BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN ĐÌNH LIÊN
PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG ĐIỀU TRỊ
BỆNH LÝ TỒN TẠI ỐNG PHÚC TINH MẠC
TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
HÀ NỘI – 2018
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em thường gặp và phong phú
về thể lâm sàng, diễn biến và biểu hiện bệnh còn phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ
em, nội dụng trong ống phúc tinh mạc [1], [2], [3]. Dù chẩn đoán bệnh thuận
lợi khi kết hợp thăm khám lâm sàng và siêu âm nhưng phương pháp điều trị
còn nhiều bàn luận, tranh cãi. Trước thập niên 90 của thế kỷ XX thì đa phần
các tác giả ủng hộ phương pháp mổ mở với nguyên lý cơ bản và Ferguson nêu
tinh mạc nói còn có yêu cầu: Thời gian gây mê và thời gian phẫu thuật ngắn,
thắt cao ống phúc tinh mạc, đặc biệt là ít có nguy cơ tổn thương ống dẫn tinh
và mạch tinh hoàn, tỷ lệ tái phát thấp [12], [15], [16].
Thời gian ban đầu các kỹ thuật mổ chú trọng tới khâu đóng kín phúc mạc
tại lỗ bẹn trong do lo ngại làm tổn thương bó mạch nuôi tinh hoàn và ống dẫn
tinh. Tiếp đến, các nhà phẫu thuật mạnh dạn cắt, bóc tách ống phúc tinh mạc ở
lỗ bẹn trong và khâu kín phúc mạc bằng các mũi khẫu rời hoặc vắt vơi nút thắt
hoàn toàn trong ổ bụng. Với kinh nghiệm hiểu biết được giải phẫu của ống bẹn,
lỗ bẹn trong, các thành phần đi qua lỗ bẹn trong các nhà phẫu thuật nhi khoa đã
tiến hành khâu đống kín lỗ bẹn trong với nút thắt hoàn toàn ngoài phúc mạc có
hoặc không có sử dụng dụng cụ hỗ trợ. Qua đó hạn chế dần số vết mổ đặt trocart
trên thành bụng và tiến tới phẫu thuật 1 lỗ qua rốn để đóng kín ống phúc tinh
mạc tại lỗ bẹn trong [17]. Nhưng khi có các tổn thương khác được chẩn đoán cần
được xử lý thì đặt thêm các trocart thao tác là cần thiết.
Hiện nay trên thế giới đang có xu thế sử dụng phẫu thuật nội soi thắt ống
phúc tinh mạc ở trẻ em điều trị thoát vị bẹn, tràn dịch màng tinh hoàn, nang
nước thừng tinh, tinh hoàn di động. Do phẫu thuật nội soi có các ưu điểm:
Tầm soát sự tồn tại ống phúc tinh mạc đối bên, tầm soát các bệnh lý bẩm sinh
trong ổ bụng…đồng thời đảm bảo được nguyên tắc thắt cao ống phúc tinh
mạc. Tùy thuộc vào thói quen, quan điểm của các phẫu thuật viên về phẫu
thuật nội soi thắt ống phúc tinh mạc mà có thể sử dụng nút thắt trong phúc
6
mạc hoặc nút thắt ngoài phúc mạc. Phẫu thuật thắt ống phúc tinh mạc bên
trong ổ bụng thường sử dụng 2 – 3 trocart để tiến ành đóng kín phúc mạc tại
lỗ bẹn trong có hoặc không có thì cắt bỏ ống phúc tinh mạc. Ngược lại phẫu
thuật thắt ống phúc tinh mạc với nút thắt bên ngoài ổ bụng thường đơn thuần
là sử dụng mũi khâu qua da, lấy hết ống phúc tinh mạc và tránh tổn thương
lệ tử vong cao, tỷ lệ phát lớn, đặc biệt đa phần phải cắt bỏ tinh hoàn hoặc gây
teo tinh hoàn [18], [19].
Đến thế kỷ thứ V sau công nguyên tại Ấn Độ đã được ghi chép đầy đủ
hơn về lâm sàng và biến đổi vùng bẹn khi bệnh nhân bị thoát vị bẹn [19]. Tại
châu Âu trước thế kỷ XVI do các nhà ngoại khoa như Franco, Stromay không
hiểu được các vai trò của các thành phần trong ống bẹn đi xuống bìu nên phẫu
thuật thoát vị bẹn thường là cắt bỏ thừng tinh - tinh hoàn, túi thoát vị làm tăng
tỷ lệ tử vong và tàn phế [19].
Đến thời kỳ Phục Hưng nhờ việc phẫu tích xác ở Châu Âu đã cho phép
hiểu thêm về các bệnh lý vùng bẹn bìu do tồn tại ống phúc tinh mạc. Nhưng
phải đến những năm đầu của thế kỷ XIX, nhờ các tác giả Thomas Morton,
Astley Paston Cooper, Franz Kaspar Hesselbach và Antonio Scarpa mới mô
tả được một cách chính xác, hoàn thiện giải phẫu ống bẹn [19], [20], [21].
Nhờ đó mà năm 1877, tại Châu Âu và Bắc Mỹ V. Czerny đã mô tả phương
pháp phẫu thuật cột cao và cắt bao thoát vị tại lỗ bẹn nông và khâu hẹp lại lỗ
bẹn nông [19].
8
Trên cơ sở hiểu biết chi tiết về giải phẫu ống bẹn và có phương pháp sát
trùng của Lister đã tăng tính khả thi của việc tái táo cấu trúc ống bẹn trong
bệnh lý thoát vị bẹn và hạn chế tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng. Eduado Bassini
(1887) và Halsted (1889) đã báo cáo sự thành công của kỹ thuật cơ bản lúc
bấy giờ trong thủ thuật khâu túi thoát vị [20]. Cùng năm 1899, Ferguson dựa
trên đề xuất của Henry Orlando Marcy (1837-1924) mô tả kỹ thuật cột cao cổ
túi thoát vị kèm với khâu hẹp lỗ bẹn sâu tiện lợi cho thoát vị trực tiếp và thoát
vị ở trẻ con đã mô tả phương pháp thắt cao túi thoát vị, loại bỏ túi thoát vị và
tái tạo các phần liên quan của cấu trúc thừng tinh theo các lớp giải phẫu ống
bẹn có ý nghĩa rất lớn cho phẫu thuật các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc
thành bụng chứa dịch tích tụ trong đó là dịch phúc mạc ổ bụng gây ra tràn dịch
màng tinh hoàn ở trẻ em [27], [ 28 ]. Các công bố nghiên cứu phôi thai học công
bố năm 1962 của các tác giả Wh Snyder, Philip Thorek cho thấy ống phúc tinh
mạc là phúc mạc nhô ra khỏi thành bụng ở lỗ bẹn trong chạy vào bìu ở trẻ em
hoặc môi lớn ở trẻ nữ. Ống phúc tinh mạc mở thông với khoang bụng trong suốt
thời kỳ phát triển của thai nhi đến khi sinh và ống phúc tinh mạc đóng dần tăng
theo tuổi của trẻ [26], [29], [30], [31], [33].
Theo MF Campbell (1970),) Skoog S.J (1995) cho rằng nguyên nhân
thường xảy ta tràn dịch màng tinh hoàn, nang nước thừng tinh ở trẻ em là do
kết quả đóng không hoàn toàn ống phúc tinh mạc, thường có sự thông thương
trực tiếp giữa dịch trong bao màng tinh hoàn với ổ phúc mạc, và có thể có
thoát vị kèm theo [23], [35], [34]. Năm 1976, Cortessi thực hiện phẫu thuật
nội soi để chẩn đoán tinh hoàn trong ổ bụng ở người trưởng thành [35]. Qua
đó đánh giá cấu trúc lỗ bẹn sâu, và các thành phần phía trong thành sau ống
bẹn cùng đường đi của ống dẫn tinh và bó mạch tinh. Đây là cơ sở giải phẫu
thực hành cho phẫu thuật nội soi các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc và
là luận chứng sáng tỏ để giải thích các thể lâm sàng do tồn tại ống phúc tinh
10
mạc gây ra. Sau đó Tefferey Wacksman (1990); Lobe TE ( 1992) , Lee
Steven (2002) khẳng định tràn dịch màng tinh hoàn có biểu hiện thay đổi
kích thước bìu theo tư thế, thời điểm trong ngày thì hầu hết có thoát vị bẹn
kèm theo. Thể thoát vị bẹn bìu trẻ em thì bao phúc mạc chứa cả nội dung
thoát vị và dịch màng tinh hoàn, do vậy đường kính ống phúc tinh mạc càng
lớn thì khả năng tràn dịch màng tinh hoàn có thoát vị bẹn càng tăng lên [5],
[36], [37].
Lobe TE qua nội soi chẩn đoán đã công bố đầy đủ các hình thái bệnh lý
tồn tại ống phúc tinh mạc [37]. Cung cấp cho các nhà lâm sàng và cận lâm
biết rõ về liên quan của các thành phần giải phẫu này rất quan trọng trong việc
ứng dụng vào khám lâm sàng và thực hành ngoại khoa. Chính việc nắm vững
về giải phẫu học của ống bẹn, các thành phần liên quan ở vùng bẹn sẽ giúp
các nhà ngoại khoa tránh được các tai biến, biến chứng trong phẫu thuật.
Trong phẫu thuật mổ mở thì có tầm quan sát từ bên ngoài đi sâu vào bên
trong. Trong phẫu thuật nội soi thì ngược lại. Cho nên giải phẫu nội soi ống
bẹn có những điểm khác biệt mà bất kỳ phẫu thuật viên mổ thoát vị bẹn cho
trẻ em, người trưởng thành cần hiểu được rõ [6], [11], [21], [39].
1 Nội soi giải phẫu ống bẹn:
1.1 Giải phẫu ống bẹn nhìn từ bên trong nội soi ổ bụng:
Hình 1. Các mốc giải phẫu nhìn từ nội soi [21].
12
Khi bệnh nhân nằm ngửa, đưa camera của máy nội soi ổ bụng qua rốn
hướng đầu máy soi xuống vùng trước dưới của thành bụng (vùng bẹn). Quan
sát sẽ thấy phúc mạc che phủ thành sau ống bẹn, lỗ cơ lược 2 bên. Vùng này
bị đội lên ở 5 chỗ đối xứng nhau qua đường giữa thành các nếp lồi vào ổ bụng
[15], [21], [42],[43].
-
Một ở chính giữa là dây treo bàng quang: Đi chính giữa bụng hướng xuống
phía dưới và dính vào đỉnh của bàng quang. Đối xứng qua dây treo bàng
quang lần lượt là hai dây treo bàng quang ( di tích động mạch rốn) và 2 động
mạch thượng vị dưới (nhánh của động mạch chậu ngoài).Các phần kể trên tạo
nên những sợi thừng chạy dưới phúc mạc và nổi gồ vào trong ổ bụng tạo nên
các vùng gọi là hố bẹn. Ở mỗi bên của đường giữa, với tên gọi lần lượt từ
ngoài vào trong là:
đường trước phúc mạc, sau khi phẫu tích giải phóng phúc mạc khỏi thành
bụng sẽ là lớp mạc ngang. Khoảng không gian này là khoang trước phúc mạc
– sau xương mu bao gồm các khoang Retzius, khoang Bogros chứa các thành
phần quan trọng: Bó mạch tinh, ống dẫn tinh ở nam hoặc dây chằng tròn ở nữ
giới, bó mạch thượng vị dưới, bó mạch chậu…. Các mốc và thành phần giải
phẫu này có ý nghĩa rất lớn để nâng cao độ an toàn, hiệu quả cho phẫu thuật
nội soi ở trẻ em và người lớn vùng bẹn bìu [21], [44].
14
1.2. Mạc ngang (transversalis fascia) và các dây chằng liên quan
Mạc ngang: Được bộc lộ sau khi bóc bỏ phúc mạc và lớp mỡ trước phúc
mạc và gắn chặt vào đường trắng giữa qua cơ thẳng bụng. Có nhiều tác giả
cho rằng mạc ngang thành bụng trước dưới được chia làm 2 lớp. Lớp mặt
nông của mạc ngang phủ sát mặt trong của các cơ thành bụng trước, tuy nhiên
nó mỏng và không có giá trị lâm sàng trong điều trị thoát vị bẹn. Mặt sâu của
mạc ngang, nằm ngay bên dưới mặt nông, bao phủ phúc mạc và tương đối
dày, chắc ở 50% bệnh nhân (nghĩa là nó mỏng và lỏng lẻo ở 50% còn lại).
Khoảng không gian giữa lớp nông và lớp sâu tạo thành một khoang hẹp. Mặt
trên và dưới mạc ngang chạy dọc vùng bẹn và bao phủ các mạch máu dưới
thành bụng (cả 2 bên).
Trong chậu hông, mạc ngang liên tục với cân nội chậu phần bao quanh vị
trí thoát ra của các tạng trong chậu hông và mạc chậu, tất cả bao bọc bao
ngoài của các cơ bên dưới và chia ra làm các phần. Sau đó chúng nhập lại với
thành bụng trước tại vị trí ngang với bó mạch thượng vị dưới. Phần thấp của
mạc ngang tiếp tục chạy đến vùng sau dưới của dây chằng bẹn rồi sau
đó nhập vào với mạc chậu. Phía bên ngoài, mạc ngang nằm giữa nguyên
ủy của cơ thắt lưng chậu, cơ ngang bụng và mép sau của dây chằng bẹn. Phần
giữa của mạc ngang được cố định vào xương chậu, cơ lược và dây chằng
trước phúc mạc - sau xương mu nằm ở đường giữa vùng bụng dưới với
16
phần nông của mạc ngang và xương mu ở phía trước, bàng quang ở
phía sau, nằm dưới rốn và trên các cơ vùng chậu, và các động mạch
thượng vị dưới ở ngay bên dưới khoang… Khoang trước phúc mạcsau xương mu chứa khoang Retzius. Khoang Retzius nguồn gốc tạo
nên bởi sự gấp nếp của phần sâu của mạc ngang và phúc mạc nằm giữa
bàng quang và lớp phúc mạc, bao gồm cả bàng quang và mô liên kết
lỏng lẻo. Phần bên ngoài của bó mạch thượng vị dưới là khoang trước
phúc mạc và sau mạc ngang chứa khoang Bogros. Khoang này nằm
ngang bên cạnh khoang Retzius và bị giới hạn phía trước bởi phần
nông của mạc ngang, ở bên giữa – trong là bó mạch thượng vị dưới, 2
bên là khung chậu, và phía sau bởi cơ đáy chậu [21].
A
B
Hình 4: Giải phẫu và liên quan của khoang trước phúc mạc – sau
xương mu [21].
1.3 Các thành phần và mốc giải phẫu quan trọng:
Các cấu trúc giải phẫu khác trong khoang trước phúc mạc được ghi
nhận bao gồm khớp mu, dây chằng Cooper, the corona mortic, bó mạch
thượng vị dưới, ống dẫn tinh hoặc dây chằng tròn, bó mạch tinh chia
thành tam giác nguy hiểm và tam giác đau. Trong phẫu thuật nội soi thoát
17
hướng về phía rốn. Việc nhận biết các mạch thượng vị dưới là rất quan
trọng trước khi tiếp cận vào khoang Bogros. Phẫu tích giữa bó mạch
thượng vị dưới và phần sâu của mạc ngang là cách tiếp cận đúng duy
nhất tới khoang Bogros. Nếu không, rất dễ để gây tổn thương các mạch
thượng vị dưới hoặc thủng phúc mạc, gây khó khăn cho phẫu thuật nội
soi đường ngoài phúc mạc, hoặc tệ hơn phải chuyên mổ mở.
Dải chậu mu là một cấu trúc dây chắc dày của mạc ngang được
nối với gai chậu trước trên và củ mu và tương đương với dây chằng
bẹn [21]. Nó là ranh giới phía trước của bó mạch đùi và liên kết với
phần trên củ mu và dây chằng lược. Dải chậu mu là ranh giới bên
ngoài của tam giác đau. Dải chậu chậu mu có thể được nhìn thấy như
là một đường màu trắng nằm bên dưới lỗ bẹn trong, đi từ dưới chạy
chếch lên trên và ra ngoài gai chậu trước trên. Tuy nhiên, mức độ phát
triển cả dải chậu mu có thể khác nhau, một số trường hợp bệnh nhân
khó nhận biết được dải chậu mu dưới nội soi, để xác định cần chạm
vào sẽ thấy căng.
Ống dẫn tinh (dây chằng tròn ở nữ) và bó mạch tinh ( bó mạch buồng
trứng ở nữ) có thể bộc lộ hoàn toàn chỉ khi phần sâu của mạc ngangđược bóc
tách và túi thoát vị hoặc nếp phúc mạc được phẫu tích về phía đầu và chúng
tạo ra giới hạn của tam giác nguy hiểm [21]. Ống dẫn tinh: Đi từ dưới lên
trên, chếch từ trong ra ngoài tới lỗ bẹn trong để đi vào ống bẹn cùng với bó
19
mạch tinh.Bó mạch tinh: Bó mạch tinh chạy theo cơ thắt lưng chậu, chếch lên
trên và ra ngoài chui qua lỗ bẹn trong cùng ống dẫn tinh.Bó mạch thượng vị
dưới: Xuất phát từ động tĩnh mạch chậu ngoài đi từ dưới lên trên và chạy
chếch từ ngoài vào trong để đi vào cơ thẳng bụng. Dây thần kinh đùi - Bó
mạch chậu ngoài: Chạy chếch từ trên xuống dưới để chui qua lỗ đùi và đi phía
giác đau [21]
Hình 7 Dây chằng Cooper, dải chậu
mu, dây chằng bẹn phải [21]
Hình 8 Corona mortis [21]
Hình 9 Cách tiếp cận đúng vào
khoang Bogros [22]
1.4 Cơ thẳng bụng, cơ ngang bụng và cơ chéo trong:
Phía trước mạc ngang là cơ thẳng bụng (rectus abdominis) và cơ ngang
bụng, cùng với một số dây chằng quan trọng có tác dụng tăng cường cho ống
bẹn và ống đùi.
Nhìn từ trong ra ngoài sẽ thấy cân của cơ thẳng bụng khi bám dọc theo
mào mu và củ mu để lộ ra một khoảng rộng của mạc bao phủ trên đường lược
rộng chừng 2 cm hình thành nên liềm bẹn thực sự (dây chằng Henle). Một
cách mô tả khác, liềm bẹn là sự dầy lên của cân cơ ngang bụng khi nó bám
vào ngành trên xương mu, một phần của gân kết hợp. Có vẻ như là các sợi
của cân này hòa lẫn với sợi của dây chằng Henle, vì vậy mà nguyên ủy của
chúng trùng khớp với nhau [45].
Phần kết hợp giữa các thớ dưới cùng của cân cơ ngang bụng và cơ chéo
bụng trong tạo nên cân cơ kết hợp. Cân này đi từ phần ngoài của dây chằng
21
bẹn vào trong tạo nên trần (thành trên) của ống bẹn bởi vì nó bám qua ống
bẹn như cái vòm của cơ ngang bụng bám vào mào mu và đường lược. Ở khu
vực giữa dưới này, thành sau của ống bẹn chỉ còn là lớp mạc ngang mỏng
dầy lên chạy từ dưới tới và song song với dây chằng bẹn. Nó là nơi phân biệt
ranh giới phần bụng và phần đùi của mạc ngang. Dải chậu mu nằm rất gần
dây chằng bẹn trên bình diện giữa của nó, nhưng nó là cấu riêng rẽ thực sự.
Còn dây chằng bẹn là một cấu trúc thuộc lớp nông và là một phần của tầng
chéo ngoài của vùng đùi. Trong khi đó dải chậu mu lại là một cấu trúc thuộc
lớp sâu, tầng ngang. So với dây chằng bẹn thì nó là cấu trúc được nhìn thấy
qua nội soi khi bóc tách phúc mạc.
Ở phía ngoài, dải chậu mu được gắn vào mào chậu và tới gai chậu trước
trên, nơi mà cơ chậu và các sợi dưới của cơ ngang bụng hòa lẫn vào nhau. Sau
đó nó vòng qua cơ thắt lưng lớn và động tĩnh mạch đùi, tạo nên một phần bao
đùi trước. Bằng cách này, mạc ngang được tăng cường bởi các sợi bám ngang
chạy từ ngoài đến gai chậu trước trên và vào trong phía sau cơ thẳng bụng.
Các sợi của nó đi vào trong để bám vào ngành trên xương mu và vào dây
chằng lược. Mặt khác các sợi ở phần dưới hơn lại cong xuống đển bám vào
phần ngoài hơn của dây chằng lược, tạo nên giới hạn trong của ống đùi.
Chúng đóng vai trò như vật tăng cường cho phần giữa dưới của viền lỗ bẹn
trong và là một yếu tố quan trọng trong phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn. Mặc
dù một lớp mạc bọc kép, gọi là mạc gian thành, phân chia giữa cơ ngang bụng
và cơ chéo bụng trong trên suốt đường đi của nó, gần ống bẹn và gân kết
hợp, nhưng hai cơ này vẫn luôn luôn bám chặt vào nhau.
Hình 10 Liên quan giữa cân cơ chéo bụng ngoài và dây chằng bẹn [44]
1.5 Cơ chéo bụng trong
23
Khi loại bỏ cơ ngang bụng sẽ bộc lộ được phần nông của gân cơ kết hợp
và bộc lộ sự liên quan của cân cơ chéo bụng trong với dây chằng bẹn. Một lớp
mạc bọc kép tách cơ chéo bụng trong và cơ chéo bụng ngoài. Ở vùng này, cơ
thiết tới sự di chuyển của các cơ quan này đi ra ngoài ổ bụng cùng với túi
cùng phúc mạc. Sự phát triển của ống phúc tinh mac cùng với sự di cư của
tinh hoàn xuống bìu đã tạo thành nòng rỗng của ống bẹn. Các thành phần kéo
theo từ mạc ngang kết hợp với sự phát triển của cân cơ chéo, lớn bé đã tạo ra
các thành ống bẹn [46], [47].
Hình 12 Sự biệt hóa của dây chằng bìu (gubernaculum) [44]
2.2 Sự đi xuống của tinh hoàn và hình thành ống phúc tinh mạc:
25
Hình 13 Sự di chuyển của tinh hoàn xuống bìu [44]
Vào tuần thứ 8 phôi thai có sự biệt hóa và hình thành dây chằng bìu tinh
hoàn từ do các tế bào trung mô hội tụ và tăng cường nhiều hơn ở phần đuôi
của mạc treo niệu dục. Chính mạc treo này có vai trò kéo tinh hoàn xuống
dưới và ra khỏi thành bụng sau. Dây chằng bìu tinh hoàn gắn vào cực dưới
tinh hoàn và mào tinh hướng chạy về lỗ bẹn trong [45].
Vào khoảng tuần thứ 10, dây chằng bìu tinh hoàn được bao bọc xung
quanh bởi một phần phúc mạc, chủ yếu ở mặt trước và mặt bên. Sự phát triển
của các tạng trong ổ bụng phát triển ngày một nhiều chiếm chỗ của thành
bụng trước tạo ra 1 áp lực lớn trong ổ bụng hướng về các điểm yếu của thành
bụng đã đẩy tinh hoàn và mào tinh hoàn một cách có hiệu quả ra khỏi thành
bụng sau và đi hướng xuống dưới. Trong khi phúc mạc lộn ngược trở lại như
một cái túi tạo thành túi cùng phúc mạc (processus vaginalis). Qua trình này
diễn ra liên tục ở phía trước bên của dây chằng bìu tinh hoàn (gubernaculum)
cho tới tận đáy bìu [45]. Dây chằng bìu tinh hoàn kéo theo mào tinh hoàn và
túi cùng phúc mạc xuống đáy bìu.
Sau khi tinh hoàn đã xuống đến bìu, các mô của ống bẹn co lại dọc theo
thừng tinh, để lại một ống xiên như ống bẹn của người lớn. Phúc mạc phủ túi