Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư mũi xoang - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư mũi – xoang (UTMX) là loại ung thư không thường gặp, chiếm
khoảng 0,2 – 0,8% tổng số các ung thư nói chung và khoảng 3% các ung thư
vùng đầu cổ [1]. UTMX là ung thư xuất phát từ niêm mạc xoang mũi hoặc
các xoang cạnh mũi. Về phân loại cổ điển, UTMX thường xuất phát từ một
trong ba tầng: tầng sàng, tầng hàm, tầng khẩu cái. Ở nước ta UTMX chiếm
một tỷ lệ khá cao trong ung thư đầu mặt cổ, đứng thứ ba sau ung thư vòm mũi
họng và ung thư hạ họng thanh quản, khoảng 92,7% các u có nguồn gốc biểu
mô [2]. Trên thế giới UTMX đã được nghiên cứu từ lâu và rộng rãi. Ở Việt
Nam, các nghiên cứu về UTMX chưa nhiều, đặc biệt rất ít các nghiên cứu về
hình ảnh học của UTMX.
Do đặc điểm về cấu trúc và vị trí giải phẫu của vùng sàng hàm rất phức
tạp và ở sâu, các triệu chứng lâm sàng thường kín đáo, tiến triển chậm không
có hạch hoặc hạch xuất hiện muộn, nên việc chẩn đoán giai đoạn sớm thường
gặp khó khăn, dễ bỏ qua và dễ nhầm lẫn với viêm mũi xoang. Tỷ lệ UTMX
được che đậy dưới dạng viêm mũi xoang mạn tính có thoái hoá cuốn giữa,
polyp khe giữa cũng hay thường gặp. Ở nước ta hiện nay một số tác giả đã lưu
ý có một tỷ lệ đáng kể UTMX trên những bệnh nhân có tiền sử này [1]. Giai
đoạn sau, UTMX không chỉ khu trú ở vùng sàng hàm mà xâm lấn ra xung
quanh như: các xoang lân cận, hốc mũi, hốc mắt, cơ chân bướm, nội sọ, gây
khó khăn cho phẫu thuật và có thể gây ra biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên
UTMX ít khi di căn xa và di căn chậm do đó có thể phẫu thuật được. Phẫu
thuật phối hợp với tia xạ và hoá chất có thể kéo dài cuộc sống đáng kể cho
bệnh nhân so với các ung thư đầu mặt cổ khác.
Để phẫu thuật triệt để hay xây dựng được chiến lược điều trị đúng đắn
thì vấn đề quan trọng là đánh giá chính xác vị trí và mức độ xâm lấn của u.


2

gồm: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước, xoang sàng sau, xoang bướm.
Các xoang được chia thành hai nhóm : nhóm xoang trước bao gồm xoang
trán, xoang hàm, xoang sàng trước. Nhóm xoang sau bao gồm xoang sàng
sau, xoang bướm. Các xoang cạnh mũi là các hỗng rỗng trong các xương đầu
mặt, thành xoang được lót bởi các tế bào biểu mô phủ có lông chuyển luôn
luôn chuyển động theo một chiều để quét các chất nhầy vào ổ mũi qua các lỗ
xoang đổ vào các ngách mũi. Do đó, bình thường các xoang đều rỗng, thoáng
và khô. Chức năng các xoang là góp phần làm ấm và ẩm không khí qua mũi,
cộng hưởng âm thanh và làm nhẹ các khối xương sọ và mặt.
1.1.1. Giải phẫu mũi và các xoang cạnh mũi.
Nguyên uỷ của các xoang chính là nguyên uỷ của hốc mũi tạo nên, do đó
còn gọi xoang là những hốc mũi phụ.
1.1.1.1.Giải phẫu khoang mũi
Ổ mũi đi từ lỗ mũi trước tới lỗ mũi sau:
- Lỗ mũi trước: tiền đình mũi
- Lỗ mũi sau: thông với tỵ hầu, được giới hạn ở trong là bờ sau vách
mũi, ở dưới là giới hạn đường khẩu cái cứng và khẩu cái mềm, ở ngoài là
mảnh trong chân bướm, ở trên là thân xương bướm.
- Thành trên: đoạn trước do xương sống mũi, xương trán; đoạn giữa tạo
nên bởi mảnh sàng và xương sàng; đoạn sau: thân xương bướm, cánh xương
lá mía và mỏm bướm xương khẩu cái.


4

- Thành dưới: tạo nên bởi mỏm khẩu cái xương hàm trên ở trước và
mảnh ngang xương khẩu cái ở sau.
- Thành ngoài: cấu tạo của nhiều xương: một phần của xương hàm trên,
xương lệ, xoắn mũi, mảnh thẳng xương khẩu cái, mảnh chân bướm trong.
- Thành trong: gồm 3 phần: phần xương ở sau cấu tạo bởi mảnh thẳng

+ Các tiểu xoang sàng sau: đổ vào ngách mũi trên.
- Xoang bướm: là một hốc xẻ trong thân xương bướm, kích thước rất thay
đổi, thường đổ vào phần trên ngách bướm sàng của ổ mũi. Lỗ đổ vào ổ mũi của
xoang bướm cao hơn sàn xoang 10 – 15mm, đường kính trung bình 5mm.
Có hai xoang (phải và trái), ngăm cách nhau bởi một vách xương,
thường lệch sang một bên.

Hình 1.1. Giải phẫu các xoang cạnh mũi [4]
1. vách ngăn, 2. mào gà, 3. ổ mắt, 4.xương giấy
5. cuốn mũi giữa, 6.cuốn mũi dưới, 7.khe mũi giữa,
8 khe mũi dưới, 9. xoang hàm, 10. xoang sàng.

1.1.1.3. Mạch máu và thần kinh mũi xoang


6

Động mạch: hệ thống mạch máu ở mũi rất phong phú. Mũi được cấp
máu bởi các nhánh của cả hệ thống cảnh trong (động mạch mắt) và hệ thống
cảnh ngoài (động mạch hàm trong).
Động mạch sàng trước (nhánh của động mạch mắt), đi trong một ống
xương sát nền sọ, nằm giữa các tế bào sàng trước và bóng sàng. Động mạch
sàng trước dễ bị tổn thương trong các phẫu thuật vào xoang sàng, vì vậy đây
được coi như giới hạn phẫu thuật mở xoang sàng trước.
Động mạch sàng sau (nhánh của động mạch mắt), và động mạch bướm - khẩu
cái (nhánh của động mạch hàm trong) nằm sâu trong xương nên ít bị tổn thương.
Động mạch bướm khẩu cái, tận cùng của động mạch hàm trong chui vào
hố mũi ở lỗ bướm khẩu cái rồi chia ra làm hai ngành: ngành trong cho vách
ngăn, ngành ngoài cho vách mũi xoang. Các động mạch này giao lưu với
nhau tại một điểm gọi là điểm mạch Kiesselbach ở phần trước và dưới của

hốc mắt và phần trước nền sọ.
- Ung thư tầng giữa: u xuất phát từ 1 trong các mặt của xoang hàm theo
các hướng khác nhau và phá huỷ thành xoang hàm.
- Ung thư tầng dưới: u xuất phát từ cung răng, lồi củ xương gò má, sàn
xoang hàm, vòm khẩu cái. Đây là những u có xu hướng xâm lấn xuống thấp.
* Phân loại theo tổ chức chống ung thư thế giới (UICC) và uỷ ban ung
thư Mỹ (AJCC) [7] [8]:
- T (khối u)
+ Khối u xoang sàng:
T1: u 1cm2, không phá huỷ xương.
T3: u phá huỷ xương một cấu trúc nhưng chưa vượt quá giới hạn mũi xoang.
T4: u phá huỷ xương từ hai cấu trúc trở lên hoặc vượt quá giới hạn mũi xoang.


8

+ Khối u xoang hàm:
T1: u trong niêm mạc xoang hàm không phá huỷ xương.
T2: u xâm lấn hoặc phá huỷ xương thành trên và trong xoang hàm.
T3: u xâm lấn vào các phần sau: da ngoài mặt, hốc mắt, xoang sàng
trước, thành sau xoang hàm và cơ chân bướm.
T4: u xâm lấn khẩu cái cứng, xoang sàng sau, xoang bướm, chân bướm
khẩu cái, vòm họng hoặc nền sọ.
- N (Hạch):
Nx: hạch vùng không khám thấy.
No: không có di căn hạch vùng.
N1: Di căn hạch cùng bên, kích thước 3cm và
1.2.1. Một số nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam UTMX đã được quan tâm nghiên cứu từ thập niên 60. Năm
1969, Lê Văn Bích và Phạm Khánh Hoà đã báo cáo 60 ca ung UTMX [9].
Đến năm 1978, Nguyễn Mạnh Cường nghiên cứu những biểu hiện lâm sàng
tổ chức bệnh học, XQ của 52 trường hợp ung thư biểu mô khối sàng hàm [5].
Năm 1991 Nguyễn Công Thành qua nghiên cứu 46 trường hợp UTMX
tại khoa ung thư, Viện tai mũi họng từ năm 1986 – 1990, nhận thấy UTMX
hay gặp trong các khối u ác tính vùng đầu cổ, trung bình mỗi năm 9-10 ca,
bằng 1/3 số lượng ung thư vòm trung bình hàng năm, tỷ lệ bệnh nhân được
chẩn đoán giai đoạn T4 là 47,8%. Hình ảnh trên phim Blondeau và Hirtz có
17/19 bệnh nhân (89,4%) hình mờ đều xoang hàm, sang và phá vỡ vách ngăn
mũi 14/19 bệnh nhân (73,7%) [6].
Năm 1996 Vũ Công Trực nghiên cứu 96 ca UTMX được chẩn đoán và
điều trị tại Viện tai mũi họng thấy UTMX chiếm >6% các u ác tính đường


10

hô hấp trên. UTMX đứng thứ 3 sau ung thư vòm họng và ung thư thanh
quản. Phim Blondeau và Hirtz ít có giá trị và chỉ rõ khi bệnh đã ở giai đoạn
muộn [10].
Năm 2001 Ngô Ngọc Liễn và cộng sự qua tổng kết 277 trường hợp
UTMX tại Viện tai mũi họng từ năm 1986 – 2001. Cắt lớp vi tính cho phép
đánh giá được đầy đủ tổn thương và nhất là sự lan tràn của khối u. Phim chụp
cắt lớp vi tính giúp cho chỉ định phẫu thuật được chuẩn xác nhất là với trường
hợp các khối u đã lan tràn ra ngoài xoang [1].
1.2.2. Một số nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về UTMX đã có từ lâu. Công trình đầu tiên được ghi
nhận trên y văn là của Morgagni, Bichat [11]. Năm 1906: Sébileau đã mô tả,
phân loại khối u 3 tầng: tầng trên, tầng giữa, tầng dưới. Năm 1920: Hautant và

thoảng chẩy mũi lẫn máu tươi.
- Giai đoạn muộn khi u phát triển to ra và xâm lấn vào mũi bệnh nhân sẽ đau
nhức nhiều vùng má hoặc dọc theo sống mũi kèm theo bệnh nhân có rối loạn
ngửi (giảm ngửi, mất ngửi).
• Hội chứng mắt:
- Ở giai đoạn u đã phá huỷ các thành xương lân cận hố mắt, phá vỡ xương giấy
(nếu u ở xoang sàng), phá vỡ sàn ổ mắt (nếu u ở xoang hàm) thì sẽ có những
biểu hiện ở mắt: đau nhức vùng hốc mắt, chảy nước mắt nhìn mờ cùng phía
bên tổn thương
- Khám thực thể có thể thấy nhãn cầu bị đẩy lồi, lúc đầu nhãn cầu di động được
sau đó bị liệt và thị lực bị mất hoàn toàn, có thể thấy phù nề, xung huyết kết
mạc.
• Hội chứng thần kinh:
- Thường thấy ở giai đoạn muộn khi u đã phát triển và xâm lấn các tổ chức lân
cận chèn ép vào dây thần kinh V gây ra các biểu hiện: lúc đầu thường đau
chốc lát rồi hết, giai đoạn sau đau nửa đầu, đau vùng thái dương, đau âm ỉ liên
tục không thành cơn.


12

- Khám lâm sàng sẽ thấy tê bì nửa mặt, đau tê răng vùng bên tổn thương, nặng
hơn có thể mất cảm giác một bên bị tổn thương.
• Hội chứng biến dạng do u:
Tuỳ thuộc vào vị trí xuất phát của khối u và sự xâm lấn của nó vào các tổ
chức lân cận, ở giai đoạn muộn sẽ có các biểu hiện sau:
- Góc trong của mắt bị phồng đẩy lồi mắt.
- Gốc mũi bị biến dạng, mất rãnh mũi má, vùng má bị sưng nề.
- Đẩy rãnh lợi môi, phồng sàn hàm ếch.
• Hội chứng do di căn

- Phim Hirtz: thấy các xoang sàng trước và sàng sau mờ hoặc giãn rộng
một bên. Có thể thấy vùng cánh xương bướm: các nét xương mờ không rõ nét
như bên kia.
- Phim tư thế sọ nghiêng cho thấy thành trước của xoang hàm bị phá vỡ,
có thể thấy tổn thương ung thư xâm lấn xương nền sọ.
Các dấu hiệu trên phim XQuang chỉ có ý nghĩa định hướng tổn thương
do chồng các tổ chức phần mềm, xương của nhiều xoang nên hạn chế trong
chẩn đoán: không đánh giá chính xác được vị trí, kích thước, số lượng của u
và mức độ lan rộng của tổn thương sang lân cận.
1.3.3.2.Chụp cắt lớp vi tính [17] [19]
Chụp được tiến hành trên 02 lớp cắt : lớp cắt trục (Axial) - lớp cắt song
song CLVT với đường thẳng nối lỗ tai ngoài tới điểm ngoài hố mắt (đường
OM), và lớp cắt theo mặt phẳng trán (Coronal) – lớp cắt vuông góc với đường
OM. Tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch được sử dụng trong chụp CLVT góp
phần đánh giá tình trạng mạch máu và tính chất ngấm thuốc cản quang của u,
mức độ xâm lấn của u sang lân cận như: hốc mắt, hố chân bướm, lỗ mũi sau –
vòm họng, đặc biệt có giá trị trong chẩn đoán u xâm lấn nội sọ, giúp sơ bộ
chẩn đoán phân biệt. Ngoài ra còn có giá trị trong lập kế hoạch tia xạ trước
mổ và đưa ra phương pháp phẫu thuật tối ưu.


14

Chụp CLVTcó thể đánh giá hình ảnh tổn thương là khối có tỷ trọng tổ chức
trong xoang sàng, xoang hàm, kèm theo có hình ảnh phá huỷ thành xoang.
Khối u nhỏ: trên phim chụp CLVT có thể thấy sự khác nhau giữa lớp
niêm mạc và dưới niêm mạc bị thâm nhiễm ở thì tiêm thuốc cản quang và sự
dày niêm mạc xoang khu trú.
Khối u lớn hơn: u thâm nhiễm niêm mạc xoang, phá huỷ cấu trúc xương
thành xoang làm biến dạng xoang và xâm lấn vào các tổ chức lân cận.

sagital cũng thường được sử dụng để đánh giá vòm mũi họng. Gadolinium
được dùng thường xuyên và hình ảnh axial và coronal xoá mỡ có tiêm thuốc
đối quang từ. Độ dày lát cắt không quá 3mm là cần thiết.
Một trong những khó khăn trong xác định mức độ lan tràn của khối u là
cùng tồn tại tổn thương viêm. Chụp CHT là vượt trội hơn CLVT trong việc đưa
ra sự phân biệt giữa khối u và tổn thương viêm lân cận. Hàm lượng nước cao
hơn trong chất tiết do viêm niêm mạc chuyển đổi thành tăng tín hiệu trên T2W.
Các khối u có mật độ tế bào dày đặc và lượng nước nội bào và khoảng gian bào
ít nên chúng thường có tín hiệu trung gian trên hình ảnh T2W [20]. Tuy nhiên
tăng tín hiệu trên T2W là đặc điểm đặc trưng của u tuyến nước bọt đa hình, các
khối u vỏ dây thần kinh, u mạch và u nhú đảo ngược [21]. Chú ý rằng cường
độ tín hiệu của dịch tiết phụ thuộc vào hàm lượng protein trong nó. Khi hàm
lượng protein trong dịch tiết tăng lên, cường độ tín hiệu sẽ tăng trên T1W và
giảm trên T2W. Khi nồng độ protein vượt quá 28%, thì chất tiết sẽ giảm tín
hiệu trên cả T1W và T2W, và có thể như một xoang chứa khí [22].
1.3.3.4. Mô hình xâm lấn và đánh giá trên cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ
UTMX có khả năng lan tràn, xâm lấn vào các cấu trúc lân cận bằng cách
phát triển trực tiếp hoặc tạo các u nhầy xâm lấn.
a) Phá huỷ xương
Sự phá huỷ xương liền kề là thường thấy trong UTMX. Huỷ xương
thường được quan sát thấy trong ung thư biểu mô tế bào vẩy, di căn, sarcom,


16

ung thư biểu mô không biệt hoá. Tuy nhiên, u tuyến nước bọt ác tính,
lymphoma tế bào lớn, melanoma, ung thư thần kinh khứu giác có xu hướng
tái tạo xương. Cần chú ý rằng sự thay đổi xương thường là phản ánh sự phát
triển của khối u. Lymphoma và melanoma – tổn thương tái tạo xương, tiên
lượng xấu hơn ung thư bểu mô tế bào vảy [21]. Mặt khác, bệnh lý viêm nhiễm

cứng dày > 5mm và ngấm thuốc thì chẩn đoán xâm lấn có độ nhạy, độ đặc
hiệu, độ chính xác lần lượt là 75%, 100%, và 91% [27]. Nhu mô não tăng tín
hiệu là chắc chắn có sự xâm lấn màng não.
d) Xâm lấn ổ mắt
Bảo tồn hốc mắt trong suốt quá trình phẫu thuật là vấn đề còn nhiều
tranh cãi. Hai điểm chính của vấn đề là cắt bỏ toàn bộ khối u và bảo tồn chức
năng của hốc mắt.Tuy nhiên nhiều bệnh nhân chấp nhận rủi ro khi phẫu thuật
cắt bỏ tối thiểu để bảo toàn chức năng ổ mắt. Một nghiên cứu ở đại học
Virginia với kế hoạch điều trị xạ trị trước phẫu thuật, mắt có thể được bảo tồn
ở hầu hết phẫu thuật các khối u xoang cạnh mũi mà vẫn đảm bảo lấy hết tổ
chức khối u ở mức an toàn [28] [29] [30].
Tất cả 4 xoang cạnh mũi đều nằm liền kề với ổ mắt. Nhiều những lỗ nhỏ
trên thành ổ mắt cho mạch máu và thần kinh đi vào hốc mắt, chính những
đường này dẫn truyền cho khối u lan vào ổ mắt. Các xương của tuyến lệ là
mỏng và thường dễ dàng bị các khối u gốc mũi xoang xâm nhập. Xương giấy
cũng là một cấu trúc xương mỏng. Tuy nhiên, cấu trúc quanh hốc mắt và
màng xương hốc mắt khá kiên cố, do đó có thể chưa có sự xâm lấn hốc mắt
dù đã có sự phá huỷ xương của thành ổ mắt.
CLVT và CHT đều được sử dụng để đánh giá sự xâm lấn ổ mắt. Một vài
dấu hiệu như thay đổi chất béo, mối quan hệ giữa khối u và thành ổ mắt (tiếp
xúc, đẩy phồng), bất thường cơ vận động nhãn cầu (phì đại, tín hiệu bất
thường, thay đổi vị trí), các nốt của khối u trên thành xương ổ mắt, sự toàn
vẹn của thành ổ mắt... đã được sử dụng để đánh giá xâm lấn. Trong số các tiêu


18

chí này, có giá trị tiên lượng dương tính cao nhất là tăng tín hiệu cơ vận động
nhãn cầu (100%) và xâm lấn lớp mỡ ổ mắt (80% với CHT, 86% với CLVT).
Chụp CLVT có thể chính xác hơn CHT do nó có khả năng đánh giá xương và

các dây thần kinh. Các dấu hiệu này bao gồm thâm nhiễm mỡ của hố chân bướm
khẩu cái, ngấm thuốc và dày các dây thần kinh, thâm nhiễm mỡ đáy sọ, ngấm
thuốc của các mô mềm trong xoang hang và hang Meckel, mất dẫn truyền cơ
nhai (teo cơ nhai). Khi bệnh lan tràn rộng, phá huỷ cấu trúc xương đáy sọ có thể
thấy rõ trên CLVT. Có nhiều tổn thương có thể cùng tồn tại nhưng không liên
tiếp nhau, những xâm lấn nhỏ là khó có thể đánh giá trên hình ảnh, chẩn đoán
hình ảnh phát hiện khoảng 70% các trường hợp [35] [36].
f) Xâm lấn hạch (Lymph Node Spread)
Di căn hệ thống mô liên kết là một dấu hiệu để tiên lượng. Khám lâm
sàng có thể phát hiện khoảng 70% hạch bất thường. CLVT và CHT phát hiện
di căn hạch trong khoảng 38% - 67% trường hợp không sờ thấy được [37].
Khối u xâm lấn rộng đến da, nếp má lợi, hệ thống cơ chân bướm, liên quan
đến di căn hạch. Xấp xỉ 15% bệnh nhân UTMX phát triển dạng nốt.
Dẫn lưu bạch huyết của các xoang theo hệ thống tĩnh mạch. Bạch huyết
của nửa trước khoang mũi dẫn về nhóm IB. Bạch huyết từ nửa sau khoang
mũi đến họng mũi đổ vào các hạch bạch huyết sau hầu và vào các nhóm hạch
từ nhóm II đến nhóm V. Bạch huyết từ xoang trán và xoang sàng đổ vào nhóm
I, xoang bướm đổ vào hạch sau hầu, xoang hàm trên đổ vào nhóm IB, II, III,
IV và các hạch bạch huyết phía bên sau hầu. Chú ý rằng các hạch phía sau
hầu có thể không còn cấu trúc bình thường do những nhiễm trùng tái phát khi
còn nhỏ; hạch nhóm I và II thường là những trạm đầu cho tổn thương di căn
xa từ khối u nguyên phát ở các xoang cạnh mũi.
Tiêu chuẩn đánh giá di căn hạch từ khối u nguyên phát vùng đầu mặt cổ
cũng giống như từ khối u nguyên phát của nơi khác, với các đặc điểm: kích
thước lớn trên 10mm, có hoại tử, xâm lấn ra ngoài vỏ, và cấu trúc mạch máu
bất thường… là những đặc điểm có thể đánh giá trên hình ảnh. Tuy nhiên


20



- Ung thư biểu mô vẩy
- Ung thư dạng biểu mô lympho
- Ung thư biểu mô không biệt hóa
- Ung thư biểu mô tuyến
- Ung thư typ tuyến nước bọt
- U thần kinh nội tiết


22

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu dự kiến: Nghiên cứu được tiến hành
tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2017
và khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 08/2016 đến
tháng 06/2017.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân được
chẩn đoán UTMX đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và không vi phạm các
tiêu chuẩn loại trừ.
2.1.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
-

Các bệnh nhân được chẩn đoán UTMX dựa trên các triệu chứng lâm sàng và

-

nội soi tai mũi họng, được chụp CLVT và/ hoặc CHT

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.2.2. Phương tiện nghiên cứu
-

Máy chụp CHT Avanto 1,5 Tesla của hãng Siemens – Đức, máy cộng hưởng

-

từ Phillip Ingenia Hà Lan và máy chụp CLVT đa dãy.
Thuốc đối quang từ tiêm tĩnh mạch Dotarem (gadoterate meglumine)

-

0,5mmol/ml, Guerbet Pháp.
Máy tiêm thuốc đối quang từ tự động Spectris Solaris, Medrad Mỹ.
Máy
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

-

Xây dựng bệnh án mẫu chung cho toàn bộ quá trình nghiên cứu
Trực tiếp tham gia tiến hành chụp CLVT, CHT cho bệnh nhân tại khoa Chẩn
đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai. Sau đó đọc phim và mô tả đầy đủ các

-

thông tin theo bệnh án mẫu.
Thu thập hình ảnh các phim chụp của bệnh nhân không được chụp tại khoa
Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai. Sau đó đọc lại phim và mô tả đầy
đủ các thông tin theo bệnh án mẫu.

Không
ung thư sà


25

-

Chụp tư thế trục (Axial): bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, hai tay buông xuôi
theo người, đầu dựa trên giá đỡ. Ở tư thế này các lớp cắt song song với đường
OM liên tục từ mào huyệt răng hàm trên tới đỉnh xoang trán.
Tư thế chụp CHT: nằm ngửa hai tay xuôi dọc thân mình. Các lát cắt
liên tục từ đỉnh của vòm sọ đến khớp ức đòn để đánh giá di căn hạch vùng.
2.2.5.2. Quy trình chụp cắt lớp vi tính xoang hàm mặt.
Chụp CLVT xoang được thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có độ dày lát
cắt 3mm theo cả trục axial và coronal, trước và sau tiêm thuốc cản quang, sử
dụng cả hai cửa sổ mô mềm (50/200) và cửa sổ xương (100/1500).
2.2.5.3. Quy trình chụp cộng hưởng từ xoang hàm mặt.
Các chuỗi xung cộng hưởng từ được sử dụng: Coronal, axial và sagittal
T1 trước và sau tiêm gadolinium - DTPA; Axial T2W; DWI; T2*.
* Các thông số của các xung cộng hưởng từ được sử dụng:
Thông số

Thời gian lặp lại

Thời gian phản

xung TR (mili giây) hồi TE (mili giây)

Độ dày lát

- Vị trí khối u.
- Kích thước khối u (<10mm, 10 - 30mm, >30mm)
- Ranh giới khối u: rõ, không rõ.
- Bờ tự do của khối: đều, liên tục hay không đều, liên tục.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status