BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HIỀN
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRIỀU DƢƠNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Những kiến nghị, đề xuất trong Luận văn
không sao chép của bất kỳ tác giả nào.
Tác giả Luận văn
Bùi Thị Thu Hiền
LỜI CẢM ƠN
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
HĐXX
:
Hội đồng xét xử
LTCTAND
:
Luật tổ chức Tòa án nhân dân
LTCVKSND
:
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
PLTTGQCTTLĐ
:
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
PLTTGQCVADS
:
Tố tụng dân sự
VADS
:
Vụ án dân sự
VKS
:
Viện kiểm sát
VKSNDTC
:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ...........................................................................................4
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ............................................................................................4
1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ..........................................4
1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.....................................8
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ......................................................................................46
CHƢƠNG III: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TOÀ ÁN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ...............48
3.1. THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN ..........................................................................................48
3.1.1. Những kết quả đạt đƣợc trong thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự ..................................................................................................48
3.1.2. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự ..................................................................................................50
3.1.3. Nguyên nhân của những vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện việc
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ....................................................................56
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ...............................................63
3.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự ..................................................................................................63
3.2.2. Một số kiến nghị khác nhằm bảo đảm Toà án thực hiện tốt việc chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự ........................................................................................67
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ......................................................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sơ thẩm vụ án dân sự (VADS) là một trong những giai đoạn cơ bản và có vai
trò quan trọng trong quá trình giải quyết VADS. Trong đó chuẩn bị xét xử sơ thẩm
(CBXXST) VADS là một nội dung đặc biệt quan trọng của thủ tục sơ thẩm VADS.
CBXXST VADS là toàn bộ hoạt động do TA cấp sơ thẩm tiến hành trƣớc khi đƣa
vụ án ra xét xử sơ thẩm, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc tiến hành
Thạc sỹ luật học: “ Thụ lý và CBXXST VADS theo pháp luật TTDS Việt nam” năm
1998 của tác giả Đoàn Đức Lƣơng; “Quyết định của TA trong quá trình CBXX ”
năm 2011 của tác giả Phạm Thị Minh Hiền; Bài viết : “Hoàn thiện các quy định về
CBXXST VADS trong BLTTDS năm 2004” của tác giả Đoàn Đức Lƣơng đăng trên
tạp chí TANDTC số 4 năm 2011; “Những vấn đề cơ bản cần lưu ý khi thụ lý đơn
khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập trong giải quyết VADS” đăng trên tạp
chí Kiểm sát số 7 năm 2012… Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chỉ
nghiên cứu một số nội dung cụ thể về CBXX hoặc lồng ghép về CBXX với các nội
dung khác mà chƣa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách tập
trung, đầy đủ, hệ thống về CBXXST VADS. Do vậy, đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự” lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở cấp độ Luận văn Thạc sỹ một
cách chuyên sâu, toàn diện, đảm bảo tính logic, hệ thống, không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu khoa học đã đƣợc công bố.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về CBXXST
VADS, các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về
CBXXST VADS tại TA Việt Nam từ đó đề xuất một số kiến nghị.
CBXXST VADS là một vấn đề rộng với nhiều nội dung. Vì vậy, trong khuôn
khổ một Luận văn Thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung làm rõ những nội dung cơ
bản của đề tài nhƣ: khái niệm, ý nghĩa của CBXXST VADS, cơ sở khoa học của
việc quy định và sơ lƣợc sự hình thành và phát triển của các quy định về CBXXST
VADS; các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
và thực tiễn thực hiện việc CBXXST VADS tại TA Việt Nam từ năm 2005 đến nay
từ đó đề xuất một số kiến nghị.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
CBXXST VADS; phân tích, đánh giá đƣợc nội dung các quy định của pháp luật TTDS
Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS và thực tiễn thi hành chúng tại TA Việt Nam
và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật TTDS về
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Chương 3: Thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
của Tòa án và một số kiến nghị
4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Xét xử sơ thẩm VADS là cấp xét xử thứ nhất trong quá trình giải quyết một
VADS. CBXXST VADS là một giai đoạn của quá trình giải quyết VADS ở TA cấp
sơ thẩm. Vậy CBXXST VADS là gì ?
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Giáo dục,
năm 1994 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, sơ thẩm và dân sự đƣợc định nghĩa
nhƣ sau:
“Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì”.[47, tr.175]
“Xét xử” là “xem xét và xử các vụ án”.[47, tr.1108] “Sơ thẩm” là “xét xử lần đầu
một vụ việc ở TA cấp thấp”.[47, tr.1460] Tuy nhiên, khái niệm sơ thẩm nhƣ vậy
xem xét dƣới góc độ luật học chƣa phải là một khái niệm đầy đủ vì ngƣời đọc sẽ
hiểu khái niệm “sơ thẩm” đồng nghĩa với khái niệm xét xử VADS tại phiên tòa sơ
thẩm. “Dân sự” là “việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình”.[47,
tr.239]
Trong cuốn “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”
Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm VADS.
Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong
TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện để TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là
VADS) và trình tự, thủ tục yêu cầu để TA giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân
sự ); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc
dân sự ) tại TA…”. Với quy định này, đối tƣợng đƣợc giải quyết theo thủ tục TTDS
là vụ việc dân sự, gồm VADS và việc dân sự.
Nhƣ vậy, khi BLTTDS ra đời, lần đầu tiên khái niệm VADS đƣợc khái quát
bao gồm các “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động”. Theo BLTTDS, VADS là những việc có tranh chấp, bắt đầu từ sự mâu
thuẫn giữa các bên đƣơng sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải
thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên.
6
Theo quy định tại các điều 25,27,29,31 của BLTTDS thì VADS bao gồm các tranh
chấp sau đây:
- Những tranh chấp về dân sự nhƣ: tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về
quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng
dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trƣờng hợp
quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh
chấp về bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến
hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; các tranh chấp khác về dân sự mà
pháp luật có quy định.
- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình nhƣ: ly hôn, tranh chấp về
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng
cầu hủy hôn nhân hay không thì yêu cầu hủy hôn nhân trái luật vẫn đƣợc xác định là
việc dân sự [12, tr.69]
Khái niệm CBXXST VADS có thể đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề của từng đối
tƣợng tham gia TTDS. Nếu hiểu CBXXST với tính chất là một quá trình thì
CBXXST VADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các
VADS tại TA. [16, tr.327] Nếu hiểu CBXXST VADS với tính chất là hoạt động tố
tụng thì CBXXST VADS gồm những công việc cụ thể do những ngƣời tiến hành tố
tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với
địa vị tố tụng của họ làm cho hoạt động xét xử sơ thẩm VADS đƣợc đảm bảo [16,
tr.328].
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả nghiên cứu CBXXST VADS với tính
chất là hoạt động TTDS độc lập của TA trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA
cấp sơ thẩm. CBXXVADS nói chung và CBXXST VADS nói riêng đóng vai trò rất
quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Đối với mô hình tố tụng tranh
tụng, giai đoạn CBXX do các đƣơng sự thực hiện, cơ bản không có sự can thiệp của
TA. Các đƣơng sự tự thu thập chứng cứ, trao đổi thông tin, tự dàn xếp và hòa giải
để có thể đi đến rút đơn khởi kiện và quan trọng nhất là thời gian cho các bên chuẩn
bị các phƣơng án, chiến thuật cho phiên tòa. Nếu nhƣ mô hình tố tụng tranh tụng để
cho các đƣơng sự tự điều khiển và chuẩn bị cho cuộc đấu trí tại phiên tòa, thì trong
mô hình tố tụng thẩm xét, đây là giai đoạn để TA xây dựng hồ sơ vụ án. Đó là các
hoạt động TA thu thập chứng cứ, nghiên cứu nội dung vụ án, tìm hiểu sự thật vụ án
8
và công tác chuẩn bị phiên tòa, kể cả phƣơng án giải quyết vụ án. Ở nƣớc ta, CBXX
nói chung và CBXXST VADS nói riêng đƣợc hiểu là một giai đoạn tố tụng bắt đầu
từ khi TA thụ lý vụ án và kết thúc bằng một quyết định tố tụng.[8, tr.320] Theo đó,
sau khi TA thụ lý vụ án, những ngƣời tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tiến
không đƣợc hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải đƣợc hoặc hòa giải không thành,
TA phải hoàn thiện hồ sơ để đƣa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Các hoạt
động này của TA đƣợc gọi là CBXX. Các công việc CBXX của TA bao gồm: phân
công Thẩm phán giải quyết VADS; thông báo việc thụ lý VADS; tiến hành xác
minh, thu thập chứng cứ để lập hồ sơ vụ án; tiến hành hòa giải theo quy định của
pháp luật; ra các quyết định tố tụng quan trọng, nghiên cứu hồ sơ vụ án; triệu tập
ngƣời tham gia tố tụng và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên tòa sơ thẩm.
Tuy nhiên, công tác CBXXST VADS có thể kết thúc trƣớc thời điểm mở phiên tòa
xét xử sơ thẩm VADS khi trong giai đoạn CBXXST VADS TA ra các quyết định
nhƣ: đình chỉ giải quyết VADS, tạm đình chỉ giải quyết VADS, công nhân sự thỏa
thuận của các đƣơng sự.
Nhƣ vậy, có thể thấy thời điểm bắt đầu hoạt động CBXXST VADS từ khi
TA thụ lý VADS và thƣờng kết thúc khi TA mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS là
đặc điểm đầu tiên và quan trọng để phân biệt hoạt động CBXXST VADS với các
hoạt động tố tụng khác nhƣ: hoạt động tiến hành phiên tòa sơ thẩm hay hoạt động
CBXX phúc thẩm VADS.
- CBXXST VADS là hoạt động tố tụng rất đa dạng, phức tạp và toàn diện
do TA cấp sơ thẩm tiến hành
Tính đa dạng của CBXXST VADS thể hiện, CBXXST là hoạt động phục vụ
xét xử sơ thẩm nên trong quá trình CBXXST VADS TA phải tiến hành rất nhiều
hoạt động nhằm mục đích giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của
bị đơn, yêu cầu của ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để từ
đó giải quyết VADS một cách đúng đắn. Thẩm phán đƣợc phân công giải quyết vụ
án phải tiến hành các công việc cần thiết để xây dựng hồ sơ vụ án nhƣ yêu cầu
đƣơng sự cung cấp chứng cứ và trong trƣờng hợp do luật định TA có thể tự mình
tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nhƣ tiến hành để đƣơng sự, ngƣời làm chứng
đối chất trong trƣờng hợp cần thiết, lấy lời khai của ngƣời làm chứng; tiến hành hòa
giải, ra các quyết định tố tụng phù hợp, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong trƣờng hợp cần thiết…
hòa giải để giúp đỡ các đƣơng sự thỏa thuận với nhau. Khi hòa giải, TA sẽ chủ động
giải thích để các đƣơng sự hiểu về pháp luật và về vấn đề mà họ đang tranh chấp,
giải quyết vƣớng mắc giữa đƣơng sự để họ thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn
11
đề của vụ án. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải giúp các bên đƣơng sự tiết kiệm
tối đa chi phí về thời gian và tiền bạc, tính khả thi trong các thỏa thuận hòa giải khá
cao. Bên cạnh đó, khi tiến hành hòa giải cho các bên đƣơng sự, TA hiểu rõ thêm nội
dung vụ án cũng nhƣ tâm tƣ, nguyện vọng của các bên tranh chấp và nếu hòa giải
không thành thì TA có điều kiện đƣa ra phán quyết chính xác, đúng pháp luật.
Đặc điểm này của CBXXST VADS khác với CBXX phúc thẩm VADS. Bởi
vì, BLTTDS không quy định việc TA tiến hành hòa giải trong thời hạn CBXX phúc
thẩm VADS nên trên thực tế hiện nay, TA cấp phúc thẩm chỉ công nhận sự thỏa
thuận của các đƣơng sự khi đƣơng sự tự thỏa thuận đƣợc và có yêu cầu Tòa án phúc
thẩm công nhận.
- CBXXST VADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác
CBXXST VADS là giai đoạn TA tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn
bị cho việc xét xử sơ thẩm VADS. Trong quá trình CBXXST VADS TA sẽ lập hồ
sơ, nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết. Việc CBXXST VADS có
liên quan mật thiết đến phiên tòa sơ thẩm và hoạt động tố tụng của TA sau này. Nếu
việc CBXXST VADS mà tốt thì việc tiến hành hòa giải và phiên tòa sơ thẩm diễn ra
mới đƣợc thuận lợi, hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa do các nguyên nhân chủ quan
cũng nhƣ hạn chế tình trạng xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhƣng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc
CBXX để giải quyết vụ án. Ngoài ra, CBXXST VADS đƣợc tiến hành đầy đủ cũng
giúp cho TA cấp phúc thẩm khi giải quyết để xét các kháng cáo, kháng nghị đƣợc
nhanh chóng, thuận lợi hơn.
1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
giải thông qua việc giải thích pháp luật để các đƣơng sự sẽ hiểu rõ các quy định
pháp luật về quan hệ đang tranh chấp, từ đó có thể đi đến thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án. Nếu các bên thỏa thuận đƣợc với nhau thì sẽ giảm thiểu chi
phí cho các bên tham gia tố tụng và Nhà nƣớc, đồng thời giúp cho ngành TA giảm
đƣợc các vụ án phải đƣa ra xét xử. Tính khả thi của thỏa thuận hòa giải cao vì nó
xuất phát từ sự thỏa thuận tự nguyện của cả hai bên nên họ thƣờng tôn trọng và thực
hiện nghiêm túc phƣơng án hòa giải.
Ngoài ra, trong giai đoạn CBXXST VADS, nếu các đƣơng sự tự thỏa thuận
và yêu cầu Tòa án công nhận thì nếu TA thấy sự thỏa thuận đó là tự nguyên, không
trái pháp luật và đạo đức xã hội thì TA công nhận sự thỏa thuận đó theo thủ tục nhƣ
trƣờng hợp TA tiến hành hòa giải thành.
13
- CBXXST VADS giúp TA tiến hành các công việc cần thiết khác để chuẩn
bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm.
Trong giai đoạn CBXXST VADS, TA phân công HĐXX; triệu tập đƣơng sự
đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, gửi quyết định đƣa vụ án ra xét xử cho đƣơng sự và
VKS cùng cấp, gửi giấy thông báo cho ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
dƣơng sự, thông báo lịch xét xử. Ngoài ra, TA còn phải chuẩn bị các điều kiện vật
chất nhƣ: chuẩn bị về hội trƣờng xét xử, âm thanh, ánh sáng... Đây là công việc
quan trọng, giúp cho phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng kế hoạch. Công tác chuẩn
bị về cơ sở vật chất kỹ lƣỡng thì các trở ngại sẽ bị hạn chế, đồng thời cũng hạn chế
tình trạng hoãn phiên tòa do lý do cơ sở vật chất chuẩn bị không đầy đủ gây ra.
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Việc xây dựng các quy định về CBXXSTVADS xuất phát từ yêu cầu khách
quan đó là trƣớc khi muốn thực hiện tốt, có hiệu quả bất cứ một công việc gì thì đều
phải tiến hành việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện công việc đó.
dựng các quy định về CBXXST VADS đảm bảo cơ sở pháp lý cho TA tiến hành
những thủ tục cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao chất
lƣợng xét xử. Bởi vì, thông qua hoạt động CBXXST VADS, TA mới có thời gian
cũng nhƣ những điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm đƣợc tốt
nhất. Chỉ khi CBXX với các công việc nhƣ phân công Thẩm phán giải quyết vụ án,
thông báo thụ lý, lập hồ sơ VADS, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đƣơng sự
hoặc tự mình thu thập chứng cứ, ra các quyết định cần thiết đƣợc tiến hành kỹ
lƣỡng thì hoạt động xét xử sơ thẩm mới đƣợc tiến hành thuận lợi, các phán quyết
của TA mới dễ dàng thi hành trên thực tiễn.
Trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự thì việc xây dựng các
quy định về CBXXST VADS là đảm bảo cho quyền tiếp cận công lý của ngƣời dân
đƣợc thực thi trên thực tế. Bởi vì, quyền tiếp cận công lý gồm năm yếu tố cơ bản đó
là: Nhà nƣớc pháp quyền, quyền tiếp cận thông tin pháp luật, quyền trợ giúp pháp
luật và hệ thống TA công bằng và hiệu quả. Việc xây dựng các quy định về
CBXXST VADS nhƣ vậy đã góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
– tiêu chuẩn đầu tiên của một Nhà nƣớc pháp quyền; các quy định về CBXXST
VADS đảm bảo cho các bên đƣơng sự đƣợc tiếp cận thông tin về các tình tiết, nội
dung vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết. Trong quá trình CBXXST VADS,
TA đã tiến hành trợ giúp pháp luật thông qua việc giải thích cho đƣơng sự hiểu về
15
quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. CBXXST VADS góp phần nâng cao chất
lƣợng xét xử của TA để xây dựng một hệ thống TA công bằng và hiệu quả. Ngoài
ra, xây dựng các quy định về CBXXST VADS còn đảm bảo nguyên tắc cung cấp
chứng cứ và chứng minh trong TTDS. Theo đó, CBXXST VADS tạo điều kiện về
thời gian để các đƣơng sự có thể bổ sung những chứng cứ cần thiết để chứng minh
cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Bên cạnh đó, các
quy định về CBXXST VADS sẽ góp phần đảm bảo quyền tự định đoạt của đƣơng
CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Từ năm 1945 đến nay, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam đã trải qua nhiều
giai đoạn phát triển. Căn cứ vào sự phát triển của pháp luật TTDS ở các thời kỳ có
thể chia sự phát triển các quy định về CBXXST VADS thành các giai đoạn sau:
1.3.1. Từ năm 1945 đến năm 1989
Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập các TA quân
sự - cơ quan xét xử của Nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để kịp thời điều chỉnh
các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó
chƣa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật
TTDS nói riêng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã tiếp tục ban hành
Sắc lệnh số 47/SL theo đó, tại Điều 11 quy định cho phép tạm giữ các luật lệ hiện
hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ nếu những luật lệ này không trái với những thay đối ấn
định trong Sắc lệnh.
Ngày 24/01/1946 Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức cán bộ và các ngạch Thẩm
phán do Chính phủ lâm thời ban hành đã có các quy định về ngƣời tiến hành tố
tụng, nghị án, tuyên án và cách thức tổ chức một phiên tòa đƣợc ban hành. Đây là
một trong những văn bản pháp luật đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của nƣớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa quy định về tổ chức, thủ tục giải quyết vụ án của TA. Tiếp
đó, ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số 51/SL ấn định thẩm quyền các tòa và sự phân công
giữa các nhân viên trong TA.
Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 đƣợc Quốc hội thông qua đã định ra
những nguyên tắc cơ bản nhất của việc xét xử và tiến hành phiên tòa. Sau đó, việc
giải quyết tranh chấp dân sự của TA đƣợc áp dụng theo Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 về cải cách tƣ pháp và tố tụng.
Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 chế định về
CBXXST VADS bƣớc đầu đã đƣợc ghi nhận. Ví dụ: Những quy định về hòa giải,
17
hội trên phạm vi cả nƣớc. Năm 1981 LTCTAND và LTCVKSND cũng đƣợc ban
18
hành. Nói chung, các quy định CBXXST VADS trong TTDS giai đoạn từ năm 1960
đến năm 1989 cũng đã dần đƣợc hoàn thiện. Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã
ban hành nhiều văn bản hƣớng dẫn về giai đoạn CBXXST VADS. Các văn bản này
bƣớc đầu xây dựng nên những quy định cơ bản của pháp luật TTDS, làm cơ sở cho
việc xây dựng PLTTGQCVADS năm 1989.
1.3.2. Từ năm 1990 đến năm 2004
Cùng với sự chuyển mình về kinh tế, xã hội của đất nƣớc, trên tinh thần Nghị
quyết của Đại hội Đảng VI là tăng cƣờng sự quản lý Nhà nƣớc bằng pháp luật, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.[9] Trƣớc yêu cầu của tình hình thực tế,
ngày 22/11/1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS)
đã đƣợc Hội đồng nhà nƣớc thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1990. Tiếp
đó nhà nƣớc ta tiếp tục ban hành các pháp lệnh nhƣ: Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 16/3/1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/4/1996. Đây là những văn bản
pháp luật TTDS có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các VADS trong thời
kỳ này, đánh dấu bƣớc tiến mới trong quá trình phát triển pháp luật TTDS nói
chung và pháp luật về CBXXST VADS nói riêng.
CBXXST VADS đƣợc quy định tƣơng đối đầy đủ và chi tiết từ Điều 38 đến
Điều 47 PLTTGQCVADS; Điều 34 đến Điều 40 PLTTGQCVAKT và từ Điều 36
đến Điều 42 PLTTGQCTCLĐ. Trong giai đoạn này, TA có thể tiến hành các hoạt
động tố tụng nhƣ điều tra; hòa giải; ra các quyết định nhƣ: áp dụng BPKCTT, quyết
định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đƣa vụ án ra xét xử hay
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 PLTTGQCVADS thì “Các đương sự có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ”. Khoản 1 Điều 42 PLTTGQCVADS quy định:
tục giải quyết các vụ việc dân sự tại TAND. Mặt khác, nhiều quy định của các Pháp
lệnh này không còn phù hợp, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật
khác nhƣ BLDS năm 1995, BLLĐ năm 1994… Do đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là
cần có một văn bản pháp lý cao hơn và thống nhất hơn.
Trƣớc tình hình này, ngày 15/6/2004, Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua BLTTDS, và bắt đầu có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005. Trong BLTTDS năm 2004, CBXXST VADS
đƣợc quy định tại Chƣơng XIII từ điều 179 đến điều 195 BLTTDS và quy định
trong khác có liên quan. Nhằm cụ thể hóa các quy định trong bộ luật, TANDTC đã