Hội quán người hoa ở nam bộ từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỤY HỒNG YẾN

HỘI QUÁN NGƢỜI HOA Ở NAM BỘ
TỪ CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẾN GIỮA
THẾ KỶ XX
Ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 9229013

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. NGÔ MINH OANH
2. TS. PHẠM THỊ THU NGA

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất cứ một công trình nào./.
Tác giả luận án

LÊ THỤY HỒNG YẾN


MỤC LỤC

thống. Việc ứng xử với cộng đồng ngƣời Hoa ra sao, có những chính sách nào
phù hợp đều cần phải dựa trên cơ sở hiểu rõ về cộng đồng này. Ở Việt Nam,
Nam Bộ là nơi có đông ngƣời Hoa sinh sống nhất, đặc biệt là vùng đất Sài
Gòn – Chợ Lớn chiếm 50% ngƣời Hoa cả nƣớc và 60% ngƣời Hoa của vùng
đất phƣơng Nam, điều này đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với vấn đề
an ninh, phát triển và hội nhập. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về ngƣời Hoa
nói chung có ý nghĩa cấp thiết cao.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, do có những đặc thù
về mặt địa lý, đồng thời chịu những ảnh hƣởng về điều kiện chính trị, xã hội
của khu vực và quốc tế, cho nên Việt Nam là nơi diễn ra sự đan xen, giao thoa
giữa các nền văn hóa, tộc ngƣời; trong đó nhân tố ngƣời Hoa nổi lên thƣờng
xuyên và có ảnh hƣởng lớn. Từ rất sớm, ngƣời Hoa đã có mặt ở Việt Nam với
số lƣợng khá đông đảo. Từ cuối thế kỷ XVII, những nhóm lƣu dân ngƣời Hoa
đã đến Đàng Trong và dần dần trở thành một bộ phận của cƣ dân Việt Nam.
Trƣớc những khó khăn, thách thức phải đối mặt ở vùng đất mới, cộng đồng
ngƣời Hoa đã thành lập các hội quán để hỗ trợ, giúp đỡ nhau, đồng thời qua
đó tăng thêm sự cố kết lẫn nhau trong cộng đồng. Hội quán của ngƣời Hoa
đƣợc thành lập với chức năng là nơi dành cho các hiệp hội theo ngôn ngữ hay
theo xuất xứ. Hội quán là hình thức cổ truyền quan trọng nhất của cộng đồng
ngƣời Hoa trong quá trình thích nghi tại Đông Nam Á nói chung và tại Việt
Nam nói riêng. Do vậy, có thể khẳng định hội quán ngƣời Hoa là một đối
tƣợng nghiên cứu về đề tài ngƣời Hoa nói chung.
Từ trƣớc đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài ngƣời
Hoa xoay quanh vấn đề định cƣ, tôn giáo, tín ngƣỡng, chùa chiền, các lĩnh
vực sinh hoạt kinh tế, thƣơng mại, chính sách của các chính quyền…, nhƣng
chƣa có một công trình riêng biệt, chuyên sâu nào nghiên cứu về hội quán
1


ngƣời Hoa ở Nam Bộ. Vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu hội quán ngƣời Hoa



3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian: luận án tập trung tìm hiểu các hội quán ngƣời
Hoa ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX.
Mốc thời gian mở đầu là vào năm 1787, Chúa Nguyễn Phúc Ánh cho
lập bốn bang ngƣời Hoa, bao gồm: Quảng Châu, Phúc Kiến, Triều Châu và
Hải Nam nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, dễ dàng trong việc kiểm
soát và thu thuế mau lẹ [102, tr.36-37]. Tiếp đó, vào năm 1790, Chúa Nguyễn
Ánh lập ra “phủ” với các chức Cai phủ, Ký phủ để tổ chức, quản lý ngƣời
Hoa di trú ở Gia Định [111, tr.34].
Mốc thời gian kết thúc là vào ngày 10/6/1960, Tổng thống Ngô Đình
Diệm đã ra “Sắc lệnh số 133-NV (gồm 8 điều) quyết định giải tán các Lý sự
Hội quán Trung Hoa và các Bang Á kiều khác”. Sau đó, Thủ tƣớng chính phủ
lâm thời Sài Gòn là Nguyễn Ngọc Thơ tiếp tục ban hành “Sắc lệnh số 39-TTP
ngày 23/12/1963 sửa đổi sắc lệnh số 133-NV ngày 10/6/1960 về việc giải tán
các Lý sự Hội quán Trung Hoa và các Bang Á kiều khác”.
Phạm vi về không gian: luận án nghiên cứu trên một phạm vi không
gian khu vực Nam Bộ. Vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn là một trong những địa
phƣơng có ngƣời Hoa cƣ trú lâu đời và chiếm số lƣợng đông đảo nhất; nơi
đây vẫn còn bảo lƣu nhiều hội quán với các đặc điểm cơ cấu tổ chức, các hoạt
động văn hóa, xã hội, kiến trúc, nghệ thuật… cũng nhƣ các yếu tố đặc trƣng
văn hóa của tộc ngƣời Hoa. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
chọn Sài Gòn – Chợ Lớn làm địa bàn nghiên cứu chính, đồng thời tiến hành
khảo sát ở các địa phƣơng còn lại của vùng đất Nam Bộ để có cái nhìn tổng
quan về hội quán của ngƣời Hoa.
Phạm vi nội dung nghiên cứu: chúng tôi xác định đây là vấn đề vừa
rộng vừa khó, do vậy khuôn khổ luận án chỉ tập trung giải quyết một số vấn
đề chính là: quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, các hoạt động và vai trò của
hội quán đối với cộng đồng ngƣời Hoa ở vùng đất Nam Bộ.

Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: làm sáng rõ hơn hội quán ngƣời Hoa ở
Nam Bộ so với hội quán ngƣời Hoa ở những nơi khác.
Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp cụ thể: giúp chúng tôi chọn ra
những địa phƣơng mang tính đặc trƣng nhất khi nghiên cứu hội quán ngƣời
4


Hoa ở Nam Bộ (nơi mà ngƣời Hoa sinh sống với mật độ dân cƣ lớn, tập
trung) nhƣ: Đồng Nai, Mỹ Tho và đặc biệt là Sài Gòn – Chợ Lớn.
Phƣơng pháp điền dã: việc sử dụng tƣ liệu gốc văn bia, tƣ liệu địa
phƣơng là một trong những phƣơng pháp không thể thiếu. Chúng tôi đã tiến
hành khảo sát điền dã để tìm, dịch và phân tích tƣ liệu liên quan đến đề tài
luận án.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành
nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu dân tộc học, phƣơng pháp xã hội học, phƣơng
pháp nghiên cứu văn hóa (nhất là văn hóa tộc ngƣời)… để giải quyết những
mục tiêu, nhiệm vụ luận án đặt ra.
4.3. Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi dựa trên 3 nguồn tƣ liệu:
Thứ nhất là tƣ liệu gốc: chúng tôi khai thác các thông tin về ngƣời Hoa
ở vùng đất Nam Bộ từ các bộ chính sử nhƣ Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất
thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Gia Định thành thông chí. Bên
cạnh đó, chúng tôi cũng xúc tiến khai thác những văn bản gốc liên quan đến
các chính sách, quyết định bổ nhiệm của chính quyền, báo cáo về một số hoạt
động của ngƣời Hoa, hội quán ngƣời Hoa dƣới thời Pháp thuộc và dƣới thời
chính quyền Sài Gòn (chủ yếu thời Ngô Đình Diệm) đƣợc lƣu trữ trong Trung
tâm lƣu trữ Quốc gia II, Thƣ viện Khoa học Tổng hợp (thuộc tƣ liệu hạn chế).
Thứ hai là những công trình nghiên cứu, các tài liệu viết chuyên đề về
ngƣời Hoa xuất bản trong và ngoài nƣớc cùng nhiều bài viết đăng trên các tạp
chí chuyên ngành nhƣ Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu lịch sử, Xƣa và

và học tập của sinh viên ngành lịch sử, ngành văn hóa học, các ngành thuộc
khoa học xã hội và nhân văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho các cơ quan, ban ngành chức năng trong việc đề ra chủ trƣơng, chính sách
phù hợp đối với ngƣời Hoa nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống tộc ngƣời,
tăng cƣờng đoàn kết gắn bó với cộng đồng, phát huy các tiềm năng và thế
mạnh của ngƣời Hoa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

6


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua công trình nghiên cứu, luận án đóng góp thêm tƣ liệu về vùng đất
và con ngƣời Nam Bộ.
Luận án cũng góp phần làm rõ các hoạt động và vai trò của hội quán
ngƣời Hoa ở Nam Bộ, từ đó gợi mở một số hƣớng nghiên cứu mới cho những
công trình tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của đề tài luận án gồm 4 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và thuật ngữ liên quan đến
đề tài
Chương 2. Khái quát về vùng đất, con người Nam Bộ và sự hình thành,
phát triển của hội quán người Hoa ở Nam Bộ.
Chương 3. Hoạt động của hội quán người Hoa ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ
XVIII đến giữa thế kỷ XX.
Chương 4. Đặc điểm, tính chất, vai trò của hội quán đối với cộng đồng
người Hoa ở Nam Bộ

làng xã và chức năng làng xã, về giáo dục, tín ngƣỡng, hiếu hỷ, tang ma, sở
hữu ruộng đất… ở Việt Nam. Tác giả có dành những trang viết về hiệp hội
8


nghề, ngƣời Hoa và làng Minh Hƣơng, nội dung này đƣợc chúng tôi tham
khảo khi thực hiện luận án.
Tại Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, các công trình nghiên cứu về
ngƣời Hoa ở Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Tiêu biểu là các công trình nghiên
cứu của tác giả Trần Kinh Hòa (Chen Chingho) về cộng đồng Minh Hƣơng ở
Hội An nhƣ: “Chú thích Mạc thị gia phả Hà Tiên trấn Hiệp trấn” (Học báo
Văn Sử Triết, Đài Loan, số 7 – 1956), “Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã
và các cổ tích tại Hội An” (1960, 1962), “Phố người Đường và thương
nghiệp ở Hội An thế kỷ XVII – XVIII” (Học báo Tân Á, Hƣơng Cảng, số 1,
quyển 3, 1969)… Tác giả đã nghiên cứu về lịch sử di cƣ của ngƣời Hoa cũng
nhƣ quá trình hình thành các nhóm cộng đồng ngƣời Hoa ở Việt Nam. Ngoài
ra, tác giả cũng tiến hành khảo sát các điểm tụ cƣ của ngƣời Hoa từ thời Đàng
Trong nhƣ làng Minh Hƣơng, phố Thanh Hà ở Thuận Hóa (Huế), làng Minh
Hƣơng ở Hội An, đất Hà Tiên và họ Mạc… Đây là các tác phẩm có nguồn
gốc từ việc khảo cứu địa phƣơng có giá trị khoa học.
Tác giả Furiwara Riichio đã có bài viết Chính sách đối với dân Trung
Hoa di cư của các triều đại Việt Nam (1974) trên tập san Việt Nam khảo cổ.
Tác giả đã trình bày vắn tắt và đƣa ra những nhận định của mình về một số
khía cạnh trong nội dung chính sách của các vƣơng triều Việt Nam đối với di
dân Trung Hoa. Đề tài thì rộng mà chỉ đƣợc trình bày trong một bài viết ngắn,
cho nên tác giả không tránh khỏi việc thiếu tƣ liệu chứng minh, sơ lƣợc về nội
dung, mặc dù nhận định của tác giả tỏ ra khá xác đáng, phần nào cung cấp
cho chúng tôi những thông tin về các chính sách của các triều đại Việt Nam
đối với ngƣời Hoa.
Năm 1992, Hội Sử học Việt Nam cho xuất bản cuốn L'Empire

dưới triều Minh Mạng (2011). Bằng phƣơng pháp nghiên cứu thực chứng và
phân tích định lƣợng, tác giả đã phục dựng toàn cảnh vùng đất Nam Bộ dƣới
triều vua Minh Mạng, một mảnh đất đầy tiềm năng, xung lực nhƣng cũng
hàm chứa nhiều mâu thuẫn nội tại. Mặc dù đây chƣa phải là công trình nghiên
cứu có nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài, nhƣng ít nhiều chúng tôi cũng
đã tiếp thu những thông tin về ngƣời Hoa, ngƣời Minh Hƣơng qua góc nhìn
của tác giả.
10


Paul Doumer viết Xứ Đông Dương (L‟Indo – Chine francaise), đƣợc
xuất bản tại Việt Nam vào năm 2016. Đây là những hồi ức sống động của một
ngƣời từng cai quản cả Đông Dƣơng với những tƣ liệu giá trị về xứ sở này
trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Trong chƣơng viết về
Nam Kỳ, tác giả có nêu những thông tin về ngƣời Hoa ở Mỹ Tho, Vĩnh Long
và đặc biệt là vùng Sài Gòn – Chợ Lớn.
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu trong nước
Vấn đề về ngƣời Hoa ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ
XVIII đến giữa thế kỷ XX đã đƣợc những bộ chính sử và những tác giả
đƣơng thời đề cập với những mức độ khác nhau. Có thể kể đến Đại Nam thực
lục, Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ, Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức)… Những
công trình này đã ghi lại những sự kiện, hiện tƣợng xảy ra dƣới thời Nguyễn,
trong đó có một số thông tin liên quan đến ngƣời Hoa.
Một trong những nghiên cứu mang tính tiên phong về đề tài ngƣời Hoa
là công trình nghiên cứu Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ của
tác giả Đào Trinh Nhất, xuất bản năm 1924 bằng tiếng Việt. Trong tác phẩm
của mình, tác giả Đào Trinh Nhất đã đề cập đến hai vấn đề chính: thời gian
ngƣời Hoa sang Nam Kỳ, dân số, tình hình buôn bán, y tế, giáo dục của ngƣời
Hoa ở Nam Kỳ; đồng thời tác giả cũng lý giải những nguyên nhân, các giải

trung vào vấn đề bang và bang trƣởng. Những bài viết này đã góp phần nhất
định vào nguồn tƣ liệu cho các nhà nghiên cứu về sau.
Cuốn Sài Gòn năm xưa của tác giả Vƣơng Hồng Sển xuất bản năm
1968 bao gồm 8 phần và phần phụ lục. Bên cạnh việc “nhắc lại cuộc Nam
tiến vĩ đại của dân Việt”, tìm hiểu về địa danh, vị trí “Sài Gòn”, tác giả viết
về nhiều khía cạnh trong cuộc sống của ngƣời Hoa nhƣ: quá trình di dân,
phong tục tập quán, chùa chiền, đƣờng phố, các nhân vật ngƣời Hoa tiêu
biểu… Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ miêu tả và điểm qua một
vài nét về ngƣời Hoa mà thôi.
Một số luận văn của học viên trƣờng Quốc gia Hành chánh ở Sài Gòn
trƣớc 1975 tuy không đề cập trực tiếp đến tổ chức bang, hội quán của ngƣời
12


Hoa, nhƣng phần nào cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết về đời sống
sinh hoạt văn hóa – xã hội, kinh tế của ngƣời Hoa ở miền Nam trƣớc năm
1975. Điểm chung của các luận văn này là nghiên cứu về ngƣời Hoa ở thời
điểm “nhạy cảm” khi chính quyền Sài Gòn thi hành các biện pháp quản lý
ngƣời Hoa chặt chẽ và cứng rắn. Có thể kể đến các tác giả sau: Lƣu Trƣờng
Khƣơng, Trần Thanh Long, Trƣơng Hoàng Tấn, Nguyễn Văn Sang…
Từ sau khi đất nƣớc thống nhất, điều kiện nghiên cứu cũng đƣợc thuận
lợi hơn trƣớc. Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về ngƣời Hoa ở Việt Nam trên các
phƣơng diện kinh tế, chính trị, xã hội…, những công trình nghiên cứu về
ngƣời Hoa một cách hệ thống và chuyên sâu đã xuất hiện. Tuy nhiên, cũng có
khi do những biến động chính trị, xã hội hoặc có một số sự kiện ở Việt Nam
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cộng đồng ngƣời Hoa mà ít nhiều tác
động đến quan điểm của ngƣời nghiên cứu.
Tác giả Huỳnh Lứa đã tập hợp những bài viết trƣớc đây của mình
trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,
XVIII (2000) và viết cuốn sách Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ (2017)

Dẫu vậy, từ những nội dung đƣợc tác giả trình bày sẽ tạo tiền đề cho những
công trình nghiên cứu về ngƣời Hoa tiếp theo trong tƣơng lai.
Tác giả Nguyễn Văn Huy và công trình nghiên cứu Người Hoa tại Việt
Nam (1993) đã nêu lên nhiều vấn đề cơ bản nhƣ: nhập cƣ, quốc tịch, dân số,
chính sách đối với ngƣời Hoa từ thời quân chủ cho đến trƣớc năm 1975 và vị
trí của ngƣời Hoa trong nền kinh tế Việt Nam… Bên cạnh đó, tác giả cũng giới
thiệu những nét chính, thế mạnh trong hoạt động kinh tế của các bang và hội
của ngƣời Hoa. Đây là công trình cung cấp nhiều tƣ liệu về ngƣời Hoa ở Việt
Nam, do vậy, chúng tôi có sự kế thừa nhất định từ những nội dung này.
Tác giả Nghị Đoàn – Chủ tịch Hội văn hóa các dân tộc thành phố Hồ
Chí Minh – đã biên soạn cuốn sách Người Hoa ở Việt Nam – Thành phố Hồ
Chí Minh (1999). Đây là chuyên khảo về ngƣời Hoa, đƣợc chính tác giả tập
hợp lại sau những năm tháng tham gia công tác tổ chức ngƣời Hoa. Tác phẩm
đã cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin về các chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc hiện nay đối với ngƣời Hoa ở Việt Nam nói chung và ngƣời Hoa ở Nam
14


Bộ nói riêng. Ngoài việc đúc kết những bài học kinh nghiệm trong công tác
Hoa vận, tác giả còn rút ra nhận định: quá trình hòa nhập của ngƣời Hoa vào
cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã bị cản trở dƣới thời Pháp thuộc và thời
chính quyền Sài Gòn.
Tác giả Nguyễn Cẩm Thúy với Định cư của người Hoa trên đất Nam
Bộ từ thế kỷ XVII đến năm 1945 (2000) đã trình bày về những làn sóng di cƣ
của ngƣời Hoa vào Việt Nam và vùng đất Nam Bộ, các hoạt động kinh tế, tổ
chức xã hội – chính trị, văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Hoa. Tác phẩm cũng
nhấn mạnh tinh thần tƣơng trợ của ngƣời Hoa đƣợc duy trì bền chặt là nhờ
vào sự điều hành khéo léo của tổ chức bang, hội và vai trò của bang trƣởng.
Tác giả cũng cho thấy những đặc điểm cơ bản của ngƣời Hoa trong các mối
liên kết xã hội.

Tƣờng, Lý Lƣợc Tam, Lê Hải Đăng, Phạm Hoàng Quân cùng viết cuốn sách
Văn hóa và nghệ thuật người Hoa thành phố Hồ Chí Minh (2006), Người Hoa
tại thành phố Hồ Chí Minh (2007). Đến năm 2012, nhóm tác giả trên có
những kế thừa từ công trình nghiên cứu cũ, đồng thời có bổ sung thêm để
xuất bản cuốn sách Đặc khảo văn hóa người Hoa ở Nam Bộ. Nhóm tác giả
mong muốn phục dựng nên bức tranh toàn cảnh về văn hóa của cộng đồng
ngƣời Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh cũng nhƣ vùng đất Nam Bộ trên cơ sở
trình bày khái lƣợc về các cộng đồng ngƣời Hoa, các hoạt động tôn giáo, tín
ngƣỡng, các loại hình văn hóa cụ thể, các thể loại nghệ thuật, phong tục tập
quán, các di tích kiến trúc nghệ thuật của ngƣời Hoa. Đây là những khảo cứu
về ngƣời Hoa với nguồn tƣ liệu phong phú, do đó, chúng tôi có sự tiếp thu và
kế thừa khi thực hiện luận án.
Cuốn sách 100 câu hỏi đáp về người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh
(2013) của tác giả Phan Thị Yến Tuyết – Cao Tự Thanh đã giới thiệu tóm tắt
những vấn đề, sự kiện, nhân vật nổi bật trong lịch sử phát triển của cộng đồng
ngƣời Hoa ở vùng đất Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Tác
phẩm này đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin ngắn gọn, súc tích về
những đặc điểm của cộng đồng ngƣời Hoa, nhất là thời Pháp thuộc.

16


Nam Bộ đất và người do tác giả Võ Văn Sen chủ biên (2011) là bộ sách
tập hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau về phƣơng pháp luận, lịch sử,
nhân vật, vấn đề khảo cổ và di sản văn hóa. Trong bộ sách này có một số bài
viết về Hà Tiên, Mỹ Tho, cổ vật lƣ hƣơng trong các ngôi miếu của ngƣời Hoa
ở thành phố Hồ Chí Minh…, đƣợc chúng tôi lựa chọn tham khảo.
Sài Gòn xưa và nay (2013) là cuốn sách tập hợp bài viết của nhiều tác
giả, tập trung trên các lĩnh vực lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… về
vùng đất Sài Gòn. Đáng chú ý trong cuốn sách này là những bài viết về văn

Đông Nam Á (1984), Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước đông
Nam Á (1992), Sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế kỷ XVII –
XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX (2001), Tìm hiểu các tổ chức xã hội và nghiệp
đoàn của người Hoa ở Việt Nam trong lịch sử (2002), Nguyên nhân di cư và
các dạng di trú của người Hoa trong lịch sử (2002), Đặc điểm và xu hướng
đầu tư của người Hoa ở Việt Nam (thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn)
(2002), Vị trí người Hoa trong nền thương mại Việt Nam thời Pháp thuộc
(2002), Đặc trưng văn hóa kinh doanh của người Hoa (2004)… Tác giả đã
trình bày những chính sách cơ bản thời triều Nguyễn, thời Pháp thuộc, thời
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với ngƣời Hoa trên các mặt nhập cảnh,
cƣ trú, chuyển quốc tịch, vấn đề thuế khóa, an ninh trật tự, vấn đề xã hội. Đặc
biệt, khi trình bày về vai trò của ngƣời Hoa trong nền kinh tế nƣớc ta thời
Pháp thuộc và dƣới chế độ Sài Gòn, tác giả Trần Khánh còn cung cấp những
số liệu, bảng biểu, sơ đồ hết sức có giá trị. Có thể nói các bài báo trên là một
sự phác thảo quan trọng để các công trình nghiên cứu sau này có điều kiện bổ
sung chi tiết và hoàn chỉnh hơn về nội dung.
Vào năm 2017, có hai bộ sách về vùng đất Nam Bộ đƣợc cuất bản. Một
bộ tổng quan, rút gọn: Vùng đất Nam Bộ - Quá trình hình thành và phát triển
(2 tập) do giáo sƣ Phan Huy Lê chủ biên và một bộ chuyên khảo sâu gồm 10
tập, nghiên cứu toàn diện trên nhiều lĩnh vực của vùng đất phƣơng Nam, từ
điều kiện tự nhiên, quá trình lịch sử, dân cƣ, dân tộc, tôn giáo, thiết chế quản
lý xã hội, quá trình Nam Bộ hội nhập với khu vực và quốc tế… Đây là công
trình nghiên cứu đồ sộ, cung cấp một khối lƣợng tri thức lớn, khá đầy đủ, toàn
18


diện và chân xác về vùng đất Nam Bộ. Công trình nghiên cứu này đã cung
cấp những sử liệu cơ bản về vùng đất Nam Bộ qua từng thời kỳ, đặc biệt là
nội dung trình bày về ngƣời Hoa cũng nhƣ thiết chế tự quản của họ, đƣợc
chúng tôi tiếp thu khi thực hiện luận án.

một công trình nghiên cứu đƣợc xây dựng trên cơ sở tƣ liệu điền dã công phu.
Từ việc khái quát về ngƣời Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh và tín
ngƣỡng, tôn giáo của họ, tác giả đi đến nhận định vai trò của tôn giáo, tín
ngƣỡng trong đời sống của ngƣời Hoa Quảng Đông và khẳng định sự hội
nhập văn hóa giữa ngƣời Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh với các
dân tộc Việt Nam là điều tất yếu.
Tác giả Nguyễn Duy Bính với luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử Hôn
nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ đã cung cấp những nét chung nhất
về những thiết chế và nghi lễ trong hôn nhân, gia đình của ngƣời Hoa truyền
thống và hiện đại, từ đó tác giả cho thấy tính kế thừa và thích nghi của ngƣời
Hoa trong điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đất Nam Bộ.
Năm 2005, tác giả Huỳnh Ngọc Đáng đã bảo vệ luận án tiến sĩ khoa
học Lịch sử Chính sách của các vương triều người Hoa ở Việt Nam. Đối
tƣợng nghiên cứu chính của luận án là chính sách của các vƣơng triều phong
kiến Việt Nam từ thời Ngô, Đinh Lê, Lý, Trần… đến triều Nguyễn đối với
ngƣời Hoa. Tác giả trình bày, phân tích nội dung, tính chất các chính sách đối
nội, đối ngoại thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… của từng vƣơng
triều. Trên cơ sở đó, tác giả còn so sánh đối chiếu những điểm kế thừa, giống
hoặc khác nhau về chính sách đối với cộng đồng ngƣời Hoa giữa các vƣơng
triều phong kiến. Từ công trình nghiên cứu khoa học này, tác giả góp phần
đúc kết lý luận, thực tiễn để xây dựng chính sách phù hợp đối với ngƣời Hoa
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Cũng trong năm 2005, tác giả Võ Thanh Bằng bảo vệ thành công luận
án tiến sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học: Tín ngưỡng dân gian
của người Hoa ở Nam Bộ. Mục đích của tác giả là tìm hiểu tín ngƣỡng dân
gian trong đời sống của ngƣời Hoa, trên cơ sở đó phân loại, hệ thống hóa,
phân tích, đánh giá vai trò và tìm ra những đặc trƣng cơ bản của tín ngƣỡng
20





1.1.2. Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài
Tuy tình hình nghiên cứu về ngƣời Hoa ở trong và ngoài nƣớc ngày
càng khởi sắc, nhƣng mảng đề tài hội quán nói chung và hội quán ngƣời Hoa
ở Nam Bộ nói riêng vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu đúng mức.
Vào năm 1966, nhà xuất bản Đài Loan học sinh thƣ cục đã phát hành
cuốn sách Trung Quốc hội quán sử luận, tác giả Hà Bính Lệ. Tác phẩm cung
cấp những kiến thức cơ bản về hội quán Trung Hoa, từ nguồn gốc hình thành
cho đến sự phát triển và hội nhập của nó. Đây là tài liệu quan trọng đối với
chúng tôi khi thực hiện luận án, nhất là nội dung thành lập các hội quán.
Bài viết Vài nét về hội quán của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh
của tác giả Nguyễn Thị Minh Lý (1998). Đây là bài viết ngắn chƣa tới 8
trang, đƣợc in trong kỷ yếu hội thảo Góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa 300
năm Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Tuy tác giả có trình bày về thời gian
hình thành và phát triển của các hội quán ngƣời Hoa ở thành phố Hồ Chí
Minh, nhƣng do hạn chế về mặt tƣ liệu cũng nhƣ số lƣợng trang viết, tác giả
chỉ mới cung cấp những thông tin cơ bản nhất về hội quán của ngƣời Hoa ở
thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả Võ Thị Ánh Tuyết có bài viết Hội quán Hoa ở Hội An (Quảng
Nam) trong so sánh với các miếu Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (2011) đƣợc
đăng trong cuốn Nam Bộ đất và người (tập 8). Tác giả chỉ ra những nét tƣơng
đồng và những nét khác biệt giữa các hội quán Hoa ở Hội An với các hội
quán Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh trên các tiêu chí tổng thể kiến trúc, trang
trí kiến trúc, thờ cúng, di vật… Tuy nhiên, do khuôn khổ của một bài viết
ngắn 7 trang, cho nên tác giả chƣa có điều kiện đi vào phân tích, so sánh một
cách kỹ lƣỡng, thậm chí đôi chỗ cách dùng từ và luận giải của tác giả chƣa
thật sự thuyết phục.
Liên quan trực tiếp và đƣợc chúng tôi xác định rất quan trọng đối với
chúng tôi khi thực hiện luận án là công trình nghiên cứu Bia chữ Hán trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status