Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân thành phố thái bình - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ TUYẾT TRINH

CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số

:

8380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Trung

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công

Tác giả


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng Dân sự

CBXXSTVADS

: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

CBXXST

: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

VKSND

01

2. Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………………….

02

3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu..

03

4. Phương pháp nghiên cứu đề tài………………………………...

04

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài……………………….

04

6. Bố cục của luận văn…………………………………………….

05

Chƣơng 1: KHÁI NIỆM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH……………………………………….

06

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự…………………………………………………………

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1………………………………………….

41

Chƣơng 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ HOÀN THIỆN……………………………………..............

43

2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự tại TAND thành phố Thái Bình……………………….....

43

2.1.1. Thực tiễn việc áp dụng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự……………………………………………......

47

2.1.2. Những công việc tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử
sơ thẩm tại TAND thành phố Thái Bình.………………………........

48

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại…………………….

61


người, quyền công dân khác, quyền dân sự được pháp luật ghi nhận và
đảm bảo thực hiện là một chế định có ý nghĩa rất quan trọng. Để bảo vệ
cho các quyền dân sự, Nhà nước quy định bằng nhiều cách thức khác
nhau. Nhưng đặc biệt hơn, Nhà nước còn giao việc bảo vệ quyền dân sự
cho Tòa án.
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Tòa án cũng là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự chủ yếu trong tố
tụng dân sự. Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“ Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, quyền xét xử.
Tòa án bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức thông qua các hoạt động
tố tụng dân sự của mình. Theo sự phát triển của xã hội, pháp luật ngày
càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để nâng cao việc thực hiện các
hoạt động tố tụng của Tòa án. Bên cạnh đó, vẫn có nhiều quy định còn
hạn chế, vướng mắc khi thực hiện trong thực tế, dẫn đến việc bảo vệ
quyền và lợi ích của đương sự chưa thật sự được đảm bảo, trong đó có
quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp Tòa án đảm
bảo cho việc xét xử được chính xác, khách quan, đúng pháp luật mà còn
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, bởi vậy việc nghiên cứu
quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên cơ sở các quy định
của pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tiễn là hết sức cần thiết. Dù


2

nghiên cứu dưới góc độ nào thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vẫn
còn tồn tại một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cả trong việc điều chỉnh

3

cần thiết và đúng đắn. Ở luận văn này, ngoài việc nêu các quy định của
pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tác giả còn nêu thực
tiễn việc thực hiện các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nên có nhiều điểm mà các luận
văn về đề tài này phân tích theo hướng nghiên cứu chưa đề cập đến.
3. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích mà luận văn này hướng tới chính là việc làm rõ các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự, đồng thời nêu một số vấn đề trong thực tiễn liên quan đến
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái
Bình và kiến nghị hoàn thiện quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự trong luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu được xác định là các quan điểm khoa học
pháp lí về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, các quy định pháp luật
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Việt Nam và một số quốc gia khác, các
thông tin, tư liệu thực tế và một số bản án của Tòa án nhân dân thành phố
Thái Bình liên quan đến vấn đề này, cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm bao gồm: Định nghĩa, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự;
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, so sánh quy định của pháp luật hiện hành
với các quy định pháp luật theo các thời kỳ và với các quy định về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của một số nước trên thế giới, qua đó thấy
được điểm tiến bộ, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành;
- Thực tiễn thực hiện quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, qua đó rút ra được những ưu
điểm, hạn chế của pháp luật khi ứng dụng vào thực tiễn;

giai đoạn của tố tụng dân sự, hiểu rõ hơn về trình tự thủ tục tố tụng tại
Tòa án và nắm bắt được những ưu điểm, hạn chế của quy định pháp luật
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015. Bên cạnh đó, qua thực tiễn việc thực hiện các quy định về chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình
chúng ta sẽ rút ra được những kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy


5

định pháp luật vào thực tế, qua đó có phương hướng điều chỉnh, bổ sung
quy định pháp luật để đảm bảo được tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 02
chương:
Chương 1: Khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và
các quy định của pháp luật hiện hành.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình và một số
kiến nghị hoàn thiện.


6

Chƣơng 1
KHÁI NIỆM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự

Tư pháp, Hà Nội, tr.870.


7

vụ án ra xét xử tại cấp sơ thẩm”, tức là đưa vụ án ra xét xử tại cấp xét xử
thứ nhất.
Từ điển luật học, Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học Pháp lý khái quát:
Vụ án: Một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất
hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa
ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết. Vụ việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan tư pháp hoặc trọng tài.
Theo luật tổ chức tòa án nhân dân, tòa án xét xử những vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh,
thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo
quy định của pháp luật4.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thì “chuẩn bị xét xử sơ
thẩm” là “Hoạt động do Tòa án tiến hành sau khi thụ lý vụ án dân sự để
đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm”5.
Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự là những hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành từ khi thụ lý vụ án
đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm tạo ra những điều
kiện cần thiết cho việc xét xử tại cấp xét xử thứ nhất của Tòa án”.
Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân
dân (TAND) năm 2014, Điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định: Tòa án có
thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp về dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Điều 26, 28,
30, 32 BLTTDS năm 2015 đã liệt kê các tranh chấp về dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án.

- Thứ nhất, chuẩn bị xét xử vụ án dân sự được bắt đầu từ sau khi
Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi Thẩm phán ban hành Quyết định đưa vụ
án ra xét xử
Tác giả Bùi Thị Huyền đã viết: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự là giai đoạn tố tụng được thực hiện sau khi Tòa án thụ lý vụ án […]”6.
Khi thụ lý vụ án, Tòa án đã xác định trách nhiệm của mình trong việc giải
quyết vụ án dân sự. Khi vào sổ thụ lý, Tòa án phải thực hiện các hoạt
động tố tụng để CBXXSTVADS. Thời điểm thụ lý vụ án cũng là thời
điểm pháp lý để tính thời hạn việc CBXXST của Tòa án. Nếu hết thời hạn
chuẩn bị xét xử mà Thẩm phán giải quyết vụ án chưa ban hành được các
quyết định theo quy định của pháp luật, thì vụ án này sẽ được tính là quá
Nguyễn Công Bình chủ nhiệm đề tài (2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số
chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà
Nội, tr.109.
6


9

hạn, Thẩm phán sẽ phải chịu trách nhiệm giải trình lý do quá hạn. Sau khi
thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ban hành
Thông báo thụ lý vụ án gửi cho các đương sự trong vụ án. Khi các đương
sự trong vụ án được thông báo về việc thụ lý vụ án thì quyền, nghĩa vụ
của họ trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng phát sinh. Bên cạnh đó,
sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ tiến hành một loạt các hoạt động tố
tụng như: lập hồ sơ vụ án, triệu tập đương sự, thu thập, xác minh chứng
cứ, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải,… Khi xác định hồ sơ vụ án đã đầy đủ thì Thẩm phán sẽ
ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đây là căn cứ chấm dứt hoạt
động chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

CBXXSTVADS, Tòa án phải tiến hành hòa giải, trừ những vụ án không
tiến hành hòa giải được và những vụ án không được hòa giải. Quá trình
giải quyết vụ án dân sự, quyền tự thỏa thuận của đương sự được đề cao
nhưng riêng trong CBXXSTVADS thì Tòa án phải tiến hành hòa giải, đối
với những hoạt động khác thì hòa giải không phải là hoạt động tố tụng bắt
buộc phải tiến hành. Việc hòa giải trong CBXXST có ý nghĩa rất quan
trọng, giúp rút ngắn quá trình tố tụng, giảm thiểu chi phí tố tụng. Khi hòa
giải, Tòa án sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn, phân tích pháp luật, giúp
các đương sự tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết tranh chấp.
Hòa giải trong CBXXSTVADS cũng là hoạt động tố tụng để phân
biệt với giai đoạn phúc thẩm, bởi hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ
thể đối với việc hòa giải trong giai đoạn phúc thẩm. Khi CBXXSTVADS
nếu các đương sự hòa giải được thì Tòa án sẽ ban hành Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự, còn trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa
án sẽ chỉ ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong bản án mà không
ban hành Quyết định trên.
1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Thứ nhất, CBXXSTVADS đảm bảo tối đa cho việc bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự
Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng
dân sự (Điều 9 BLTTDS năm 2015). Bên cạnh việc pháp luật quy định
đương sự có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích


11

hợp pháp của mình, pháp luật còn quy định trách nhiệm của Tòa án trong
việc tạo điều kiện, hỗ trợ, bảo đảm cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự.


Trong CBXXSTVADS, Tòa án phải tiến hành một loạt các hoạt
động tố tụng để chuẩn bị cho việc xét xử. Việc chuẩn bị càng được thực
hiện kỹ càng thì kết quả thu được sẽ càng cao. Các hoạt động tố tụng
trong CBXXST: lập hồ sơ vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ, tổ chức phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải…
được thực hiện tốt, thì việc xét xử sơ thẩm sẽ công bằng, chính xác, đạt
hiệu quả cao, giảm thiểu tối đa tình trạng kháng cáo, kháng nghị, khiếu
nại giám đốc thẩm, tái thẩm dẫn đến hệ quả phải sửa án, hủy án.
Các hoạt động tố tụng trong CBXXSTVADS có ý nghĩa rất quan
trọng, tuy không đưa ra phán quyết nhưng nó là tiền đề, cơ sở pháp lý
đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án được toàn diện, đúng pháp luật.
1.2. Các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự
1.2.1. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Khi bàn về CBXXSTVADS thì điều đầu tiên chúng ta cần nhắc tới
đó là thời hạn CBXXSTVADS. Theo Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu trong
Luật Dân sự tố tụng Việt Nam:
Thời gian được ấn định dài hay ngắn là tùy ở bản chất, tính
cách hệ trọng của mỗi việc: Luật không muốn đương sự quyết
định hấp tấp, hoặc phải chờ đợi quá lâu; Tòa cũng không thể
phán quyết ngay mà không suy xét kỹ lưỡng hoặc lưu giữ hồ
sơ mãi mới xét xử. Hai thái độ cực đoan của cả đương nhân
lẫn Thẩm phán đều có phương hại đến sự điều hành công lý
và truy tầm sự thật. Như vậy, mỗi thời hạn thủ tục có lý do
chánh đáng riêng biệt7.
Đây là một quan điểm quan trọng trong việc xây dựng các quy định
về thời hạn tố tụng sau này. Khoảng thời gian này phải được quy định phù
hợp để đảm bảo Tòa án tiến hành thực hiện các hoạt động tố tụng và
những công việc cần thiết khác để làm sáng tỏ các vấn đề trong vụ án, và

định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02
tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a
khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường
hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết


14

định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp
luật.
Về thời hạn giải quyết vụ án, theo quy định tại Điều 203 BLTTDS
năm 2015, thời gian giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến khi ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử đối với các vụ án tranh chấp về dân sự hôn nhân
và gia đình quy định tại Điều 26, 28 của BLTTDS là 4 tháng kể từ ngày
thụ lý vụ án và đối với các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại và
lao động quy định tại Điều 30 và 32 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn
CBXXSTVADS là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Việc BLTTDS năm
2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử khác nhau đối với từng loại vụ án
là sự kế thừa và phát triển của các quy định pháp luật đã được Nhà nước
ta ban hành quy định về thời hạn giải quyết các vụ án dân sự, lao động và
kinh tế tại Điều 47 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm
1989, Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm
1996, Điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và
Điều 179 BLTTDS năm 2004 do yêu cầu cấp thiết cần giải quyết nhanh
chóng các loại tranh chấp trên.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì
Chánh án Tòa án có thể ra Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử
nhưng không quá 2 tháng đối với vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và

“Sự kiện bất khả kháng” đây là một điểm mới trong việc pháp luật
quy định việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử. Theo khoản 1 Điều 156
BLDS năm 2015 (thay thế khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2005), “Sự kiện
bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường
trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện
pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Đây là những sự kiện xảy ra ngoài
ý chí của các chủ thể, các chủ thể không thể lường trước được, hoặc biết
trước nhưng không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và khả năng cho phép để khắc phục sự kiện đó.
Khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015 đã kế thừa cơ bản các quy
định của Điều 179 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) về
thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng có bổ sung thêm quy định về việc tính lại
thời hạn chuẩn bị xét xử, theo đó: “Trường hợp có quyết định tạm đình


16

chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ
ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp
luật”.
Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trong trường hợp có lý do chính đáng thì
thời hạn này là 02 tháng.
Việc quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án kinh
doanh thương mại, lao động là ngắn. Thực tế cho thấy, việc quy định thời
hạn đối với các vụ án kinh doanh thương mại, lao động là 02 tháng là
không đáng kể.
Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy việc quy định thời hạn như trên rất
bất cập đối với việc giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, vì
vậy BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về thời hạn giải quyết đối

1. Vụ án dân sự được Tòa án xét xử trong thời hạn 2 tháng kể
từ ngày nhận đơn kiện. Nếu vụ án do Thẩm phán hòa giải giải
quyết thì được xét xử trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận
đơn khởi kiện.
2. Vụ án yêu cầu khôi phục việc làm, đòi tiền cấp dưỡng được
xét xử trong thời hạn 1 tháng.
3. Luật liên bang quy định thời hạn xét xử có thể ngắn hơn
đối với 1 số loại vụ án dân sự.
Thời hạn giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được quy định tại BLTTDS
Trung Quốc như sau: nếu vụ án giải quyết theo trình tự thông thường thì
thời hạn là 6 tháng kể từ ngày thụ lý, nếu cần gia hạn thì Chánh án Tòa án
quyết định gia hạn không quá 6 tháng 8.
Khác với quy định tại BLTTDS của Việt Nam, BLTTDS của Cộng
hòa Pháp và Nhật Bản lại không quy định thời hạn giải quyết vụ án mà
quy định từng thời hạn là do Thẩm phán ấn định. Điều 3 BLTTDS Pháp
quy định: “Thẩm phán phải bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng được
tiến hành theo đúng thủ tục quy định. Thẩm phán có quyền ấn định thời

8

Ngô Cường (2010), Việc áp dụng các quy định của BLTTDS trong việc giải quyết các vụ án về
kinh doanh, thương mại (Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung), Hội thảo đánh giá việc áp dụng các quy
định của BLTTDS sau 5 năm triển khai thực hiện, tập trung vào lĩnh vực giải quyết tranh chấp
thương mại (Dự án giải quyết tranh chấp thương mại, TANDTC-DANIDA/BSPS4), Hà Nội, tr.5.


18

hạn và quyết định những biện pháp cần thiết” 9. Việc quy định Thẩm phán
có quyền ấn định thời hạn tạo điều kiện cho Tòa án chủ động trong việc




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status