Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính và kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương sọ não nặng (TT) - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
------------------

NGUYỄN ĐÌNH HƯNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẮT LỚP VI TÍNH VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ
CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG
Chuyên ngành: Ngoại Thần kinh và sọ não
Mã số: 62 72 01 27

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2018


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chấn thương sọ não (CTSN) được xác định là nặng khi điểm Glasgow
Coma Scale (GCS) ≤ 8 sau khi được xử trí cấp cứu ban đầu, chiếm 28,3%
tổng số CTSN, có tỷ lệ tử vong và di chứng nặng là 36,6 - 80%. Theo thống
kê của bệnh viện Việt Đức, trong 3 năm (1995-1997) tỉ lệ tử vong do CTSN
chiếm 93% trong tổng số tử vong do tai nạn và chiếm 3/4 số tử vong của
toàn viện, năm 2005 tỷ lệ tử vong do CTSN nặng là 64,3%.
Điều trị CTSN nặng với mục đích làm giảm áp lực nội sọ (ALNS) để
duy trì áp lực tưới máu não (ALTMN), giúp cho tổ chức não được cung
cấp đủ ô xy, giảm tử vong và di chứng. Điều trị nội khoa được thực hiện
ngay từ khi bệnh nhân (BN) bị chấn thương nhưng không phải trường hợp

quả tốt với điểm GOS 4-5 điểm (di chứng nhẹ và hồi phục tốt) chiếm
42,4%. Phẫu thuật GPCEN có hiệu quả giảm ALNS.
- Các yếu tố tiên lượng kết quả điều trị sau mổ là mức độ hôn mê
theo thang điểm GCS, giãn đồng tử, mất phản xạ ánh sáng, mức độ di lệch
đường giữa, mức độ chèn ép bể đáy. ALNS trước mổ, ALNS sau mổ và
mức độ giảm sau mổ cũng là yếu tố tiên lượng kết quả điều trị.
Qua các kết quả của công trình nghiên cứu giúp cho việc thực hành
lâm sàng được tốt hơn với các hướng: Thứ nhất là phẫu thuật GPCEN cần
được xem xét và chỉ định cho BN CTSN nặng có ALNS tăng cao mà
không kiểm soát được bằng các biện pháp điều trị khác. Tuy nhiên, cần lưu
ý tới các dấu hiệu tiên lượng nặng ở BN. Thứ hai là nên đặt máy đo ALNS
nhằm theo dõi ALNS cho BN CTSN nặng.
4. Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày trong 120 trang, 38 bảng số liệu, 8 biểu đồ và
31 hình minh họa. Nội dung bao gồm: Đặt vấn đề 2 trang; Chương 1: Tổng
quan tài liệu 37 trang; Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
19 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu 23 trang; Chương 4: Bàn luận 36
trang và Kết luận 2 trang; Kiến nghị 1 trang; Danh mục các công trình
nghiên cứu công bố kết quả luận án 1 trang; Tài liệu tham khảo 12 trang
(18 tài liệu tiếng Việt và 118 tài liệu tiếng nước ngoài).
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng chấn thương
sọ não nặng
1.1.1. Tri giác: Theo Sattman dựa vào điểm GCS để phân loại CTSN:
CTSN nặng: Điểm GCS từ 3 đến 8
CTSN vừa: Điểm GCS từ 9 đến 12
CTSN nhẹ: Điểm GCS từ 13 đến 15
1.1.2. Kích thước và phản xạ ánh sáng của đồng tử
Đồng tử bất thường là dấu hiệu thường gặp ở CTSN nặng, Marshall

chỗ, rối loạn vận mạch (liệt mạch).
Hậu quả của tăng áp lực nội sọ là có thể gây chèn ép gây hiện tượng
thoát vị não, giảm hoặc ngừng dòng máu tới não.
1.2. Phẫu thuật GPCEN trong chấn thương so não nặng
1.2.1. Chỉ định phẫu thuật giải phóng chèn ép não
Chỉ định phẫu thuật GPCEN trong CTSN nặng được thực hiện ở 2
trường hợp:
+ BN CTSN nặng, trên CLVT có khối choán chỗ phải mổ, thường là


4
máu tụ DMC, giập não, máu tụ trong não, sau khi lấy bỏ khối choán chỗ,
tình trạng phù não nhiều, nguy cơ tăng ALNS sau mổ.
+ BN CTSN nặng, trên CLVT không có khối choán chỗ hoặc khối
choán chỗ không đáng kể, chủ yếu tăng ALNS do phù não, đã được điều
trị hồi sức tích cực nhưng không kiểm soát được ALNS.
1.2.2. Kỹ thuật phẫu thuật giải phóng chèn ép não
Kỹ thuật phẫu thuật GPCEN được mô tả với nhiều thay đổi khác nhau
phụ thuộc vào kích thước mảnh xương sọ, phẫu thuật một bên hay hai bên,
mở hay không mở màng cứng, để hở màng cứng hay đóng màng cứng, tạo
hình màng cứng hay không. Vị trí phẫu thuật cũng được bàn tới như phẫu
thuật vùng thái dương một bên, hai bên, trán hai bên, hay mở nửa bán cầu.
1.2.3. Biến chứng phẫu thuật GPCEN ở bệnh nhân chấn thương sọ não
nặng
Biến chứng sau phẫu thuật GPCEN ở BN CTSN nặng gặp khoảng 862%, trong đó các biến chứng có thể gặp là chảy máu sau mổ, khối choán chỗ
bên đối diện tiếp tục to lên, thoát vị não qua ổ khuyết xương sọ, tụ dịch DMC,
giãn não thất, nhiễm khuẩn gây viêm màng não, áp xe não, toác vết mổ.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh trên CLVT, đánh giá kết
quả sau phẫu thuật giải phóng chèn ép não.
2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên cho tất cả các BN đến khám
và điều trị phẫu thuật GPCEN tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội
trong thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 04/2010 đến tháng 12/2015.
Tất cả BN có đủ tiêu chuẩn được lựa chọn vào nghiên cứu. Cỡ mẫu được
tính áp dụng công thức tính cỡ mẫu sau:

n: là số BN
Z1- /2: giá trị giới hạn tính từ phân phối chuẩn ứng với mức ý nghĩa
thống kê hai phía của sai số α đã ấn định.
d: là sai số cho phép khi ước lượng tỷ lệ tử vong, d = 0,1.
p: là tỷ lệ tử vong. Theo nghiên cứu của Yuan (2013), nghiên cứu có
tỷ lệ tử vong sau mổ là 22%. Do đó ta có p = 0,22.
Thay vào công thức ta được cỡ mẫu tối thiểu là là 66 BN.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu
2.2.3.1. Đặc điểm lâm sàng


6
Tuổi, giới, nguyên nhân tai nạn, thời gian từ tai nạn đến khi mổ, tri
giác trước mổ, phản xạ đồng tử với ánh sáng, dấu hiệu vỡ nền sọ.
2.2.3.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não trước mổ và sau mổ
Phân loại chảy máu trong sọ (Máu tụ ngoài màng cứng, máu tụ
DMC, giập não và tiến triển của giập não, máu tụ trong não, chảy máu
màng nhện), tụ dịch dưới màng cứng, giãn não thất, mức độ đè đẩy đường
giữa, mức độ chèn ép bể đáy, bảng điểm Rotterdam.
2.2.3.4. Theo dõi ALNS: Trong nghiên cứu ALNS được đánh giá theo
biến định lượng rời rạc, đơn vị tính là mmHg tại các thời điểm: trước mổ,

Tỷ lệ (%)

15.15
< 20

22.73
40
– 59

20
39
54–.55

7.57
60
- 69

Nhóm tuổi

Biểu đồ 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu (N=66)
Nhận xét: Độ tuổi từ 20 đến 59 tuổi chiếm số đông (51/66 trường hợp)
chiểm tới 77,28%.
Phân bố theo giới tính
25.76%

Nam

Nữ

74.24%

Tỷ lệ (%)
Đồng tử 2 bên không giãn và có PXAS
22
33,33
Đồng tử 1 bên giãn và mất PXAS
33
50,00
Đồng tử 2 bên giãn và mất PXAS
11
16,67


8
Nhận xét: 50,00% trường hợp có đồng tử giãn và mất PXAS một bên.
Bảng 3.6. Chẩn đoán vỡ nền sọ (N=66)
Chẩn đoán vỡ nền sọ
Số BN
Tỷ lệ
(%)
Có vỡ nền sọ
26
39,39
Không vỡ nền sọ
40
60,61
Nhận xét: Có 26 trường hợp BN vỡ nền sọ chiếm 39,39%.
Bảng 3.7. Áp lực nội sọ trước mổ (N=40)
Áp lực nội sọ trước mổ
Số BN
Tỉ lệ

Cả Máu tụ DMC
23
34,85
cả 2 tổn
kèm giập não hay
thương
máu tụ trong não
Nhận xét: tỷ lệ BN có 1 loại tổn thương là máu tụ DMC hoặc tổn
thương nhu mô não (giập não hoặc máu tụ trong não) chiếm 65,15%.
Bảng 3.10. Chảy máu màng nhện (N=66)
Chảy máu màng nhện
Số Tỷ lệ
BN (%)
Không có chảy máu màng nhện 15 22,73
Có chảy
Chảy máu màng
22 33,33
máu
nhện 1 vị trí
màng
Chảy máu màng
29 43,94
nhện
nhện ≥ 2 vị trí


9
Nhận xét: Đa BN có chảy máu màng nhện, 29 BN có chảy máu nhiều
vị trí.
Bảng 3.11. Mức độ di lệch đường giữa trên phim CLVT sọ não

28
42,42
Nhận xét: Có 50 trường hợp (75,76%) bể đáy bị chèn ép trong đó có 28
trường hợp (42,42%) có xóa bể đáy hoàn toàn.
Tỷ lệ (%)
50 .0 0 %
40 .0 0 %
30 .0 0 %
20 .0 0 %
10 .0 0 %
0 .0 0 %

19.70%
1.52%

2

3

15.15%

4

40.91%

5

22.72%

6

90,91
Không vá được màng
6
9,09
cứng
Nhận xét: Đa phần các BN được vá chùng màng cứng chiếm 90,91%.
Bảng 3.23. Truyền máu trong mổ (N=66)
Truyền máu
Số BN
Tỷ lệ
(%)
Không truyền máu (v)
21
31,82
v < 350 ml
1
1,52

350 ≥ v ≤
38
57,57
truyền
700 ml
máu
v > 700 ml
6
9,09
Nhận xét: Đa số các trường hợp phẫu thuật được truyền máu trong mổ.
3.3.2. Kết quả phẫu thuật GPCE não ở các bệnh nhân CTSN nặng
*Kết quả chung theo điểm GOS


Hồi phục tốt5
Di chứng nặng
3

40.9

37.88

34.86

31.82

10.61
16.67

9.09
18.18

9.09
18.18

7.58
18.18

khi ra viện

3 tháng

6 tháng

19.25

(mmHg)
21.4 0 ALNS
19.70
15.90

Thờ i g ian

Biểu đồ 3.8. Biểu đồ ALNS trung bình theo từng thời điểm (N=40)
Nhận xét: ALNS sau mở màng cứng ALNS giảm nhiều nhưng ngay
sau mổ, sau mổ 12h, 24h có xu hướng tăng cao hơn nhưng không nhiều.
*Các biến chứng sau mổ GPCEN
Bảng 3.28. Các biến chứng sau mổ (N=66)
Biến chứng
Số BN Tỷ lệ (%)
Không có
31
46,97
Máu tụ NMC
6
9,09
Biến chứng
Máu tụ DMC
1
1,52
gần
Máu tụ trong não,
8
12,12

định so với các thời điểm theo dõi tiếp theo, do vậy chúng tôi chọn kết quả ở thời
điểm này để phân tích mối liên quan với các yếu tố tiên lượng ở các BN nghiên
cứu và chúng tôi đã thu được các kết quả như sau:


12
3.4.1. Liên quan giữa kết quả điều trị và các đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.29. Liên quan giữa kết quả GOS sau ra viện 3 tháng với các yếu tố
lâm sàng trước mổ (N=66)
Điểm Điểm
GOS GOS
OR
Các yếu tố lâm sàng
xấu
tốt
p
(CI95%)
(n=43 (n=23
)
)
GCS 4-5 đ (n=11)
10
1
1,51
GCS
0,046 (1,14-2,02)
GCS 6-8 đ (n=55)
33
22
Tuổi > 50 (n=10)

11
8
mổ
Nhận xét: Tỷ lệ điểm GOS xấu ở nhóm BN có điểm GCS thấp và mất
PXAS đồng tử 1 hoặc 2 bên cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm còn lại.
Bảng 3.30. Liên quan giữa kết quả GOS sau ra viện 3 tháng với các yếu tố
lâm sàng trong mổ (N=66)
Điểm GOS
Các yếu tố lâm sàng
P
trung bình
Không truyền hoặc truyền
2,97 ± 1,17
Truyền máu
≤ 350 ml (n= 31)
0,607
trong mổ
Truyền > 350 ml (n=35)
2,86 ± 1,06
Có vá trùng màng cứng
3,00 ± 1,07
(n=60)
Vá màng cứng
0,038
trong mổ
Không vá được màng cứng
2,00 ± 1,09
(n=6)
Trán-đỉnh-thái dương hai
3,43 ± 0,79

6
Hiệu quả
0,05
33,33 ± 3,27
29,09 ± 9,60
giảm ALNS
7
Nhận xét: Không có sự khác biệt về ALNS trước mổ và sau mổ và hiệu
quả giảm ALNS ở 2 nhóm BN được mổ theo các đường khác nhau.
Bảng 3.32. Liên quan giữa ALNS ngay sau mổ với các yếu tố lâm sàng
trước và trong mổ (N=40)
ALNS
P
sau mổ
Các yếu tố lâm sàng
(mmHg)
Tuổi > 50 (n=5)
15,20 ± 6,02
Tuổi
Tuổi ≤ 50 (n=35)
19,83 ± 7,76 0,12
4
Mất phản xạ 1 hoặc 2 bên 20,93 ± 8,16
Phản xạ đồng
(n=28)
0,03
tử
Còn phản xạ 2 bên (n=12) 15,33 ± 4,56 2
Truyền > 350 ml (n=20)
20,30 ± 8,85

p
OR (CI95%)
(n=43 (n=23
não
)
)
Di lệch đường giữa
3,46
34
12
0,023
≥ 10 mm
(1,15-10,40)

10 mm (n=11)
0,33
đường
1
Lệch đường giữa ≥
giữa
20,00 ± 7,83
10 mm (n=29)
Điểm Rotterdam < 5 (n=13) 16,54 ± 5,33
0,25
Rotterda Rotterdam ≥ 5 (n=27)
8
20,56 ± 8,34
m
Nhận xét: ALNS ngay sau mổ ở nhóm BN có bể đáy xóa cao hơn


16
nhóm không có bể đáy xóa có ý nghĩa thống kê với p = 0,016.
3.4.3 Liên quan giữa kết quả điều trị và áp lực nội sọ
Bảng 3.36. Liên quan giũa ALNS trước mổ và kết quả GOS sau ra viện 3
tháng (N=40)
Điểm GOS
ALNS trung bình
sau ra viện 3 trước mổ (mmHg)
p
tháng
GOS tốt
44,54 ± 7,79
(n=13)

cao hơn ở nhóm có ALNS ≥ 20 mmHg có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Bảng 3.38. Liên quan giữa ALTMN trước mổ và điểm GOS sau ra viện 3
tháng (N=40)
Điểm GOS
Áp lực tưới máu
sau ra viện 3
p
não (mmHg)
tháng
GOS xấu
34,69 ± 12,96
(n=27)
0,003
GOS tốt
48,15 ± 11,08
(n=13)
Nhận xét: ALTMN trước mổ ở nhóm BN có GOS tốt cao hơn so với


17
nhóm có kết quả GOS xấu có ý nghĩa thống kê với p = 0,003.
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Kết quả phẫu thuật GPCEN ở CTNS nặng
* Kết quả theo thang điểm GOS
Nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.6) tỷ lệ tử vong trong quá trình
điều trị và sau khi ra viện 3 tháng là 18,2%; sống thực vật và di chứng
nặng là 47,0%. Những BN tử vong thường có biểu hiện lâm sàng nặng
trước mổ như điểm GCS thấp, giãn đồng tử hai bên, mất PXAS.
Huang (2013) nghiên cứu 201 CTNS được phẫu thuật GPCEN có tỷ lệ

Howard (2008) nghiên cứu 40 trường hợp phẫu thuật GPCEN trong
đó 24 trường hợp phẫu thuật GPCEN sớm cùng với lấy bỏ khối choán chỗ
và 16 trường hợp phẫu thuật GPCEN do phù não, sau hồi sức tích cực
không kiểm soát được tăng ALNS. Kết quả cho thấy ALNS trước mổ là
35,0 ± 13,1mmHg so với sau mổ là 14,6 ± 8,7 mmHg (p = 0,005).
* Biến chứng sau mổ
 Chảy máu sau mổ
Chảy máu là biến chứng xảy ra rất sớm sau phẫu thuật GPCEN, chảy
máu có thể ở cùng bên, ngay dưới chỗ mổ hoặc ở bên đối diện. Theo
nghiên cứu của Yang (2008) biến chứng này gặp khoảng 7% và thường
gặp trong 24 giờ đầu và hay gặp hơn ở trường hợp có đường vỡ xương sọ
bên đối diện. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.28) có 1 trường hợp
máu tụ DMC, 6 trường hợp máu tụ ngoài màng cứng sau mổ, 4 trường hợp
phải mổ lại lấy máu tụ.
 Tụ dịch dưới màng cứng
Tụ dịch DMC trong CTSN kín gặp 7-12% và tỷ lệ này tăng cao ở
những trường hợp có phẫu thuật GPCEN. Trong nghiên cứu của chúng tôi
(bảng 3.28) gặp 23 trường hợp (34,85%), không có trường hợp nào có biểu
hiện tăng ALNS phải phẫu thuật lại. Nguyên nhân tụ dịch DMC do sự thay
đổi lưu thông dịch não tủy, biến chứng này hay gặp tuần đầu sau mổ với tỷ
lệ 14-50%. Aarabi (2006) nghiên cứu 50 trường hợp thấy tụ dịch DMC gặp
50% trong 8 ngày sau mổ GPCEN và hầu hết tự hấp thu trong những tuần
đầu.
 Giãn não thất sau mổ
Giãn não thất sau mổ gặp 9,3%, là nguyên nhân tình trạng lâm sàng
nặng lên, được chẩn đoán xác định bằng chụp CLVT sọ não. Các yếu tố
thuận lợi gây giãn não thất sau phẫu thuật GPCEN là tuổi cao, chảy máu
màng não, chảy máu não thất, nhiễm khuẩn dịch não tủy, điểm GCS thấp
và kích thước mở hộp sọ quá lớn. Trong nghiên cứu chúng tôi (bảng 3.28)
gặp 8 trường hợp (12,12%) có giãn não thất. Chúng tôi tiến hành tạo hình

Hầu hết các tác giả đều thống nhất điểm GCS trước mổ là yếu tố có ý
nghĩa tiên lượng, liên quan đến tỷ lệ tử vong và di chứng nặng sau mổ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.29), ở thời điểm sau ra viện 3
tháng, tỷ lệ BN có điểm GOS xấu ở nhóm có điểm GCS 4-5 điểm cao hơn
có ý nghĩa thống kê với nhóm có điểm GCS là 6-8 điểm (p = 0,046).
Kung (2010) nghiên cứu trên 27625 trường hợp CTSN nặng tại Đài
Loan cho kết quả tỷ lệ tử vong liên quan mật thiết với thang điểm GCS,
hay điểm vận động trong thang điểm, khi điểm càng thấp, tỷ lệ tử vong
càng cao và ngược lại (p < 0,001).
* Phản xạ đồng tử với ánh sáng trước mổ
Theo nhiều tác giả, mất PXAS, giãn đồng tử 2 bên hoặc đồng tử
không đều là yếu tố tiên lượng xấu. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng
3.29), sau ra viện 3 tháng, tỷ lệ BN có kết quả GOS xấu ở nhóm mất


20
PXAS đồng tử 1 hoặc 2 bên cao hơn 9,64 lần nhóm còn PXAS đồng tử 2
bên có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Marmarou (2007) nghiên cứu 8721 trường hợp CTSN vừa và nặng
cho thấy giãn đồng tử một bên hoặc hai bên là yếu tố tiên lượng nặng, ảnh
hưởng đến kết quả điều trị (p < 0,0001). Chieregato (2010) cho rằng PXAS
quan trọng hơn so với điểm GCS trong việc quyết định điều trị trong giai
đoạn đầu của BN CTSN nặng bằng manitol hay tăng thông khí nhân tạo.
4.2.2. Liên quan giữa kết quả điều trị và hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não
* Mức độ đè đẩy đường giữa
Mức độ di lệch đường giữa được hầu hết các tác giả công nhận là một
yếu tố tiên lượng nặng trong CTSN. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng
3.33) ở thời điểm sau ra viện 3 tháng, tỷ lệ BN có điểm GOS xấu ở nhóm có
di lệch đường giữa ≥ 10mm cao hơn 3,46 lần nhóm BN có di lệch đường
giữa < 10 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,023. Như vậy,

và ở nhóm BN có xuất huyết dưới nhện. Nhưng theo nghiên cứu của nhiều
tác giả khác, chảy máu màng nhện là một yếu tố tiên lượng nặng.
4.2.3. Liên quan giữa kết quả điều trị và áp lực nội sọ
* Áp lực nội sọ trước mổ
Theo nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.36) ALNS trung bình trước
mổ ở nhóm bệnh nhân GOS xấu sau ra viện 3 tháng là 51,11 ± 9,72 mmHg
cao hơn so với nhóm GOS tốt là 44,54 ± 7,79 mmHg, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê p = 0,04. Các bệnh nhân có ALNS cao trước mổ thường là
những trường hợp có điểm GCS thấp, giãn đồng tử hai bên. Đặc biệt, ở
nhóm tử vong và di chứng nặng, ALNS sau mổ có thể vẫn duy trì cao trên
mức 20 mmHg. Theo kết quả bảng 3.37 tỷ lệ BN có điểm GOS tốt sau ra
viện 3 tháng ở nhóm ALNS ngay sau mổ < 20mmHg cao hơn có ý nghĩa
thống kê với nhóm có ALNS sau mổ ≥ 20mmHg với p < 0,001.
Marmarou (1991) nghiên cứu cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa kết
quả điều trị với thời gian tăng ALNS hơn 20 mmHg và việc kiểm soát tốt
ALNS sau điều trị. Chính vì lý do này mà một số tác giả chỉ định phẫu
thuật GPCEN sớm hơn, khi ALNS trên 25 mmHg mặc dù đã điều trị nội
khoa tích cực.
* Áp lực tưới máu não
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.38) ALTMN ước
tính của BN tại thời điểm ngay trước mổ có ý nghĩa tiên lượng đối với kết
quả điều trị theo điểm GOS. Nhóm BN sau ra viện 3 tháng có điểm GOS
tốt có ALTMN trung bình ước tính là 48,15 ± 11,08 mmHg cao hơn có ý
nghĩa thống kê với nhóm BN có điểm GOS xấu (34,69 ± 12,96 mmHg)
với p = 0,003. Tăng ALNS làm ảnh hưởng tới ALTMN và ảnh hưởng trực
tiếp tới lưu lượng máu não, qua đó làm nặng thêm các tổn thương thứ
phát và phù não.


22

tụ máu DMC (1,52%), giập não - máu tụ trong não tiến triển có 8 trường
hợp (12,12%), nhiễm trùng vết mổ 2 trường hợp (3,03%), tụ dịch DMC


23
23 trường hợp (34,85%), giãn não thất 8 trường hợp (12,12%).
- Phẫu thuật GPCEN có hiệu quả giảm ALNS. ALNS ngay sau mổ
giảm khoảng 60,65% so với trước mổ, hiệu quả giảm ALNS là rõ rệt và rất
có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- ALNS giảm và hiệu quả giảm ALNS được duy trì những ngày sau
mổ cho đến khi rút máy đo. Mặc dù có sự biến đổi về ALNS ở các thời
điểm khác nhau sau mổ nhưng sự biến đổi này < 20% và được điều trị
kiểm soát bằng điều trị nội khoa sau mổ. Những trường hợp ALNS ngay
sau mổ cao ≥ 20 mmHg có tiên lượng kết quả điều trị xấu theo điểm GOS
sau mổ (đánh giá ở thời điểm sau ra viện 3 tháng).
- Các yếu tố tiên lượng kết quả điều trị sau mổ là mức độ hôn mê
theo thang điểm GCS, giãn đồng tử, mất phản xạ ánh sáng, mức độ di lệch
đường giữa, mức độ chèn ép bể đáy. ALNS trước mổ, ALNS sau mổ và
mức độ giảm sau mổ cũng là yếu tố tiên lượng kết quả điều trị.
- Theo dõi ALNS trong CTSN nặng là rất quan trọng, rất có ý nghĩa
trong chỉ định điều trị giúp làm giảm tỷ lệ tử vong, di chứng nặng ở BN
CTSN nặng.


DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.

Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Công Tô, Vũ Văn Hòe và cộng sự
(2017), "Kết quả sau ra viện 3 tháng và các yếu tố tiên lượng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status