Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh điện biên thực trạng và giải pháp - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

THIỀU TẤT PHÚC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ

HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐIỆN BIÊN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

THIỀU TẤT PHÚC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐIỆN BIÊN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính


7

1.1. Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư

7

1.2. Khái quát chung về quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

12

1.3.

Phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với hoạt
động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN

29

2.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội và
hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

29

2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa
bàn tỉnh Điện Biên


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HNLS

: Hành nghề luật sư

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ trung tâm trong
việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong thời gian qua. Trong hơn 30 năm
thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn
thiện bộ máy nhà nước, không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà
nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của Đảng là
nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành
Hiến pháp và pháp luật.
Cùng với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, Đảng

tra để bảo đảm hoạt động của luật sư được thực hiện theo đúng đường lối, quan
điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh
các hành vi vi phạm pháp luật của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Đồng thời
phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc
phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao chất lượng của tổ chức và hoạt động luật sư.
Để đưa được các quan điểm chỉ đạo đó trở thành hiện thực đòi hỏi chúng ta
phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản trong đó phải kể đến các biện pháp về
đổi mới nhận thức, đổi mới về công tác tổ chức, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả hoạt động của luật sư. Việc thực hiện các biện pháp đó phải gắn liền với nhiệm vụ
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (HNLS) phù
hợp với mục tiêu của cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN ở Việt Nam.
Nghề luật sư có nhiều đặc thù và được điều chỉnh bằng những quy định của
pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Ở các nước trên thế giới pháp luật đều
quy định về việc quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức luật sư. Việc quản lý
nghề luật sư ở mỗi nước một khác và phụ thuộc vào tính truyền thống của từng
nước mà không theo một khuôn mẫu nhất định và vấn đề tự quản đối với nghề luật
sư đến đâu là do quy định của từng quốc gia.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tạo nền tảng


3
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện được mục tiêu đó, việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhà
nước nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng là vô cùng quan
trọng, bảo đảm quản lý khoa học, hiệu quả các mặt đời sống kinh tế - xã hội, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiều văn bản pháp luật về luật sư
được ban hành kịp thời và nhanh chóng triển khai trên thực tế. Hoạt động luật sư

4
Từ những lý do nêu trên mà việc chọn và nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ
luật học: "Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh
Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" là cần thiết để đáp ứng yêu cầu về lý luận và
thực tiễn được đặt ra ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lĩnh vực luật sư nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng
đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dưới góc độ lý luận cũng như thực
tiễn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, trong đó có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu, có giá trị tham khảo cho việc thực hiện đề tài "Quản lý nhà
nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và
giải pháp", như: Đề tài cấp bộ năm 2005: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn
thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam"
của Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm
Đề tài; Đề tài cấp bộ năm 2005: "Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng nhu cầu
và định hướng phát triển" do TS. Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Đề tài
nhánh KX-04-06-05: "Cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" (thuộc Đề tài cấp nhà
nước KX-04-06 do TS. Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 2006) do
TS. Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Luận án tiến sĩ năm 2003 của Phan
Trung Hoài về "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật trong điều kiện
mới ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ năm 2010 của Dương Đình khuyến về "Vấn đề
xã hội hóa hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật"; cuốn sách "Một số vấn đề về luật
sư và nghề luật" của TS. Nguyễn Văn Tuân, xuất bản năm 2012... Bên cạnh đó, còn
có nhiều bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật như Tạp
chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, đề cập đến những khía cạnh chuyên sâu, cụ thể của quản lý
nhà nước về luật sư và HNLS.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và giải quyết vấn đề luật sư và
HNLS ở nhiều góc độ khác nhau, có nhiều nội dung liên quan đến quản lý nhà nước

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luâ ̣n của chủ nghiã Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điể m của Đảng về nhà nước và pháp luật, đặc
biệt là chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách nền hành chính
quốc gia và cải cách tư pháp.


6

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để
thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, như phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống
hóa các quy định pháp luật; số liệu thực tiễn; Trên cơ sở đó, đối sánh với vấn đề
quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Điện Biên
nhằm đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện, kiến nghị tích cực, phù hợp
và có giá trị ứng dụng cao
6. Ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn của luâ ̣n văn
Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện ở cả
phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa
bàn tỉnh Điện Biên; luận văn có một số đóng góp khoa học sau đây:
- Góp phầ n làm rõ hơn cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư
và HNLS trong điều kiện cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyề n XHCN.
- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên
địa bàn tỉnh Điện Biên. Rút ra những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m để phát huy những mă ̣t
ma ̣nh, ha ̣n chế những tồ n ta ̣i nhằ m tăng cường hiệu quả công tác này trong thực tiễn.
- Kiến nghị phương hướng và những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý
về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới.
Ngoài ra, kế t quả nghiên cứu của luâ ̣n văn có thể làm tài liê ̣u tham khảo
trong nghiên cứu và giảng da ̣y ta ̣i các cơ sở đào ta ̣o cử nhân luâ ̣t, cử nhân hành
chin
́ h, các trường, trung tâm đào ta ̣o, bồ i dưỡng cán, bô ̣ công chức... và trong hoa ̣t
đô ̣ng thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS hiê ̣n nay.
7. Kết cấu của luâ ̣n văn

chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là:
- Là công dân của ở nước sở tại;
- Có bằng cử nhân luật;
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề,
tập sự HNLS hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư và điều đó
còn phụ vào quy định của pháp luật của mỗi nước 3.
2. Nguyễn Văn Tuân (2012), Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 125-126.
3. Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr. 126.


8
Căn cứ vào pháp luật của các nước trên thế giới quy định về tiêu chuẩn luật
sư và quy trình trở thành luật sư, có thể phân được thành các nhóm sau:
Thứ nhất, qua một kỳ thi quốc gia mà không phải đào tạo nghề và tập sự
HNLS. Ví dụ như ở Hoa kỳ.
Thứ hai, phải qua đào tạo nghề, nhưng không phải qua tập sự HNLS. Ví dụ
như ở Nhật Bản.
Thứ ba, phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề. Ví dụ như ở Anh.
Thứ tư, phải qua đào tạo nghề và tập sự HNLS. Ví dụ như ở Pháp.
Thứ năm, có thể lựa chọn giữa đào tạo nghề hoặc thực tập HNLS. Ví dụ
như ở bang Victoria - Australia.
Thứ sáu, phải qua một kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư và
tập sự HNLS. Ví dụ như ở Trung Quốc.
Thứ bảy, phải qua hai kỳ thi. Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức.
Theo quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới, có thể rút
ra một số nhận xét sau:
- Khái niệm luật sư được hiểu là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận chức danh nghề nghiệp luật sư.
- Về tiêu chuẩn trở thành luật sư, pháp luật các nước rất chú trọng đến tiêu

nghề nghiệp của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ
của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh (Điều 3 Luật luật sư sửa đổi năm 2012).
Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo
và dũng cảm. Tính khách quan trong nghề luật sư được đề cao. Nghề luật sư là nghề
không chịu chi phối của quyền lực. Vì vậy, nghề luật sư rất chú trọng đến vai trò cá
nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức
HNLS. Đây là yêu cầu cần thiết để luật sư có thể hoàn thành tốt trách nhiệm của
mình. Nguyên tắc HNLS được quy định tại Điều 5 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012.
Thứ tư, nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư độc lập trong hành nghề,
tự chịu trách nhiệm về việc hành nghề của mình theo quy định của pháp luật. HNLS
không chỉ đòi hỏi về mặt chuyên môn, tuân thủ pháp luật mà còn phải chịu sự điều
chỉnh khắt khe bởi quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư do tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư ban hành, cụ thể là Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Luật sư được cung cấp các dịch vụ pháp lý nêu trên, tuy nhiên ngoài luật sư
còn có trợ giúp viên pháp lý được cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư nhưng
không được thu phí như luật sư và khi cung cấp dịch vụ pháp lý không với tư cách
luật sư mà với tư cách trợ giúp viên pháp lý. Hay nói cách khác trợ giúp pháp lý
không được HNLS. Ngoài ra, còn có tư vấn viên pháp luật được tư vấn pháp luật
theo quy định của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/07/2008 của Chính phủ


12
về tư vấn pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 05/2012/NĐ-CP
ngày 02/02/2012).
1.2. Khái quát chung về quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm
"tổ chức". Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này mà có thể xem xét thuật ngữ này ở
những phương diện khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, "Tổ chức là tập hợp người

14
chính là quản lý nhà nước. Quản lý phần công việc còn lại của xã hội ngoài nhà
nước vẫn được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác như các tổ chức chính trị, đảng
phái, gia đình… Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra
đời và tồn tại của nhà nước.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả
bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương
diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạt
động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan thực thi quyền lập pháp, cơ
quan thực thi quyền hành pháp, cơ quan thực thi quyền tư pháp. "Nói cách khác,
quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu
bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và
đối ngoại của nhà nước"12. Theo đó, quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:
- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy
nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và
quyền tư pháp.
- Đối tượng quản lý nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và
hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và
phát triển bền vững trong xã hội.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được hiểu chủ yếu là quá trình tổ chức,
điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo mục tiêu nhất định nhằm đạt được mục
tiêu theo yêu cầu của quản lý nhà nước. Nói cách khác, theo nghĩa này, quản lý nhà
nước được hiểu đồng nhất với "quản lý hành chính nhà nước" - "Một hình thức hoạt
động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành
chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết
của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp

luật sư và HNLS.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý nhà nước
về luật sư và HNLS được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đó là
những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ


17
thể quản lý thực hiện có hiệu quả các công việc của mình khi được phân công. Các
nguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được xác định là những tư tưởng
chỉ đạo bắt nguồn từ cơ sở của khoa học quản lý, từ bản chất của chế độ, được quy
định trong pháp luật. Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về luật sư và HNLS
được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện tính chất pháp lý của
nó tạo ra cơ sở để buộc các chủ thể phải tuân thủ một cách thống nhất và chính xác
trong hoạt động quản lý của mình.
Do quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là một hình thức của quản lý nhà
nước, nên quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cần phải tuân thủ tất cả các nguyên
tắc cơ bản của quản lý nhà nước nói chung, như: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo;
Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước; Nguyên
tắc tập trung dân chủ; Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; Nguyên tắc pháp chế
XHCN; Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa
phương; Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối
hợp quản lý liên ngành14. Trong đó, do luật sư và HNLS là một lĩnh vực cụ thể của
quản lý nhà nước, Điện Biên là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống,
nên hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên cần
phải đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò quản lý của Sở Tư pháp tỉnh Điện
Biên và những chính sách, biện pháp ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Điện
Biên có cơ hội ngang bằng với các dân tộc khác trong việc trở thành luật sư và thụ
hưởng các dịch vụ HNLS. Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS còn
phải tuân thủ những nguyên tắc pháp lý đặc thù được quy định tại Điều 6 Luật luật

Theo nguyên tắc này, Nhà nước không chỉ thống nhất quản lý về luật sư và
HNLS trực tiếp đối với các cá nhân luật sư mà còn được thực hiện thông qua việc
quản lý đối với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS. Theo
đó, các tổ chức này được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và chịu
sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc làm này là cần thiết
nhưng không được can thiệp vào quyền tự chủ và công việc nội bộ của tổ chức xã
hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS.
Theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư được thành lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
luật sư, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật,
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, thực hiện quản lý HNLS


19
theo quy định của pháp luật. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là Đoàn luật
sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Tổ
chức HNLS gồm văn phòng luật sư và công ty luật. Ngoài việc tuân thủ các quy
định của pháp luật về doanh nghiệp, văn phòng luật sư và công ty luật còn phải tuân
thủ các quy định có liên quan của pháp luật về luật sư và HNLS.
Để phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cần
vận dụng một cách phù hợp, sáng tạo các nguyên tắc quản lý nêu trên trong từng
giai đoạn phát triển của nghề luật sư. Nhà nước không thể áp dụng một cách máy
móc các nguyên tắc quản lý, đề cao nguyên tắc chung coi nhẹ nguyên tắc riêng,
nguyên tắc đặc thù hay ngược lại.
1.2.3. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề
luật sư
Muốn tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động luật sư nhằm củng cố
vai trò của luật sư đối với đời sống kinh tế - xã hội, cần thiết phải xác định những
nội dung cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS.
Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS, một trong

lệnh luật sư năm 2001 đã thể hiện theo hướng vừa bảo đảm sự quản lý của Nhà
nước đối với tổ chức luật sư và HNLS, vừa phát huy tính tự quản, tự chịu trách
nhiệm của các Đoàn luật sư.
Tuy nhiên Pháp lệnh Luật sư chưa làm rõ mối quan hệ giữa quản lý nhà
nước với tự quản của Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Từ đó dẫn đến công
tác quản lý còn chung chung, có nơi có lúc cơ quan nhà nước làm thay công việc
của Đoàn luật sư, can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp luật sư. Ngược lại có tình
trạng phó thác cho Đoàn luật sư, buông lỏng quản lý đối với luật sư và HNLS.
Một trong những quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng Luật Luật sư
năm 2006 là "Phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về luật sư và
chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư theo hướng Nhà nước
chỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp phát huy vai trò tự quản đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư".
Nếu như Pháp lệnh Luật sư năm 2001 chỉ có một chương (Chương VI) quy
định về "Quản lý nhà nước về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư" thì nay, Luật
Luật sư sửa đổi năm 2012 đã dành Chương VII quy định về "Quản lý hành nghề



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status