Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính và kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương sọ não nặng tt - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

BỘ QUỐC PHÒNG

TẠO
HỌC VIỆN QUÂN Y
------------------

NGUYỄN ĐÌNH HƯNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẮT LỚP VI TÍNH VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ
CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG
Chuyên ngành: Ngoại Thần kinh và sọ não
Mã số: 62 72 01 27

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC


HÀ NỘI - 2018


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN QUÂN Y - BỘ QUỐC PHÒNG
-------------------------------------------Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN CÔNG TÔ
Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Hòa Bình
Bệnh viện TƯQĐ 108
Phản biện 2: PGS.TS. Phạm Ngọc Hoa
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Phản biện 3: PGS. TS. Đồng Văn Hệ

với trước. Theo đó nhiều nghiên cứu về CTSN nặng đã được thực hiện
nhằm tìm hiểu hiệu quả của phẫu thuật và hồi sức tích cực, vai trò của theo
dõi ALNS, kỹ thuật mở và vá màng cứng. Những yếu tố tiên lượng, yếu tố
nguy cơ của phẫu thuật giải phóng chèn ép não trong CTSN nặng cũng
được nghiên cứu để giúp cho điều trị CTSN nặng được hiệu quả hơn. Tuy
nhiên chưa có nghiên cứu nào thực hiện một cách đầy đủ về phẫu thuật
GPCEN trong CTSN nặng.
2. Mục đích của đề tài
2.1. Mô tả triệu chứng lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính của
CTSN nặng.
2.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật GPCEN ở chấn thương sọ não nặng.
3. Ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp mới của đề tài
Ở Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống thực
hiện một cách đầy đủ về phẫu thuật GPCEN trong CTSN nặng trong đó
BN được đánh giá đầy đủ về lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính, ALNS và
được theo dõi trước mổ, sau mổ, trước ra viện và sau ra viện.


2
Nghiên cứu đưa ra được một số kết quả có ý nghĩa về mặt thực tiễn:
- Phẫu thuật GPCEN trong CTSN nặng, kết quả nghiên cứu theo dõi
sau mổ 12 tháng, kết quả xấu có đểm GOS 1-3 điểm (BN tử vong, thực vật
hoặc di chứng nặng) chiếm 57,6%, trong đó tỷ lệ tử vong là 18,2%. Kết
quả tốt với điểm GOS 4-5 điểm (di chứng nhẹ và hồi phục tốt) chiếm
42,4%. Phẫu thuật GPCEN có hiệu quả giảm ALNS.
- Các yếu tố tiên lượng kết quả điều trị sau mổ là mức độ hôn mê
theo thang điểm GCS, giãn đồng tử, mất phản xạ ánh sáng, mức độ di lệch
đường giữa, mức độ chèn ép bể đáy. ALNS trước mổ, ALNS sau mổ và
mức độ giảm sau mổ cũng là yếu tố tiên lượng kết quả điều trị.
Qua các kết quả của công trình nghiên cứu giúp cho việc thực hành

có các hình thái liệt khác nhau.
1.1.4. Dấu hiệu vỡ nền sọ
*Vỡ nền sọ trước: Dấu hiệu “đeo kính râm”. Có thể thấy chảy máu
kết mạc mắt. Chảy DNT ra mũi sau chấn thương gặp khoảng 2% các
trường hợp CTSN. Có thể kèm liệt các dây thần kinh sọ từ I đến VI.
* Vỡ nền sọ giữa: Máu lẫn DNT chảy qua lỗ ống tai ngoài. Bầm tím,
tụ máu sau vành tai. Liệt dây thần kinh VII ngoại vi: mồm méo lệch sang
bên đối diện. Chảy DNT qua lỗ ống tai ngoài gặp ít hơn.
1.1.5. Dấu hiệu thần kinh thực vật
Khi tổn thương não nặng, tăng ALNS nhiều có thể gặp rối loạn thần
kinh thực vật nặng, mạch chậm 60 - 50 lần/phút, thở chậm và xu hướng
ngừng thở, nhiệt độ cơ thể 390C - 400C, vã mồ hôi, rung cơ, có những cơn
co cứng mất vỏ, duỗi cứng mất não, huyết áp động mạch tăng cao. Khi tổn
thương não mất bù, BN thường tử vong.
1.1.6. Hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não trong chấn
thương sọ não nặng
Trên hình ảnh CLVT sọ não có thể phát hiện các thương tổn chảy
máu trong hộp sọ như: máu tụ NMC, máu tụ dưới màng cứng (DMC), máu
tụ trong não, chảy máu màng nhện, chảy máu não thất, ổ giập não. Ngoài
ra trên hình ảnh CLVT sọ nào còn có thể đánh giá mức độ di lệch đường
giữa, chèn ép bể đáy và phù não.
1.1.7. Tăng áp lực nội sọ
Các nguyên nhân ngây tăng ALNS có thể là: phù não, khối choán
chỗ, rối loạn vận mạch (liệt mạch).
Hậu quả của tăng áp lực nội sọ là có thể gây chèn ép gây hiện tượng
thoát vị não, giảm hoặc ngừng dòng máu tới não.
1.2. Phẫu thuật GPCEN trong chấn thương so não nặng
1.2.1. Chỉ định phẫu thuật giải phóng chèn ép não
Chỉ định phẫu thuật GPCEN trong CTSN nặng được thực hiện ở 2
trường hợp:

- BN có hồ sơ bệnh án có đầy đủ thông tin chẩn đoán lâm sàng, hình
ảnh CLVT sọ não.
- Các BN tuân thủ quy trình điều trị và theo dõi sau mổ, tái khám
định kỳ sau mổ.
*Tiêu chuẩn loại trừ:
- BN tuổi cao > 70 tuổi, thể trạng yếu, có nhiều bệnh nội khoa kèm


5
theo ảnh hưởng tới gây mê, hồi sức và đánh giá kết quả sau mổ.
- BN có tình trạng sốc chấn thương, BN đa chấn thương với nhiều
tổn thương nặng ngoài sọ phối hợp với CTSN. Những BN này với thương
tổn ngoài sọ nặng sẽ ảnh hưởng đến kết quả đánh giá và theo dõi sau mổ.
- BN phẫu thuật GPCEN ở nơi khác chuyển đến bệnh viện đa khoa
Xanh Pôn điều trị tiếp.
- BN phẫu thuật GPCEN với bệnh lý sọ não khác.
- BN và người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp không đối chứng. Lựa
chọn BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu vào nghiên cứu. Theo dõi BN trước,
sau phẫu thuật và tái khám sau mổ 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trước khi
kết thúc nghiên cứu, được ghi chép rõ ràng vào bệnh án nghiên cứu.
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh trên CLVT, đánh giá kết
quả sau phẫu thuật giải phóng chèn ép não.
2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên cho tất cả các BN đến khám
và điều trị phẫu thuật GPCEN tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội
trong thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 04/2010 đến tháng 12/2015.
Tất cả BN có đủ tiêu chuẩn được lựa chọn vào nghiên cứu. Cỡ mẫu được

cận lâm sàng trước mổ, diễn biến trong mổ, theo dõi sau mổ và những lần
tái khám sau mổ.
2.2.5. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch trước khi mã hóa và nhập vào máy tính và xử
lý theo chương trình SPSS 16.0 với các test thống kê y học.
2.2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành có sự đồng ý và cho phép của hội đồng
chấm bài luận dự định nghiên cứu của Học viện Quân Y, Hội đồng khoa học
Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn. Các số liệu thu thập sau nghiên cứu chỉ sử
dụng cho mục đích khoa học và các thông tin liên quan cá nhân sẽ được giữ
bí mật tuyệt đối. Nghiên cứu đảm bảo quyền tự nguyện tham gia của các
đối tượng nghiên cứu.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nghiên cứu trên 66 trường hợp phẫu thuật GPCEN, có 40
trường hợp trong số này được đặt máy đo và theo dõi ALNS trước, trong
và sau mổ. Tất cả 66 BN được theo dõi và đánh giá kết quả điều trị ở thời
điểm khi ra viện và sau khi ra viện 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng và trước


7
khi kết thúc nghiên cứu.
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ (%)

15.15
< 20

22.73
40

3.03%
4

13.64%
5

21.21%
6

18.18%
7

43.94%
8

Điểm GCS trước mổ

Biểu đồ 3.3. Điểm GCS trước mổ (N=66)
Nhận xét: Có 55 trường hợp có điểm GCS 6 - 8 điểm chiếm 83,33%.
Bảng 3.5. Dấu hiệu giãn đồng tử và phản xạ ánh sáng
của đồng tử trước mổ (N=66)
Dấu hiệu lâm sàng của đồng tử
Số BN
Tỷ lệ (%)
Đồng tử 2 bên không giãn và có PXAS
22
33,33
Đồng tử 1 bên giãn và mất PXAS
33
50,00

42,50%
a ≥ 50 mmHg
17
42,50%
Nhận xét: Đa số BN có ALNS trước mổ ở mức cao từ 40 mmHg trở lên.
3.2.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não
Bảng 3.9. Các loại máu tụ nội sọ có chỉ định phẫu thuật (N=66)
Loại máu tụ nội sọ có chỉ định
Số
Tỷ lệ
mổ GPCEN
BN
(%)
Một loại
Máu tụ DMC
20
30,30
máu tụ
Giập não hoặc máu
23
34,85
tụ trong não
Phối hợp
Cả Máu tụ DMC
23
34,85
cả 2 tổn
kèm giập não hay
thương
máu tụ trong não

10,61
5 > d ≤10 mm
18
27,27
10 > d ≤ 15 mm
31
46,97
d > 15 mm
10
15,15
Nhận xét: Đa số có sự di lệch qua đường giữa >10 mm chiếm tỷ lệ 62,12%.
Bảng 3.12. Hình ảnh bể đáy trên phim CLVT sọ não (N=66)
Hình ảnh bể đáy
Số BN
Tỷ lệ
(%)
Bể đáy bình thường
16
24,24
Bể đáy còn nhưng mờ
22
33,34
Xóa bể đáy
28
42,42
Nhận xét: Có 50 trường hợp (75,76%) bể đáy bị chèn ép trong đó có 28
trường hợp (42,42%) có xóa bể đáy hoàn toàn.
Tỷ lệ (%)
50 .0 0 %
40 .0 0 %

Bảng 3.19. Đường mổ thực hiện phẫu thuật GPCEN (N=66)
Đường mổ
Số BN
Tỷ lệ
(%)
Trán-đỉnh-thái dương
7
10,61
hai bên
Trán-đỉnh-chẩm-thái
59
89,39


10
dương một bên
Nhận xét: Số BN được phẫu thuật với đường mổ một bên chiếm đa số.
Bảng 3.21. Phương pháp xử lý màng cứng trong mổ (N=66)
Cách xử lý màng cứng Số BN
Tỷ lệ
(%)
Vá chùng màng cứng
60
90,91
Không vá được màng
6
9,09
cứng
Nhận xét: Đa phần các BN được vá chùng màng cứng chiếm 90,91%.
Bảng 3.23. Truyền máu trong mổ (N=66)

40%
30%
20%
10%
0%

1.52
30.3

1.52

6.06

Chú thích
6.06

33.33

31.81

36.36
Di chứng nhẹ
4

Hồi phục tốt5
Di chứng nặng
3

40.9


1

Biểu đồ 3.6. Kết quả theo điểm GOS tại các thời điểm sau mổ (N=66)
Nhận xét: Từ thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật, BN có kết quả điều
trị theo điểm GOS là tương đối ổn định.
Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu tháng 11 năm 2017, chúng tôi
đánh giá được kết quả điều trị theo điểm GOS cho 52/66 BN nghiên cứu.
Tỷ lệ tử vong là 30,77%, có 1 trường hợp (1,29%) BN sống thực vật.


11
*Hiệu quả giảm áp lực nội sọ sau phẫu thuật GPCEN
60.00
50.00
40.00
30.00
20.00
10.00
0.00

4 8.98
16.05

19.25

(mmHg)
21.4 0 ALNS
19.70
15.90


Giãn não thất
8
12,12
Tụ dịch DMC
23
34,85
Số lượng biến
1 bến chứng
22
33,33
chứng
≥ 2 biến chứng
13
19,70
Nhận xét: Số BN không có các biến chứng khác nhau sau mổ là 31
trường hợp chiếm 46,97%. Số còn lại BN có thể có các biến chứng khác
nhau, trong đó gặp nhiều nhất là tụ dịch DMC chiếm 34,85% tổng số BN.
4/7 trường hợp biến chứng chảy máu sau mổ phải mổ lại (3 trường hợp tụ
máu NMC và 1 trường hợp tụ máu DMC), 4/8 trường hợp giãn não thất
được chỉ định đặt dẫn lưu não thất ổ bụng.
3.4. Liên quan giữa kết quả điều trị và các yếu tố tiên lượng
Theo kết quả nghiên cứu ở mục 3.3.2 ở trên, chúng tôi nhận thấy kết quả
điều trị theo thang điểm GOS ở thời điểm sau ra viên 3 tháng là tương đối ổn
định so với các thời điểm theo dõi tiếp theo, do vậy chúng tôi chọn kết quả ở thời
điểm này để phân tích mối liên quan với các yếu tố tiên lượng ở các BN nghiên
cứu và chúng tôi đã thu được các kết quả như sau:


12
3.4.1. Liên quan giữa kết quả điều trị và các đặc điểm lâm sàng

18
Mất PXAS đồng tử 1 hoặc 2
36
8
bên (n=44)
24h (n=19)
11
8
mổ
Nhận xét: Tỷ lệ điểm GOS xấu ở nhóm BN có điểm GCS thấp và mất
PXAS đồng tử 1 hoặc 2 bên cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm còn lại.
Bảng 3.30. Liên quan giữa kết quả GOS sau ra viện 3 tháng với các yếu tố
lâm sàng trong mổ (N=66)

cứng và nhóm không vá màng cứng trong mổ khác nhau có ý nghĩa


13
thống kê.
Bảng 3.31. So sánh hiệu quả giảm ALNS theo đường mổ trán-đỉnh-thái
dương 2 bên và đường mổ trán - đỉnh - chẩm - thái dương 1 bên (N=40)
Mổ trán Mổ trán - đỉnh - thái dương
đỉnh - chẩm ALNS
p
2 bên (N=6)
thái dương 1
(mmHg)
bên (N=34)
0,86
Trước mổ
48,33 ± 7,17
49,09 ± 10,01
1
0,19
Ngay sau mổ
15,00 ± 5,97
20,00 ± 7,75
6
Hiệu quả
0,05
33,33 ± 3,27
29,09 ± 9,60
giảm ALNS
7

(n=36)
0,00
Vá màng
cứng
Không vá được màng
30,50 ± 9,15 9
cứng (n=4)
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân có PXAS đồng tử 2 bên và có vá được
màng cứng trong mổ có ALNS thấp hơn có có ý nghĩa thống kê so với


14
nhóm còn lại.


15
3.4.2. Liên quan giữa kết quả điều trị và hình ảnh CLVT sọ não
Bảng 3.33. Liên quan giữa kết quả GOS sau ra viện 3 tháng với hình ảnh
CLVT sọ não trước mổ (N=66)
GOS GOS
xấu
tốt
Hình ảnh CLVT sọ
p
OR (CI95%)
(n=43 (n=23
não
)
)
Di lệch đường giữa

0,276
(0,62-5,29)
Nhận xét: Tỉ lệ BN có GOS xấu ở nhóm có di lệch đường giữa ≥
10mm cao hơn nhóm di lệch đường giữa < 10 mm là 3,63 lần, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p = 0,023. Tỷ lệ GOS xấu ở nhóm BN có xóa bể
đáy cao hơn 9,23 lần nhóm chưa xóa bể đáy với p < 0,001. Tỷ lệ BN có
GOS xấu ở nhóm có điểm Rotterdam ≥ 5 cao hơn so với nhóm BN có
điểm Rotterdam < 5 (p =0 ,013).
Bảng 3.35. Liên quan giữa ALNS ngay sau mổ với hình ảnh CLVT trước mổ
(N=40)
ALNS sau
Hình ảnh CLVT trước mổ
p
mổ (mmHg)
Bể đáy không xóa
16,78 ± 5,64 0,01
(n=23)
Bể đáy
6
Bể đáy xóa (n=17) 22,59 ± 8,87
Lệch đường giữa

Bảng 3.37. Liên quan giữa ALNS ngay sau mổ và điểm GOS sau ra viện 3
tháng (N=40)
GOS
GOS
p
Áp lực nội sọ
tốt
xấu
ngay sau mổ
(N=13 (N=27
)
)
ALNS sau mổ

rõ rệt giảm ALNS sau mổ GPCEN so với nhóm chứng. Ngay sau mổ
ALNS giảm từ 36,4 mmHg xuống còn 12,6 mmHg. Trong 12 giờ đầu tiên
ALNS có tăng nhưng thấp hơn nhiều so với trước mổ.
 Giảm ALNS sau mở màng cứng
Trong nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.8 và bảng 3.26), ALNS
trung bình trước mổ là 48,98 ± 9,56 mmHg giảm rõ rệt còn 16,05 ± 6,15
mmHg sau mở màng cứng, mức giảm ALNS trung bình là 32,47 ± 9,62
mmHg (giảm 65,86%) là rất có ý nghĩa thống kê khi so sánh theo cặp với p
< 0,001. Như vậy sau khi mở xương hộp sọ đủ rộng, ALNS có giảm nhưng
vẫn còn cao hơn giá trị bình thường. Nếu chỉ dừng lại ở bước này, hiệu quả
giảm ALNS của phẫu thuật GPCEN là chưa đủ, ALNS vẫn cao.
 Giảm ALNS sau mổ
Theo nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.8 và bảng 3.26), ngay sau
mổ ALNS giảm từ 48,98 ± 9,56 mmHg xuống còn 19,25 ± 7,66 mmHg
(giảm 60,65% so với trước mổ); mức giảm này rất có ý nhĩa khi so sánh
theo cặp (p < 0,001). Sau mổ 12 giờ, ALNS có tăng nhẹ và giảm dần sau đó
và thường được duy trì, kiểm soát bằng điều trị hồi sức nội khoa tương đối
ổn định cho tới khi rút máy đo. Vì vậy, theo dõi sát ALNS sau mổ là cần


18
thiết, đặc biệt trong 48 giờ đầu tiên, kịp thời phát hiện tăng ALNS để chỉ
định điều trị phù hợp.
Howard (2008) nghiên cứu 40 trường hợp phẫu thuật GPCEN trong
đó 24 trường hợp phẫu thuật GPCEN sớm cùng với lấy bỏ khối choán chỗ
và 16 trường hợp phẫu thuật GPCEN do phù não, sau hồi sức tích cực
không kiểm soát được tăng ALNS. Kết quả cho thấy ALNS trước mổ là
35,0 ± 13,1mmHg so với sau mổ là 14,6 ± 8,7 mmHg (p = 0,005).
* Biến chứng sau mổ
 Chảy máu sau mổ

biểu hiện bằng sốt cao sau mổ, vết mổ nề đỏ hoặc toác vết mổ. Stiver (2009)
cho rằng khi bộc lộ xuống vùng thái dương nền làm tổn thương động mạch
thái dương hay sử dụng vật liệu vá tạo hình màng cứng hoặc để hở màng cứng
là yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn. Khi mở cửa sổ xương rộng qua xoang
trán hay xương chũm cũng tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. BN bị chấn thương có
tổn thương da và tổ chức phần mềm hay có vết thương hở cũng là yêu tố nguy
cơ được tính đến. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.28) có 2 trường hợp
(3,03%) nhiễm khuẩn nông, không có trường hợp nào nhiễn khuẩn sâu gây
viêm màng não hoặc áp xe não.
4.2. Liên quan giữa kết quả điều trị và các yếu tố tiên lượng
4.2.1. Liên quan giữa kết quả điều trị và đặc điểm lâm sàng trước mổ
* Tuổi
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của nhóm có kết quả
tốt sau phẫu thuật GPCEN ở CTSN nặng thấp hơn nhiều so với nhóm có
kết quả xấu. Chibbaro (2008) nghiên cứu 80 trường hợp có độ tuổi từ 16
đến 61, độ tuổi trung bình của nhóm có kết quả tốt là 29 tuổi so với nhóm
có kết quả xấu là 48 tuổi (p < 0,0005). Williams (2009) nghiên cứu 171
trường hợp có độ tuổi từ 15 đến 90 cho thấy độ tuổi trung bình nhóm có
kết quả tốt là 26 so với nhóm có kết quả xấu là 43 (p = 0,0028).
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự liên quan giữa độ tuổi
với kết quả điều trị theo điểm GOS. Giải thích cho sự khác biệt này có thể
do trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 10 BN trên 50 tuổi.
* Điểm GCS trước mổ
Hầu hết các tác giả đều thống nhất điểm GCS trước mổ là yếu tố có ý
nghĩa tiên lượng, liên quan đến tỷ lệ tử vong và di chứng nặng sau mổ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.29), ở thời điểm sau ra viện 3
tháng, tỷ lệ BN có điểm GOS xấu ở nhóm có điểm GCS 4-5 điểm cao hơn
có ý nghĩa thống kê với nhóm có điểm GCS là 6-8 điểm (p = 0,046).
Kung (2010) nghiên cứu trên 27625 trường hợp CTSN nặng tại Đài
Loan cho kết quả tỷ lệ tử vong liên quan mật thiết với thang điểm GCS,

* Mức độ chèn ép bể đáy
Theo Lemcke (2010), chèn ép bể đáy cũng là một trong những dấu hiệu
chỉ điểm CTSN nặng. Theo nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.33), sau ra viện
3 tháng, tỷ lệ BN điểm GOS xấu ở nhóm có xóa bể đáy cao hơn ở nhóm
không có hình ảnh xóa bể đáy, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
và OR(CI95%) = 9,23(2,39-35,94). Mức độ chèn ép bể đáy thể hiện BN có
phù não nhiều, ALNS tăng cao. Sau mổ GPCEN nếu ALNS giảm xuống tốt,
mức độ chèn ép bể đáy và di lệch đường giữa sẽ giảm đi nhiều.
*Điểm Rotterdam
Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.33), tỷ lệ BN có điểm điểm
GOS xấu ở nhóm có điểm Rotterdam ≥ 5 cao hơn so với ở nhóm BN có
điểm Rotterdam < 5 với p = 0,013.
Huang (2012) nghiên cứu 127 trường hợp CTNS nặng được phẫu
thuật GPCEN tại Đài Loan cho thấy điểm Rotterdam là một yếu tố tiên
lượng trong CTNS nặng. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy khi điểm


21
này càng cao, tỷ lệ tử vong và di chứng nặng càng cao. Khi điểm Rotterdam
là 6, tỷ lệ tử vong là 66,7% và tỷ lệ xấu là 91,7%.
* Chảy máu màng nhện
Theo kết quả bảng 3.33, không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về điểm GOS sau ra viện 3 tháng ở nhóm không có xuất huyết dưới nhện
và ở nhóm BN có xuất huyết dưới nhện. Nhưng theo nghiên cứu của nhiều
tác giả khác, chảy máu màng nhện là một yếu tố tiên lượng nặng.
4.2.3. Liên quan giữa kết quả điều trị và áp lực nội sọ
* Áp lực nội sọ trước mổ
Theo nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.36) ALNS trung bình trước
mổ ở nhóm bệnh nhân GOS xấu sau ra viện 3 tháng là 51,11 ± 9,72 mmHg
cao hơn so với nhóm GOS tốt là 44,54 ± 7,79 mmHg, sự khác biệt có ý

trong độ tuổi lao động từ 20 đến 59 tuổi chiếm 77,28%.
- Có 11 trường hợp (16,67%) có GCS là 4-5 điểm, 29 bệnh nhân
(43,94%) GCS là 8 điểm. Có 22 trường hợp (33,33%) đồng tử hai bền đều,
còn phản xạ ánh sáng, 33 trường hợp (50,00%) bị mất phản xạ ánh sáng
một bên, 11 trường hợp (16,67%) đồng tử hai bên giãn và mất phản xạ ánh
sáng.
- Chụp cắt lớp vi tính cho phép chẩn đoán thương tổn nội sọ: Số
bệnh nhân có máu tụ DMC là 43 trường hợp chiếm 65,15%, 46 trường hợp
có giập não hay máu tụ trong não chiếm 69,70%. Có 65,15% trường hợp
chỉ có 1 loại máu tụ nội sọ (máu tụ dưới màng cứng, giập não hoặc máu tụ
trong não), 23 trường hợp (34,85%) có tổn thương phối hợp máu tụ DMC
với giập não hoặc máu tụ trong não. Đường giữa bị đè đẩy với nhiều mức
độ khác nhau, 41 trường hợp (62,12%) đè đẩy đường giữa > 10 mm. Có 50
trường hợp (75,76%) bể đáy bị chèn ép các mức độ khác nhau, bể đáy xóa
hoàn toàn chiếm 42,42%, 16 trường hợp (24,24%) có bể đáy bình thường.
2. Kết quả điều trị, các yếu tố tiên lượng của phẫu thuật giải phóng chèn
ép ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng.
- Phẫu thuật GPCEN trong CTSN nặng, kết quả nghiên cứu theo dõi
sau mổ 12 tháng, kết quả xấu có 38 bệnh nhân với đểm GOS 1-3 điểm
(bệnh nhân tử vong, thực vật hoặc di chứng nặng) chiếm 57,6%, trong đó
tử vong là 12 trường hợp (18,2%). Kết quả tốt với điểm GOS 4-5 điểm
(di chứng nhẹ và hồi phục tốt) là 28 trường hợp chiếm 42,4%. Biến chứng
sau mổ có thể gặp là: 6 trường hợp tụ máu NMC (9,09%), 1 trường hợp
tụ máu DMC (1,52%), giập não - máu tụ trong não tiến triển có 8 trường
hợp (12,12%), nhiễm trùng vết mổ 2 trường hợp (3,03%), tụ dịch DMC



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status