIÁO ÁN DẠY THÊM NGỮ VĂN 9 THEO BÀI RẤT ĐẦY ĐỦ, CHI TIẾT - Pdf 56

ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012
Truyện Kiều
Nguyễn Du

A. Kiến thức cơ bản
I. Tác giả Nguyễn Du
- Tác giả Nguyễn Du (1765 1820)
- Tên chữ là Tố Nh
- Hiệu là Thanh Hiên
- Quê ở làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tỹnh
- Sáng tác nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ nôm.
+ 3 tập thơ chữ Hán gồm 243 bài.
+ Tác phẩm chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trờng tân thanh thờng gọi là Truyện
Kiều.
Hãy nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du đã có
ảnh hởng tới việc sáng tác Truyện Kiều.
a. Thời đại:
Nguyễn Du sinh trởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội phong kiến
Việt Nam khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục, đỉnh
cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã Một phen thay đổi sơn hà. Nhng triều đại Tây
Sơn ngắn ngủi, triều Nguyễn lên thay. Những thay đổi kinh thiên động địa ấy tác động
mạnh tới nhận thức tình cảm của Nguyễn Du để ông hớng ngòi bút của mình vào hiện
thực, vào Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
b. Gia đình:
Gia đình Nguyễn Du là gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan và có truyền thống
văn chơng. Nhng gia đình ông cũng bị sa sút. Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi
mẹ năm 12 tuổi. Hoàn cảnh đó cũng tác động lớn tới cuộc đời Nguyễn Du.
c. Cuộc đời:
Nguyễn Du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học, có hiểu biết sâu rộng và từng

- Nội dung : Từ câu truyện tình ở TQ đời Minh biến thành một khúc ca đau lòng thơng ngời bạc mệnh (vợt xa Thanh Tâm Tài Nhân ở tinh thần nhân đạo).
- Nghệ thuật:
+ Thể loại: Chuyển thể văn xuôi thành thơ lục bát thể thơ lục bát truyền thống của
dân tộc gồm 3254 câu.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả thiên nhiên, đặc biệt là bút pháp tả cảnh
ngụ tình.
+ Ngôn ngữ: Truyện Kiều đạt tới đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật.
2. Hoàn cảnh: Sáng tác vào thế kỷ XIX (1805-1809)
3. Thể loại: Truyện Nôm: loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm. Truyện có khi đợc viết
bàng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện nôm bình dân hầu hết không có tên
tác giả, đợc viết trên cơ sở truyện dân gian; truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tác
giả, đợc viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng
tạo ra. Truyện Nôm phát triển mạnh mẽ nhất ở nửa cuối thể ký XVIII và thế kỷ XIX.
4. ý nghĩa nhan đề:
Truyện Kiều có 2 tên chữ bán và 1 tên chữ nôm.
- Tên chữ hán: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân: tên của 3 nhân vật
trong truyện: Kim Trọng, Thuý Vân, Thuý Kiều.
Đoạn trờng tân thanh: tiếng kêu mới về nỗi đau thơng đứt ruột: bộc lộ chủ đề tác
phẩm (tiếng kêu cứu cho số phận ngời phụ nữ).
- Tên chữ nôm: Truyện Kiều: Tên nhân vật chính - Thuý Kiều (do nhân dân đặt).
5. Tóm tắt Truyện Kiều.
a. Phần thứ nhất : Gặp gỡ và đính ớc.
Vơng Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình
trung lu lơng thiện, sống trong cảnh "êm đềm trớng rủ màn che" bên cạnh cha mẹ và hai
em là Thuý Vân, Vơng Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp
chàng Kim Trọng "phong t tài mạo tót vời". Giữa hai ngời chớm nở một mối tình đẹp. Kim
Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhà Thuý Kiều. Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng gặp Kiều
bày tỏ tâm tình. Hai ngời chủ động, tự do đính ớc với nhau.
b. Phần thứ hai : Gia biến và lu lực
Trong khi Kim Trọng về Liêu Dơng chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan. Kiều nhờ

a. Giá trị hiện thực:
a1. Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hắc ám chà
đạp lên quyền sống của con ngời.
* Bọn quan lại :
- Viên quan xử kiện vụ án Vơng Ông vì tiền chứ không vì lẽ phải.
- Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo.
* Thế lực hắc ám:
- Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh là những kẻ táng tận lơng tâm. Vì tiền, chúng sẵn
sàng chà đạp lên nhân phẩm và số phận con ngời lơng thiện.
-> Tác giả lên tiếng tố cáo bộ mặt xấu xa bỉ ổi của chúng.
a2. Truyện Kiều phơi bày nỗi khổ đau của những con ngời bị áp bức, đặc biệt là ngời phụ nữ.
- Vơng Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đập dã man, gia đình tan nát.
- Đạm Tiên, Thuý Kiều là những ngời phụ nữ đẹp, tài năng, vậy mà kẻ thì chết trẻ, ngời
thì đoạ đày, lu lạc suốt 15 năm.
-> Truyện Kiều là tiếng kêu thơng của những ngời lơng thiện bị áp bức, bị đoạ đày.
b. Giá trị nhân đạo:
- Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du bộc lộ niềm thơng cảm sâu sắc trớc những khổ đau
của con ngời. Ông xót thơng cho Thuý Kiều một ngời con gái tài sắc mà lâm vào cảnh
bị đoạ đầy Thanh lâu hai lợt, thanh y hai lần.
- Là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con ngời nh nhan sắc, tài
hoa, trí dũng, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, vị tha
- Ông trân trọng đề cao vẻ đẹp, ớc mơ và khát khao chân chính của con ngời nh về
tình yêu, hạnh phúc, công lý, tự do
- Ông còn tố cáo các thế lực bạo tàn đã chà đạp lên quyền sống của những con ng ời lơng thiện, khiến họ khổ sở, điêu đứng.
-> Phải là ngời giàu lòng yêu thơng, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con ngời
Nguyễn Du mới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao nh thế.
2. Giá trị nghệ thuật:
Truyện Kiều đợc coi là đỉnh cao nghệ thuật của Nguyễn Du.

Lờ Th Thanh Hng

Câu 1:
Chép thuộc "Chị em Thuý Kiều:
Đầu lòng hai ả tố Nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cời, ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nớc nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thơng lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trơng.

Lờ Th Thanh Hng

4


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012


lông mày hơi đậm, cốt tả đôi mắt đẹp. Câu thơ nhằm gợi tả vẻ đẹp phúc hậu của Thúy
Vân. Thành ngữ Tiếng Việt có câu mắt phợng mày ngài.
- Đoan trang: nghiêm trang, đứng đắn (chỉ nói về ngời phụ nữ)
- Làn thu thuỷ: làn nớc mùa thu; nét xuân sơn: nét núi mùa xuân. Cả câu thơ ý nói
mắt đẹp, trong sáng nh nớc mùa thu, lông mày đẹp thanh thoát nh nét núi mùa xuân.
- Nghiêng nớc nghiêng thành: lấy ý ở một câu chữ Hán, có nghĩa là: ngoảnh lại nhìn
một cái thì thành ngời ta bị xiêu, ngoảnh lại nhìn cái nữa thì nớc ngời ta bị nghiêng ngả.
ý nói sắc đẹp tuyệt vời của ngời phụ nữ có thể làm cho ngời ta say mê đến nỗi mất
thành, mất nớc.
Câu 6:
Nguyễn Du đã miêu tả con ngời theo lối nghệ thuật mang tính ớc lệ rất quen
thuộc trong một kết cấu chặt chẽ, với ngòi bút tinh tế:
a. Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát về nhân vật.

Lờ Th Thanh Hng

5


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

Với bút pháp ớc lệ, tác giả đã gợi đợc vẻ thanh cao, duyên dáng, trong trắng của ngời
thiếu nữ ở hai chị em Thuý Kiều: Mai cốt cách, tuyết tinh thần cốt cách nh mai, tinh
thần nh tuyết. Đó là vẻ đẹp hoàn hảo mang tính hình thể, tâm hồn cả hai đều đẹp mời phân vẹn mời nhng mỗi ngời lại mang vẻ đẹp riêng.
b. Bốn câu tiếp theo: miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân.
- Câu thơ mở đầu vừa giới thiệu Thuý Vân vừa khái quát vẻ đẹp của nhân vật. Hai
chữ trang trọng gợi vẻ cao sang, quý phái.
- Với bút pháp nghệ thuật ớc lệ, vẻ đẹp của Vân đợc so sánh với những thứ cao đẹp

Kiều đạt đến mức lý tởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, hội đủ cầm, kỳ, thi, hoạ
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Tác giả đặc tả tài đàn là sở trờng, năng khiếu, nghề riêng của nàng Cung thơng lầu
bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trơng. Không chỉ vậy, nàng còn giỏi sáng
tác nhạc. Cung đàn Bạc mện của Kiều là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm Khúc
nhà tay lựa nên chơng, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.

Lờ Th Thanh Hng

6


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

Tả tài, Nguyễn Du thể hiện đợc cả cái tình của Kiều.
- Chân dung Thuý Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận. Vẻ đẹp khi cho
tạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm "lai bậc" đủ
mùi, cả cái tâm hồn đa sầu đa cảm khiến Kiều không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt
ngã, số phận éo le, gian khổ bởi "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". "Trời xanh quen
thói mà hồng đánh ghen". Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc mệnh.
* Có thể nói tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả nhân vật Thuý Kiều: Tác giả miêu tả chân
dung Thuý Vân trớc để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều, ca ngợi cả hai nhng đậm nhạt
khác nhau ở mỗi ngời: chỉ dành bốn câu thơ để tả Vân, trong đó dành tới 12 câu thơ
để tả Kiều, Vân chỉ tả nhan sắc, Kiều cả tài , sắc, tình đều đặc đặc tả. Đó chính là
thủ pháp đòn bẩy.
d. 4 câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Thuý Kiều.
- Họ sống phong lu, khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong
kiến. Tuy cả hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm nhng vẫn "trớng rũ màn che, tờng

nhãn, Nguyễn Du đã vẽ hồn cho nhân vật. Có thể nói, đây là một bức chân dung của một trang giai nhân
tuyệt sắc. vẻ đẹp ấy khiến cho hoa phải ghen, liễu phải hờn, nước nghiêng, thành đổ- Một vẻ đẹp có cjhieeuf
sâu, có sức quyến rũ đến lạ ,lùng
Những nghệ thuật nhân hóa , thậm xưng, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, điển cố,liệt kê, đối ngữ, tương hỗ đã tiếp
Nếu như ở Thúy Vân , Nguyễn Du chỉ miêu tả sắc đẹp thì ở Thúy Kiều , nhà thơ vưa miêu tả nhan sắc , vừa ca
ngợi tài năng :
Sắc đành tài một , tại đành hoạ hai
Như vậy, về sắc thì đành chỉ có một mình Thúy Kiều về tài thì may ra, họa hoằn lắm mới có người thứ hai. Thứ
nhất là trí thông minh sẵn có do tạo hóa ban tặng:
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm ,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương .
Khúc nhà tay lựa nên chương .
Xét riêng về tài đánh đàn thì Thúy kiều vượt xa những người khác . Những nốt cung , thương , giốc , chũy , vũ
trong âm giai của nạhc cổ trung Quốc và Việt Nam được nàng phối hợp một cách nhuần nhuyễn , tinh thông ,
dạt dào cảm xúc . Đặt biệt , một bản nhạc nhan đề là " Bạc mệnh " - đưa con tinh thần của Thúy Kiều - đã tác
động vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn của con người , khiến ai thưởng thức cũng phải đau khổ , sâầunão đến
rơi nước mắt . Phải chăng " một thiên bạc mệnh lại càng não nhân " ấy như muốn dư báo những đâu khổ ,
bất hạnh chồng chất trong suốt 15 năm ròng của đời người con gái tài sắc vạn toàn ?
Nhìn chung , Nguyễn Du có dụng ý rất rõ trong việc nhấn mạnh tài sắc của Thúy Kiều , nhà thơ đã cực tả Thúy
vân , tưởng như sắc đạp của Thúy Vân không ai hơn được nữa , để rồi sau đó , Thúy Kiều xuất hiện thì Thúy
Vân trở thành một cái nền làm tôn sắc đẹpcủa Thúy Kiều là tuyệt đỉnh . Còn tài của nàng cũng là tuyệt đỉnh . (
Giáo sư Nguyễn Lộc )
Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hoàn mĩ về hình thức lẫn
tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân
trọng nhất. Đó là một cái nhìn của con gnười có tấm lòng nhân dạo mênh mông như ngọn nước triều dâng .
Nguyễn du dã mở đườngbcho tư tưởng của mình đi trước thời đại . Bởi lẽ , trong xã hôi phong kiền đầy rẫy
nhưng bất công , ngang trái , hà khắc , phụ nữ luôn bị lép vế , bị ruồn rẫy , chà đạp , xô đẩy đến bức đường



Câu 7: Trong hai bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều, em thấy bức
chân dung nào nổi bật hơn, vì sao ?
- Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ớc lệ để ca ngợi cả hai chị em Thúy vân, Thúy Kiều
nhng đậm nhạt khác nhau ở mỗi ngời, rõ ràng bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật
hơn.
Chân dung Thuý Vân
Chân dung Thuý Kiều
- Dùng 4 câu thơ để tả Vân.
- 12 câu để tả Kiều
- Với Vân chỉ tả ngoại hình theo - Đặc tả đôi mắt của Kiều theo lối
thủ pháp liệt kê.
điểm nhãn vẽ - vẽ hồn cho nhân vật,
- Với Vân chỉ tả sắc.
gợi nhiều hơn tả - với Kiều tả cả
- Miêu tả chân dung Thuý Vân trớc sắc, tài, tâm.
để làm nổi bật chân dung Thuý
Kiều.
Tóm lại:
- Đặc tả vẻ đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du tập trung miêu tả các chi tiết trên khuôn
mặt nàng bằng bút pháp ớc lệ và nghệ thuật liệt kê -> Thuý Vân xinh đẹp, thùy mị đoan
trang, phúc hậu và rất khiêm nhờng.
- Đặc tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của tài và
sắc.
+ Tác giả miêu tả khái quát:
Sắc sảo mặn mà.
Một vừa hai phải ai ơi
Tài tình chi lắm

Lờ Th Thanh Hng

Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe nh nớc, áo quần nh nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bớc dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nớc uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Câu 2:
Vị trí: Cảnh ngày xuân là đoạn thơ tả cảnh ngày mùa xuân trong tiết Thanh minh
và cảnh du xuân của chị em Kiều, nằm sau đoạn tả tài sắc hai chị em Kiều, tr ớc đoạn
Kiều gặp nấm mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng. Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên, lễ hội
mùa xuân tơi đẹp, trong sáng, náo nhiệt.
Câu 3: Kết cấu đoạn trích: theo trình tự thời gian của cuộc du xuân.
+ Bốn câu đầu: Khung cảnh ngày xuân.
+ Tám câu tiếp: khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
+ Sáu câu cuối: cảnh chị em Kiều du xuân trở vể.
Câu 4: Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật.
Giá trị nội dung của Cảnh ngày xuân: là bức tranh thiên nhiên mùa xuân tơi đẹp,
trong sáng và lễ hội mùa xuân tng bừng, náo nhiệt.

Lờ Th Thanh Hng

10


ễn thi ng vn 9


công trong bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi. Qua đó, ta thấy tâm hồn con ngời
tơi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tơi tắn, hồn nhiên, nhạy cảm tha
thiết với vẻ đẹp thiên nhiên.
b. Sáu câu thơ cuối: gợi tả khung cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về.
- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nớc nhỏ, một nhịp
cầu bắc ngang nhng đã nhuốm màu tâm trạng.
- Bóng tịch dơng đã chênh chếch xế chiều: Tà tà bóng ngả về đây, dòng nớc uốn
quanh. Nhng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật mà d ờng nh con ngời cũng chìm
trong một cảm giác bâng khuâng khó tả. Cuộc du ngoạn xuân cảnh đã tàn, lễ hội tng
bừng, náo nhiệt đã chấm dứt, tâm hồn con ngời nh cũng chuyển điệu cùng cảnh vật, bớc
chân ngời thơ thẩn. Cảnh nh nhạt dần, lặng dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng,
không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn. Tâm trạng con ngời có cái
bâng khuâng xao xuyến về cuộc du xuân đã tàn, có cả linh cảm về việc gặp gỡ nấm mộ
Đạm Tiên và chàng th sinh Kim Trọng phong t tài mạo tót vời.

Lờ Th Thanh Hng

11


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

- Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ láy nh nao nao, tà tà, thanh thanh không chỉ biểu
đạt sức thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con ngời, đặc biệt hai chữ nao nao
thoáng gợi nên một nét buồn khó hiểu. Hai chữ thơ thẩn có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra
về trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn. Dan tay tởng là vui nhng thực ra là chia sẻ
cái buồn không nói hết. Cảm giá bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé
mở một vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu

b. Tả cảnh ngụ tình:
Câu 1: Chép thuộc "Kiều ở lầu Ngng Bích":
Trớc lầu Ngng Bích khoá xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

Lờ Th Thanh Hng

12


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

Nửa tình nửa cảnh nh chia tấm lòng.
Tởng ngời dới nguyệt chén đồng,
Tin sơng luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót ngời tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?
Sân Lai cách mấy nắng ma,
Có khi gốc tử đã vừa ngời ôm.
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nớc mới ra.
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

trông. Cảnh non xa, trăng gần gợi hình ảnh lầu Ngng Bích đơn độc, chơi vơi giữa

Lờ Th Thanh Hng

13


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

mênh mông trời nớc. Từ trên lầu cao nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát
bụi bay mù mịt. Cái lầu trơ trọi ấy giam một thân phận trơ trọi, không một bóng hình
thân thuộc bầu bạn, không cả bóng ngời.
Hình ảnh non xa trăng gần, cát vàng, bụi hồng có thể là cảnh thực mà
cũng có thể là hình ảnh mang tính ớc lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian,
qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều.
- Cụm từ mây sớm đèn khuya gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Tất cả nh giam hãm
con ngời, nh khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi bẽ
bàng mây sớm đèn khuya sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều thui thủi quê ngời một
thân và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thơng khiến tấm lòng Kiều nh bị
chia xẻ: Nửa tình nửa cảnh nh chia tấm lòng. Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm
trạng Kiều cũng không thể vui đợc.
Câu 7: Tâm trạng nhớ thơng Kim Trọng và thơng nhớ cha mẹ của Kiều qua
ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
* Kiều nhớ Kim Trọng trớc nhớ cha mẹ sau. Theo nhiều nhà hủ nho thì nh vậy là không
đúng với truyền thống dân tộc, nhng thật ra lại là rất hợp lý. Kiều bán mình cứu cha và em
là đã đền đáp đợc một phần công lao cha mẹ, nên nàng cắn rứt khôn nguôi.
* Cùng là nỗi nhớ nhng cách nhớ khác nhau với những lý do khác nhau nên cách thể hiện
cũng khác nhau:


ễn thi ng vn 9

nm hc 2011- 2012

tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này để khắc hoạ tâm trọng của Kiều lúc bị giam
lỏng ở lầu Ngng Bích.
- Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời
là một ẩn dụ về tâm trạng của ng ời mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác
nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi
tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một
ghê gớm, mãnh liệt hơn.
- Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều đợc
tác giả khắc hoạ qua điệp từ buồn trông đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà
trông ra bốn phía, trông ngáng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhng
trông mà vô vọng. Buồn trông có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ bút tầm nhìn, có cả dự
cảm hãi hùng của ngời con gái ngây thơ lần đầu lại bớc giữa cuộc đời ngang ngợc. Điệp
ngữ buồn trông kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ
khác nhau. Điệp ngữ lại đợc kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tợng hình, dồn
dập, chỉ có một từ láy tợng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày
một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ tạo âm hởng trầm buồn, trở
thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.
Cảch 1:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội
tâm nàng Kiều. Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nớc mênh mông trong ánh
sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt; cũng nh Kiều trong không gian vắng lặng của
hiện tại nhìn về phơng xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê h ơng. Con thuyền
gần nh mất hút, vẫn còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới đ ợc trở về sum họp,


nm hc 2011- 2012

Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi nh rơi dần vào vực thẳm một cách bất lực. Nỗi
buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng. Thiên nhiên chân thực,
sinh động nhng cũng rất ảo. Đó là cảnh đợc nhìn qua tâm trạng theo quy luật "Cảnh nào
cảnh chẳng đeo sầu - Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ".
- Cảnh đợc miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến
động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp
nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tờt cả là hình ảnh về sự vô định, mong
manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt
vọng, yếu đuối nhất. Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào
cuộc đời "thanh lâu hai lợt, thanh y hai lần".
Tóm lại:
Cảnh thiên nhiên là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc của mình.
(Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngng Bích" - Truyện Kiều).
Truyện lục vân tiên
Nguyễn Đình Chiểu
A. Kiến thức cơ bản:
I. Giới thiệu tác giả: Nguyễn Đình Chiểu
- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) sinh tại Tân Thới - Gia Định.
- Có 1 cuộc đời đầy bất hạnh: mù loà, công danh không thành, tình duyên trắc trở,
gặp buổi loạn li.
- Vẫn ngẩng cao đầu mà sống, sống có ích cho đến hơi thở cuối cùng.
- Là một thầy giáo danh tiếng vang khắp miền Lục Tỉnh.
- Là một thầy thuốc không tiếc sức cứu nhân độ thế.
- Là một nhà thơ để lại bao trang thơ bất hủ: Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc.
- Luôn nêu cao lòng yêu nớc, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm.
=> Một nhân cách lớn khiến kẻ thù cũng phải kính nể.

* Giá trị hiện thực: Vạch trần cái ác, cái xấu trong XH. Chửi thói gian ác, bất công, chửi
những kẻ tráo trở, bội bạc, phản phúc nh cha con Võ Công, chửi những kẻ bất nghĩa, bất
nhân nh Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, chửi bọn ngời làm ăn bất lơng chuyên nghề lừa bịp, bóp
nặn nhân dân (bọn thầy bói, thầy pháp, bọn lang băm).
* Giá trị nhân đạo: Đề cao đạo lý làm ngời:
- Xem trọng tình nghĩa giữa con ngời với con ngời trong xã hội: tình cha con, mẹ con,
nghĩa vợ chồng, tình bè bạn, tình yêu thơng cu mang những ngời gặp cơn hoạn nạn.
- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khổ phò nguy.
- Thể hiện khát vọng của nhân dân hớng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong
cuộc đời (kết thúc có hậu của truyện; thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà).
Lục Vân Tiên là một tiếng chửi, một lời ca, một ớc mơ Hoài Thanh.
b. Giá trị nghệ thuật:
- Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm mang tính chất là một truyện kể dân gian: chú
ý đến cốt truyện, còn nhân vật chủ yếu thể hiện bằng hành động hơn là miêu tả nội
tâm. Nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu còn là hoá thân cho lý tởng hoặc thái độ yêu
ghét của ông.
- Truyện mang màu sắc Nam Bộ cả về tính cách con ngời, cả về ngôn ngữ địa phơng.
Đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
A. Kiến thức cơ bản:
1. Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu truyện Lục Vân Tiên. Trên đờng
trở về nhà thăm cha mẹ trớc khi lên kinh đô thi, gặp bọn cớp đang hoành hành, Lục Vân
Tiên đã một mình làm gậy xông vào đánh tan bọn cớp, cứu Kiều Nguyệt Nga và cô hầu
Kim Liên.
2. Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Lục Vân Tiên đánh cớp.
- Phần 2: Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga
B. Phân tích:
1. Nêu cảm nhận của em về nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích Lục Vân
Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.
Gợi ý trả lời

để cha nàng đền đáp: Làm ơn há dễ trông ngời trả ơn. Dờng nh với Vân Tiên, làm việc
nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên của một con ngời chân chính: Nhớ câu kiến
nghĩa bất vi Làm ngời thế ấy cũng phi anh hùng. Lời Vân Tiên chắc nịch vừa để đối
chứng, phê phán những kẻ tầm thờng, vừa khẳng định việc mình làm là hiển nhiên,
thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của mình.
Với những nét tính cách đó, hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, là hình
ảnh lý tởng mà Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm niềm tin và ớc vọng của mình.
2. Nêu cảm nhận của em về nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích Lục
Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.
Với t cách là ngời chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga cũng bộc lộ nhiều nét đẹp tâm
hồn:
- Một cô gái thuỳ mị, nết na, có học thức, cách xng hô khiêm nhờng (quân tử tiện
thiếp), cách nói năng văn vẻ, mực thớc, khuôn phép (làm con đâu dám cãi cha, chút tôi yếu
liễu đào tơ), cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc triết vừa đáp ứng đầy đủ những lời
thăm hỏi ân cần của Vân Tiên, vừa bộc lộ chân thành niềm cảm kích, xúc động của
mình.
- Một con ngời đằm thắm, ân tình, c xử có trớc có sau. Với nàng, Vân Tiên không chỉ
cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng: Lâm nguy chẳng gặp giải
nguy Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi. Nàng coi đó là ơn trọng và áy náy, băn khoăn
tìm cách trả ơn dù biết rằng có đền đáp bao nhiêu cũng cha đủ: Lấy chi cho phải tấm
lòng cùng ngơi. Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai hào
hiệp ấy, dám liều mình để giữ trọn ân tình thuỷ chung với chàng.
3. Chép chính xác câu thơ nói lên quan điểm về ngời anh hùng của nhân vật
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Em hiểu câu thơ ấy nh thế nào?
Gợi ý trả lời:
Câu thơ nói rõ nhất quan niệm này của Nguyễn Đình Chiểu là:
Nhớ câu kiến ngãi bất vi
Làm ngời thế ấy cũng phi anh hùng
- Nội dung câu thơ: Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là anh hùng.


Lp bng thng kờ cỏc bi th ó hc.
Tỏc phm

Tỏc gi

Hon cnh

ng chớ
(L 1 trong
nhng tp tiờu
biu nht vit
v ngi lớnh
cỏch mng
ca vn hc
thi kỡ kc
chng Phỏp
(1946-1954)

Chớnh Hu
(Sinh 1926. Nh
th quõn
trng thnh t
hai cuc k.c
chng Phỏp v
chng M)

1948
(Sau khi tỏc
gi
cựng

PhmTin Dut
(Sinh 1941,
l1trongnhng
gng mt tiờu
biu ca th h
cỏc nh th tr
thi chng M
cu nc)

1969
(Thi kỡ ỏc
lit ca
chin tranh
chng M)

T do

Huy Cn (1919
-2005)
L nh th tiờu
biu ca nn th

1958
(Trong
chuyn i
thc t di

7 ch

Lờ Th Thanh Hng

19

Ngh thut
- Chi tit, hỡnh nh, ngụn
ng, gin d, chõn thc, cụ
ng, giu sc biu cm.
- Hỡnh nh th sỏng to va
hin thc va lóng mn: u
sỳng trng treo

-T th c ỏo: nhng chic
xe khụng kớnh
- Giu cht liu hin thc
chin trng.
- Ngụn ng, ging iu mang
nột riờng t nhiờn, kho
khon, vui tu cú chỳt ngang
tng; li th gn vi li vn
xuụi, li núi thng ngy.
-Nhiu hỡnh nh th p,
trỏng l.
- Sỏng to hỡnh nh th bng
liờn tng, tng tng


Ôn thi ngữ văn 9
mỗi ngày lại
sáng)
Bếp lửa
(In trong tập

nhà thơ trưởng
thành trong thời
kì kc chống Mĩ)

ngày ở vùng
mỏ Quảng
Ninh)

phong phú, độc đáo.
- Âm hưởng khoẻ khoắn, hào
hùng, lạc quan.

1963
( Khi tác giả
đang là sinh
viên
học
ngành luật ở
Liên Xô)

8 chữ

Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người
cháu đã trưởng thành, bài thơ đã gợi lại
những kỉ niệm đầy xúc động về người
bà và tình bà cháu đồng thời thể hiện
lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của
người cháu đối với bà và cũng là đối
với gia đình, quê hương, đất nước.



Tám
tiếng
(hát
ru)

- Tình yêu thương con gắn liền với tình
yêu nước, với tinh thần chiến đấu của
người mẹ miền tây Thừa Thiên và ước
vọng của người mẹ dân tộc Tà ôi trong
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Năm
tiếng

- Bài thơ là lời nhắc nhở về những năm
tháng gian lao đã qua của cuộc đời
người lính gắn bó với thiên nhiên, đất
nước, bình dị, hiền hậu.
- Từ đó, gợi nhắc người đọc thái độ
sống “uông nước nhớ nguồn”, ân nghĩa
thuỷ chung cùng quá khứ.

Tự do

Từ hình tượng con cò trong những lời
hát ru, ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của
lời ru đối với đời sống con người.

- Kết hợp giữa biểu cảm với

Nam thế kỉ 20)

Mùa xuân
nho nhỏ
(được phổ
nhạc)

Thanh Hải
(1930-1980)
Nhà thơ xứ Huế,
là cây bút có
công XD nền văn
học cách mạng ở
miền Nam từ
những ngày đầu)
Viễn Phương
( Sinh 1928.
Là một trong
những cây bút có
mặt sớm nhất
của lực lượng
văn nghệ giải
phóng ở miền
Nam thời kì
chống Mĩ cứu
nước)

1980
(Bài thơ
được viết


Bài thơ thể hiện lòng thành kính và
niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và
của mọi người đối với Bác Hồ khi vào
lăng viếng Bác.

Giọng điệu trang trọng và
thiết tha, nhiều hình ảnh ẩn
dụ đẹp và gợi cảm; ngôn ngữ
bình dị, cô đúc.

Hữu Thỉnh
(Sinh 1942. Là
tổng thư kí hội
Nhà Văn VN)
Y Phương
(Sinh 1949. Là
nhà thơ dân tộc
Tày. Chủ tịch hội

Sau 1975

Năm
chữ

Bài thơ gợi lại sự biến chuyển của
thiên nhiên lúc giao mùa từ hạ sang thu
qua sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ

Sau 1975


Nói với con

Lê Thị Thanh Hồng

20

- Vận dụng sáng tạo hình ảnh
và giọng điệu lời ru của ca
dao, có những câu thơ đúc
kết được những suy ngẫm
sâu sắc.
-Hình ảnh con cò mang ý
nghĩa biểu tượng sâu sắc.
Thể thơ 5 chữ có nhạc điệu
trong sáng, tha thiết, gần gũi
với dân ca: hình ảnh đẹp giản
dị, những so sánh ẩn dụ sáng
tạo.


Ôn thi ngữ văn 9
văn học NT Cao
Bằng)

năm học 2011- 2012
mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức
sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân
tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó
với truyền thống , với quê hương và ý

Phần 1: 6 câu thơ đầu: Lý giải về cơ sở của tình đồng chí. Câu 7 có cấu trúc đặc biệt (chỉ với một từ với dấu chấm than) như
một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh tình cảm giữa những người lính.
Phần 2: 10 câu thơ tiếp theo: Những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí, đồng đội của người lính
+ Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau (Ruộng nương anh gửi bạn thân cày…… nhớ người ra lính)
+ Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính (Áo anh rách vai…. Chân không giầy)
+ Sự lạc quan và tình đồng chí đồng đội đã giúp người lính vượt qua được những gian khổ, thiếu thốn ấy.
-Phần 3: 3 câu cuối: Biểu tượng giầu chất thơ về người lính.
3. Phân tích bài thơ.
Đề bài : Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để thấy bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng
liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.
Dàn ý chi tiết:
I - Mở bài:
Cách 1:
- Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Phần lớn thơ ông hướng về đề tài người lính với lời thơ đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng giàu
hình ảnh
- Bài thơ “Đồng chí” là một trong những bài thơ viết về người lính hay của ông. Bài thơ đã diễn tả thật sâu sắc tình
đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.
Cách 2: Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi mãi là hình ảnh cao quý nhất, đẹp đẽ nhất.
Hình tượng người lính đã đi vào lòng người và văn chương với tư thế, tình cảm và phẩm chất cao đẹp. Một trong những tác
phẩm ra đời sớm nhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về tình cảm của những người lính Cụ Hồ là “Đồng chí” của Chính
Hữu. Bằng những rung động mới mẻ và sâu lắng, bằng chính sự trải nghiệm của người trong cuộc, qua bài thơ “Đồng chí”,
Chính Hữu đã diễn tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.

Lê Thị Thanh Hồng

21


Ôn thi ngữ văn 9

thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nghèo, người lao động. Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái
nghèo xô đẩy, mà họ về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo
vệ Tổ Quốc. Hình ảnh : “Anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà, hình ảnh sóng đôi đã thể hiện sự gắn bó tương đồng của họ trong
nhiệm vụ và lí tưởng chiến đấu: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng
trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm
gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí.
- Tình đồng chí nảy nở bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của
những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung
chăn thành đôi tri kỉ”. Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoay mãi không đủ ấm. Đắp được chăn thì hở đầu,
đắp được bên này thì hở bên kia. Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉ của nhau.
“Tri kỉ” là người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta. Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thành người
bạn tâm giao gắn bó. Những câu thơ giản dị mà hết sức sâu sắc, như được chắt lọc từ cuộc sống, từ cuộc đời người lính gian
khổ. Bao nhiêu yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh vừa gần gũi vừa tình cảm hàm súc ấy. Chính Hữu đã từng là
một người lính, đã trải qua cuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng, sức nặng của tình cảm trìu mến, yêu
thương với đồng đội. Hình ảnh thật giản dị nhưng rất cảm động.
- Từ trong tâm khảm họ, bỗng bật thốt lên hai từ « đồng chí ». Từ “đồng chí” được đặt thành cả một dòng thơ ngắn gọn
mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng. Từ “đồng chí’ với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái
biểu cảm khac nhau, nhấn mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục
đích. Nhưng trong tình cảm ấy một khi có cái lõi bên trong là « tình tri kỉ » lại được thử thách, được tôi rèn trong gian khổ thì
mới thực sự vững bền. Không còn anh, cũng chẳng còn tôi, họ đã trở thành một khối đoàn kết, thống nhất gắn bó. Như vậy,
trong tình đồng chí có tình cảm giai cấp (xuất thân từ nông dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bó giữa con người cùng
chung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu. Và khi họ gọi nhau bằng tiếng “đồng chí” họ không chỉ còn là người nông dân
nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thành anh em trong cả một cộng đồng với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạo
nên sự hồi sinh cho quê hương, cho dân tộc. Câu thơ vẻn vẹn có 2 chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu
thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu thật là hàm súc.
2.Nhưng Chính Hữu đã không dừng lại ở việc biểu hiện những xúc cảm về quá trình hình thành tình đồng chí. Trong
mười câu thơ tiếp theo nhà thơ sẽ nói với chúng ta về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí
Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau.
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Là người lính, các anh đã từng trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu trong hoàn cảnh thiếu thuốc men, lại thêm trang
phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá: “áo rách vai, quần tôi vài mảnh vá, chân không giày…” Tất cả những khó khăn
gian khổ được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không một chút tô vẽ. Ngày đầu của cuộc kháng chiến, quân đội Cụ
Hồ mới được thành lập, thiếu thốn đủ đường, quần áo rách bươm phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn được gọi là
“vệ túm”. Đọc những câu thơ này, ta vừa không khỏi chạnh lòng khi thấu hiểu nhưng gian nan vất vả mà thế hệ cha ông đã
từng trải qua vừa trào dâng một niềm kính phục ý chí và bản lĩnh vững vàng của những người lính vệ quốc.
- Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến tranh, người lính chia sẻ cho nhau tình
thương yêu ở mức tột cùng. Chi tiết “miệng cười buốt giá” đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội và tinh thân lạc quan của
người chiến sĩ. Rồi đến cái cử chỉ “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã thể hiện được tình thương yêu đồng đội sâu sắc.
Cách biểu lộ tình thương yêu không ồn ào mà thấm thía. Trong buốt giá gian lao, những bàn tay tìm đến để truyền cho nhau
hơi ấm, truyền cho nhau niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh để vượt qua tất cả, đẩy lùi gian khổ. Những cái nắm tay ấy đã
thay cho mọi lời nói. Câu thơ ấm áp trong ngọn lửa tình cảm thân thương! Nhà thơ đã phát hiện rất tinh cái sức mạnh tinh
thần ẩn sâu trong trái tim người lính. Sức mạnh tinh thần ấy, trên cơ sở cảm thông và thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau đã tạo nên
chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng này.
3.Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp về tình đồng chí:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Ba câu thơ tả một đêm phục kích giặc. Nền bức tranh là đêm – “rừng hoang sương muối”gợi
ra một cảnh tượng âm u, hoang vắng và lạnh lẽo. Không chỉ cái giá, cái rét cứ theo đuổi mà còn bao
nguy hiểm đang rình rập người chiến sĩ.
- Nổi bật trên nền hiện thực khắc nghiệt ấy là những người lính đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
trong cái nơi mà sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Từ “chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế, cái tinh
thần chủ động đánh giặc của họ. Rõ ràng khi những người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi,
truyền cho nhau hơi ấm thì tình đồng chí đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm họ để họ có sức mạnh vượt
qua cái cái gian khổ, ác liệt, giá rét ấy… Tầm vóc của những người lính bỗng trở nên lớn lao anh
hùng.
- Câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành quân phục kích giặc của

nhng ngi nụng dõn hin lnh chõn tht gn bú vi rung ng. Tỡnh cm y c hỡnh thnh
trờn c s tỡnh yờu T Quc, cựng chung lớ tng v mc ớch chin u. Hon cnh chin u gian
kh v ỏc lit li tụi luyn th thỏch lm cho mi tỡnh ng chớ ng i ca nhng ngi lớnh cng
gn bú, keo sn. Mi tỡnh thiờng liờng sõu nng, bn cht ú ó to nờn ngun sc mnh to ln
nhng ngi lớnh ỏo rỏch vai, chõn khụng giy vt lờn mi gian nguy i ti v lm nờn
thng trn vit lờn nhng bn anh hựng ca Vit Bc, Biờn gii, Ho Bỡnh, Tõy Bc . tụ thm
thờm trang s chng Phỏp ho hựng ca dõn tc.
III - Kt lun:
Bi th ng chớ va mang v p gin d li va mang v p cao c thiờng liờng, th mng. Cu trỳc song hnh
v i xng xuyờn sut bi th lm hin lờn hai gng mt ngi chin s rt tr nh ang th th, tõm tỡnh, lm ni bt ch
t tng: Tỡnh ng chớ gn bú keo sn. Chõn dung ngi lớnh v quc trong nhng ngy u khỏng chin chng Phỏp
hin lờn tht p qua nhng vn th mc mc, chõn tỡnh m gi nhiu suy tng. Vi nhng c im ú, bi th xng
ỏng l mt trong nhng tỏc phm thi ca xut sc v ti ngi lớnh v chin tranh cỏch mng ca vn hc Vit Nam.
B. Mt s cõu hi luyn tp
Cõu 1: Vit on vn trỡnh by cm nhn ca em v on cui bi th ng chớ ca Chớnh Hu.
(Tham kho phn 3 ca bi phõn tớch)
Cõu hi tng t: Sa li cõu vn sau : Vi hỡnh nh ô u sỳng trng treo ằ ó din t y sc gi cm mi tỡnh tỡnh ng
chớ keo sn trong bi bi th ô ng chớ ằ c sỏng tỏc nm 1954 sau chin thng Vit Bc.
Trin khai on vn cú cõu ch trờn.
Cõu 2: Phõn tớch hỡnh nh ngi lớnh trong bi th ng chớ
- Bi th v tỡnh ng chớ ó cho ta thy v p bỡnh d m cao c ca ngi lớnh cỏch mng, c th õy l anh b i
hi u cuc khỏng chin chng Phỏp.
+ Hon cnh xut thõn: h l nhng ngi nụng dõn nghốo ra i t hai min t xa nhau: nc mn ng chua, t
cy lờn si ỏ.
+ H ra i vỡ ngha ln (hai ch mc k núi c cỏi dt khoỏt, mnh m ...mc dự vn luụn lu luyn vi quờ hng
ging nc gc a....
+ H ó tri qua nhng gian lao, thiu thn tt cựng, nhng cn st rột run ngi, trang phc phong phanh gia mựa
ụng lnh giỏ => Nhng gian kh cng lm ni bt v p ca anh b i: sỏng lờn n ci ca ngi lớnh (ming ci but
giỏ)
+ p nht h l tỡnh ng chớ ng i sõu sc, thm thit

a.Bảy câu đầu: sự lí giải về tình đồng chí.
b.Mười câu tiếp theo: là những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí.
c.Ba câu cuối cùng: biểu tượng đẹp đẽ giàu chất thơ của tình đồng chí.
Câu 6. Phân tích bài thơ để thấy rõ chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu với rất nhiều dáng vẻ:
Chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu với rất nhiều dáng vẻ. “Anh với tôi” khi thì riêng rẽ trong từng dòng thơ để
nói về cảnh ngộ của nhau: “Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”; khi lại chen lên đứng
vào cùng một dòng: “Anh với tôi đôi người xa lạ/ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Từ riêng lẻ đã nhập thành “đôi”,
thành chung khăng khít khó tách rời: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”. Đây là những
hình ảnh đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình đồng chí. Câu thơ đang từ trải dài, bỗng cô đọng lại thành hai tiếng “Đồng chí!” vang
lên thiết tha, ấm áp, xúc động như tiếng gọi của đồng đội và nó khắc ghi trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng
đó. Tình đồng chí là cùng giai cấp, cùng nhau từ những chi tiết nhỏ nhất của đời sống: “âo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh
vá/ Miệng cười buốt giá/ Chân không giày”. Trong buốt giá gian lao, các anh chuyền cho nhau hơi ấm tình đồng đội:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Những bàn tay không lời mà nói được tất cả, các anh sát cánh bên nhau để cùng đi tới
một chiều cao: “Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo”. Cùng chung
chiến hào, cùng chung sống chết, đó chính là biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí. Chính tình đồng chí đã khiến các anh
ngay giữa nguy hiểm gian lao vẫn thấy tâm hồn thanh thản và lãng mạn. Và đó cũng chính là tình cảm xã hội thiêng liêng
nhất, là cội nguồn của tình yêu nước, của sức mạnh con người Việt Nam
Câu 7: Viết đoạn văn quy nạp (15 câu) :
Tám câu thơ (Đồng chí – Chính Hữu) đã nói thật giản dị những thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Và tình đồng đội đầy mến
thương đã tiếp thêm sức mạnh giúp họ vượt qua mọi thử thách.
Gợi ý :
- 5 câu đầu : những câu thơ dung dị nói về những gian khổ của người lính : người nông dân mặc áo lính giản dị, nghèo khó…
áo rách, quần vá… hình ảnh thơ giản dị như đời sống.
- Nói đến những thiếu thốn của người chiến sĩ nhưng ở những câu thơ tiếp theo, ta thấy những thiếu thốn ấy đâu chỉ tồn tại
riêng rẽ với hai cá thể anh và tôi mà đã hoà nhập yêu thương gắn bó. Nụ cười buốt giá, cái cười lạc quan, xua đi cái lạnh giá
… nụ cười của những con người như đang cố gắng vượt qua cái rét buốt ruột buốt gan ấy. Hình ảnh thơ vừa tô đậm những
gian nan, thiếu thốn, vừa thể hiện nghị lực vượt qua mọi khó khăn của những anh lính vệ trọc (sốt rét - rụng tóc) =>Những
câu thơ được viết theo thể thơ tự do rất dung dị với những hình ảnh thơ chân thực càng giúp ta thêm hiểu về cuộc chiến tranh
đã qua, những vất vả mà người lính đã nếm trải, vừa cảm phục quá khứ hào hùng….
- Đến câu cuối khổ, nhịp thơ thay đổi, dài ra trầm lắng, âm điệu câu thơ lan toả như bộc lộ tình cảm. Đây có thể là hình ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status