BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***
TRẦN THỊ THANH CÚC
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đồng Nai – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***
TRẦN THỊ THANH CÚC
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS.Phan Đức Dũng
tháng
năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thanh Cúc
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ở Việt Nam, ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc đưa hệ thống
kiểm soát nội bộ vào vận hành. Tuy nhiên, ở khu vực công, khái niệm này còn khá
mới mẻ. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng công tác kiểm soát nội bộ ở đơn vị
hành chính sự nghiệp, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống
này, người viết chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm
phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai”
Qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ ở Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai, người viết đánh giá các ưu điểm và các tồn tại của hệ
thống này, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị.
Trình bày một số đặc điểm cơ bản về kiểm soát nội bộ ở đơn vị hành
chính sự nghiệp để qua đó người đọc có thể hiểu biết thêm về bản chất, đặc tính mà
một hệ thống kiểm soát nội bộ ở khu vực công cần phải có.
Qua khảo sát cho thấy Trung tâm có nhận thức được tầm quan trọng của
hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng việc nhận thức chưa đầy đủ nên chưa phát huy hết
tác dụng của các thành phần trong hệ thống.
Tác giả đã đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, qua
đó hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả
của công tác kiểm soát nội bộ ở đơn vị.
Luận văn gồm 3 chương đã cung cấp các lý luận về kiểm soát nội bộ và
1.1.1.1.
Giai đoạn từ năm 1992 trở về trớc ………………………………3
1.1.1.2.
Giai đoạn từ năm 1992 trở về sau ………………………………5
1.1.2.
Khái niệm KSNB theo INTOSAI (1992) và INTOSAI(2004).......6
1.1.2.1.
Theo Hướng dẫn của INTOSAI năm (1992) …………………..6
1.1.2.2.
Theo Hướng dẫn của INTOSAI (2004)…………………………6
1.1.2.3.
So sánh INTOSAI 1992 và INTOSAI (2004) ……………….....8
1.1.3.
Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ ……………..9
1.1.3.1.
1.2.1.1.
Khái niệm …………………………………………………….....19
1.2.1.2.
Phân loại ………………………………………………………..19
1.2.1.3.
Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu ………………20
1.2.2.
Hoạt động của kiểm soát nội bộ ở đơn vị hành chính sự nghiệp có
thu …………………………………………………………………...22
1.2.2.1.
Đối với mục tiêu về hoạt động ………………………………..22
1.2.2.2.
Đối với mục tiêu về báo cáo …………………………………..22
1.2.2.3.
Đối với mục tiêu tuân thủ ………………………………….…..22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.....................................................................................23
Đồng Nai ………………………………………………………….27
2.2.2.1.
Môi trường kiểm soát ……………………………………….…27
2.2.2.2.
Đánh giá rủi ro ………………………………………………...38
2.2.2.3.
Hoạt động kiểm soát …………………………………………..39
2.2.2.4.
Thông tin và truyền thông …………………………………….44
2.2.2.5.
Giám sát ………………………………………………………...47
2.3. ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KSNB TẠI TRUNG TÂM ………….............49
2.3.1.
Đánh giá chung ………………………………………………….49
2.3.2.
Đánh giá từng bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ..50
TÂM PC HIV/AIDS TỈNH ĐỒNG NAI ……………………………….57
3.2.1.
Giải pháp liên quan đến các yếu tố của hệ thống KSNB ….….57
3.2.1.1.
Môi trường kiểm soát ………………………………………...57
3.2.1.2.
Đánh giá rủi ro ……………………………………….……….62
3.2.1.3.
Hoạt động kiểm soát …………………………………….……65
3.2.1.4.
Thông tin và truyền thông ……………………………….…..66
3.2.1.5.
Hoạt động giám sát …………………………………………...68
3.2.2. Kiến nghị ………………………………………..…..…………… 70
3.2.2.1.
Từ phía Trung tâm ………………………………………….…70
: Cán bộ y bác sỹ
CGCN
: Chuyển giao công nghệ
CHUD
: Cơ học ứng dụng
CN
: Công nghệ
CNTT
: Công nghệ thông tin
CoBIT
: Control Objectives for Information and Related Technology
COSO
: Committee of Sponsoring Organization
ERM
: Enterprise Risk Management Framework
: Statement on Auditing Standard
SEC
: Securities and Exchange Commission
TB-VT
: Thiết bị - vật tư
TNCS
: Thanh niên cộng sản
TP.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
TSCĐ
: Tài sản cố định
TT
: Trung tâm
TTTT
: Thông tin truyền thông
Lưu trình 2.1 - Lưu trình mua sắm vật tư-thiết bị .................................................... 43
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm,
nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ
chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. Nói cách
khác, hệ thống kiểm soát nội bộ với vai trò quan trọng của nó đã và đang là một
công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc giảm thiểu và kiểm soát những rủi ro có thể xảy ra
đối với hoạt động của đơn vị. Việc thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ
hữu hiệu sẽ hạn chế đến mức thấp nhất việc thất thoát tài sản của tổ chức.
Nhà nước ta đã và đang chuyển đổi phương thức quản lý tài chính, biên chế
của các cơ quan quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp công lập. Trước đây, Nhà
nước ban hành tất cả các chế độ, chính sách yêu cầu các đơn vị phải tuân thủ. Hiện
nay, các đơn vị được giao khoán kinh phí, biên chế để chủ động trong việc điều
hành thực hiện nhiệm vụ và khoản kinh phí tiết kiệm được sử dụng để cải thiện thu
nhập cho cán bộ viên chức.
Trong quá trình học tập và làm việc, tôi nhận thấy rằng nếu các đơn vị xây
dựng được hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tốt thì có thể khắc phục những sai
sót trên (chúng giúp ngăn ngừa và phát hiện những sai phạm, yếu kém, giảm thiểu
tổn thất), nâng cao hiệu quả hoạt động giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hệ thống KSNB là một công cụ quản lý hữu hiệu để kiểm soát và điều hành hoạt
động của đơn vị nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất
Ở Việt Nam, ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc đưa hệ thống
kiểm soát nội bộ vào vận hành. Tuy nhiên, ở khu vực công, khái niệm này còn khá
mới mẻ. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng công tác kiểm soát nội bộ ở đơn vị
hành chính sự nghiệp, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống
chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ Ở ĐƠN VỊ
HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1.
Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ
Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB về cơ bản có thể chia làm 2 giai
đoạn:
1.1.1.1.
Giai đoạn từ năm 1992 trở về trước
Từ những năm đầu của thế kỷ 20, các kiểm toán viên đã dần quan tâm
đến kiểm soát nội bộ khi họ nhận thức được rằng không cần thiết phải kiểm tra tất
cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên, vào thời điểm này,
khái niệm kiểm soát nội bộ chỉ được nhắc đến như là một công cụ bảo vệ tiền khỏi
sự biển thủ của nhân viên.
Năm 1936, trong một công bố của Hiệp hội Kế toán viên công chứng
Hoa Kỳ (AICPA-American Institute of Certified Public Accountants), khái niệm này
của nghề nghiệp kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ.
Đặc biệt vào năm 1977, khái niệm kiểm soát nội bộ xuất hiện trong một
văn bản luật-Luật về chống hối lộ nước ngoài - trong đó nhấn mạnh vai trò của kiểm
soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp. Luật này ra đời
xuất phát từ việc ngày càng có nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, đáng
kể là vụ tai tiếng chính trị Watergate. Theo đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC)
đưa ra bắt buộc đòi hỏi các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công
tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng. Yêu cầu này gây ra làn sóng phản đối
đòi hỏi phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Vì thế,
Ủy ban COSO thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài
chính được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp:
+ Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
+ Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA-American Accounting Association)
+ Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI-Financial Executies Institute)
+ Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA-Institute of Management Accountants)
Năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo. Báo cáo COSO năm (1992) là
tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ
một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về kiểm soát nội bộ và
dùng từ Kiểm soát nội bộ thay vì Kiểm soát nội bộ kế toán. Báo cáo COSO năm
(1992) đưa ra năm bộ phận của kiểm soát nội bộ bao gồm: Môi trường kiểm soát;
5
Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát.
Báo cáo COSO năm 1992 tuy chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập
được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về kiểm soát nội bộ.
1.1.1.2.
Giai đoạn từ năm 1992 trở về sau
thống kiểm soát nội bộ (Exposure Draft, COSO (2008)) dựa trên khuôn mẫu COSO
(1992) nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Hướng dẫn này (COSO Guidance 2008) gồm 3 phần: Hướng dẫn, Ứng dụng và Thí
dụ. Năm 2009, phần 1 – Hướng dẫn đã chính thức được ban hành.
Ở khu vực công, kiểm soát nội bộ cũng rất được quan tâm với một số
các nghiên cứu như: Hướng dẫn về Kiểm soát nội bộ của Tổ chức Quốc tế các cơ
quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit InstitutionsINTOSAI) ban hành năm 1992, Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền
liên bang của Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (Government Accountability
Office-GAO) được ban hành năm 1999 nhằm đưa ra các quan điểm và hướng dẫn
về kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công.
Trong phạm vi đề tài, người viết nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ
tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Nai dựa trên Hướng dẫn về kiểm
soát nội bộ của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI). Hướng
dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI là tài liệu tích hợp các lý luận chung về kiểm
soát nội bộ của Báo cáo COSO. Nó ban hành đầu tiên vào năm 1992 (INTOSAI
(1992)) và cập nhật năm 2001, công bố năm 2004 (INTOSAI (2004)).
Theo hướng dẫn của INTOSAI 2013
Khái niệm về kiểm soát nội bộ theo hướng dẫn của INTOSAI 2013 cũng
giống như hướng dẫn của INTOSAI năm 2004 tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo
theo INTOSAI có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và
biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như
tăng cường sự giám sát của tổ chức.
Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI (2013) là:
-Định nghĩa về kiểm soát nội bộ
-Các tiêu chuẩn nền tảng được sử dụng để đánh giá sự hữu hiệu của hệ
thống kiểm soát nội bộ.
-Sử dụng sự xét đoán trong việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm
soát nộ bộ.
-Xác định kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu của tổ chức
tin cậy và đảm bảo tính kịp thời.
1.1.2.2. Theo Hướng dẫn của INTOSAI (2004)
Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo INTOSAI (2004) như sau: “Kiểm
8
soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn
vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.”
Ở định nghĩa trên, có năm khái niệm quan trọng cần làm rõ, đó là:
Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Kiểm soát nội bộ không phải là
từng hoạt động riêng rẽ mà nó là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi
bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Chính quá
trình này là phương tiện giúp đơn vị đạt được mục tiêu của mình.
Kiểm soát nội bộ chịu sự chi phối của con người. Kiểm soát nội bộ
được thiết kế và vận hành bởi con người, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến tất cả các cán
bộ, công chức, viên chức. Chính họ sẽ định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát
và vận hành chúng. Tuy vậy, muốn hệ thống kiểm soát nội bộ thực sự hữu hiệu thì
từng thành viên trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình và
hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức.
Kiểm soát nội bộ được thiết lập để đối phó với rủi ro. Việc thực
hiện sứ mạng của tổ chức sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro. Kiểm soát nội bộ có thể
giúp tổ chức nhận diện và đối phó với rủi ro để tối đa hóa khả năng đạt được mục
tiêu.
Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý. Kiểm soát nội
bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được
các mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. Bởi hệ thống kiểm soát
nội bộ dù chặt chẽ đến đâu cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng, đó là sự thông
đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý…, kiểm soát nội bộ có thể
ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không
đáng tin cậy và đảm bảo tính kịp thời.
◦ Bảo vệ nguồn lực không thất thoát, hư hỏng, sử dụng sai mục đích;
- Xác định kiểm soát nội bộ gồm 5 yếu tố:
◦ Môi trường kiểm soát
◦ Đánh giá rủi ro
◦ Hoạt động kiểm soát
◦ Thông tin và truyền thông
◦ Giám sát
* Khác nhau:
- Đối với mục tiêu hoạt động: So với INTOSAI (1992), INTOSAI
(2004) đã thêm yếu tố đạo đức khi thực hiện các hoạt động của đơn vị. INTOSAI
(2004) cho rằng đạo đức là khi các cán bộ, công chức, viên chức làm việc một cách
công tâm, đúng pháp luật, phù hợp với sứ mạng của tổ chức, đồng thời, Intosai cũng
nhấn mạnh vai trò của giá trị đạo đức trong việc phòng chống, phát hiện các gian
10
lận, tham nhũng trong khu vực công nhằm củng cố lòng tin của công chúng.
- Đối với mục tiêu báo cáo: Ngoài việc báo cáo các thông tin quản lý và
tài chính như INTOSAI (1992), INTOSAI (2004) còn nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc báo cáo các thông tin phi tài chính.
1.1.3.
Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Dựa trên nền tảng báo cáo COSO, Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của
INTOSAI cũng đưa ra năm bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ:
11
HỆ
Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và
nghiệp vụ
Hoạt động
kiểm soát
THỐNG
Kiểm soát vật chất
Kiểm tra độc lập
Phân tích rà soát
KIỂM
SOÁT
NỘI BỘ
TT và
truyền
thông
Thông tin
Truyền thông
Giám sát
(Nguồn: Hướng dẫn kiểm soát nội bộ, Intosai 1992, Intosai 2004)
Triết lý quản lý và phong cách điều hành thể hiện thông qua thái độ,
quan điểm của cấp quản lý đối với hoạt động của đơn vị. Sự khác biệt về triết lý
quản lý và phong cách điều hành của các cấp quản lý có thể ảnh hưởng lớn đến môi
trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Nếu cấp
quản lý của đơn vị ý thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ thì
các thành viên còn lại có thể cảm nhận được điều đó thông qua hành động, thái độ
của nhà quản lý và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ;
ngược lại, nếu các thành viên trong đơn vị cảm thấy rằng kiểm soát nội bộ không
phải là mối quan tâm hàng đầu của nhà quản lý thì điều đó đồng nghĩa với việc mục
13
tiêu kiểm soát của đơn vị có thể sẽ không đạt được một cách hữu hiệu.
Năng lực đội ngũ nhân viên
Đảm bảo về năng lực là đảm bảo cho các thành viên trong tổ chức có
được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Muốn vậy, cấp
quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định và cụ thể
hóa nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng để cá nhân có thể được bố trí
công việc thích hợp. Ngoài ra, cấp quản lý cần nâng cao nhận thức cho các cá nhân
giúp họ hiểu được mức đóng góp của mình trong việc đạt được mục tiêu của tổ
chức, hiểu được tầm quan trọng của mình trong việc vận hành hệ thống kiểm soát
nội bộ hoạt động hữu hiệu, từ đó, có kế hoạch phát triển các kỹ năng đủ để xử lý các
tình huống gặp phải.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ
phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu. Một cơ cấu
phù hợp sẽ là cơ sở để lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt
động. Ngược lại, khi thiết kế không đúng, cơ cấu tổ chức có thể làm cho các thủ tục
kiểm soát mất tác dụng.
Để thiết kế một cơ cấu tổ chức hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc
◦ Chính sách kỷ luật
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi
trường kiểm soát thông qua việc tác động đến các nhân tố khác trong môi trường
kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và giá trị đạo đức…
1.1.3.2.
Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những sự kiện tạo
nên rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị, qua đó, xác định các
biện pháp thích hợp để đối phó rủi ro.
Quá trình này có thể bao gồm các bước:
Nhận dạng rủi ro
Hoạt động của một đơn vị có thể gặp rủi ro do sự xuất hiện những nhân
tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố bên trong như là sự quản lý thiếu minh bạch,
không coi trọng đạo đức nghề nghiệp, năng lực CBVC thấp, thiếu sự giám sát của
các cấp lãnh đạo…Các yếu tố bên ngoài như là sự thay đổi về chính sách, pháp luật,
sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về thị hiếu của người học…Nhận diện
rủi ro là việc nhận thức về thời điểm, mức độ một sự kiện hay hoạt động sẽ xảy ra
gây ảnh hưởng tiêu cực đến đơn vị. Một khi đơn vị nhận diện được các yếu tố rủi ro
trong hoạt động của mình thì nguy cơ không đạt được mục tiêu giảm đi đáng kể. Do
đó, nhận dạng rủi ro phải được thực hiện liên tục, lặp đi lặp lại để tránh bị thiệt hại
15
do những tác động từ các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài.
Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là việc xác định những ảnh hưởng có thể có của một sự
kiện hay một hoạt động đối với hoạt động của đơn vị. Trên thực tế không thể loại bỏ
hết tất cả rủi ro mà chỉ giới hạn rủi ro xảy ra ở mức độ chấp nhận được. Để làm