ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của PHẪU THUẬT nội SOI ổ BỤNG điều TRỊ BỆNH lý TRÀN DỊCH MÀNG TINH HOÀN - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-----***-----

PHẠM QUANG KHẢI

§¸NH GI¸ HIÖU QU¶ CñA PHÉU THUËT
NéI SOI
æ BôNG §IÒU TRÞ BÖNH Lý TRµN DÞCH
MµNG TINH HOµN
Ngành đào tạo: Bác sĩ đa khoa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
KHÓA 2013 - 2019
Người hướng dẫn khoa học:
Ths.Nguyễn Đình Liên

HÀ NỘI - 2019


MỤC LỤC


3

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tràn dịch màng tinh hoàn là một trong các biểu hiện lâm sàng
của :”Bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc” .Ở trẻ em thì thường gặp và
phong phú về thể lâm sàng, diễn biến và biểu hiện bệnh còn phụ thuộc vào độ

bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc được phát triển trên toàn thế giới một cách
nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phẫu thuật nội soi trẻ em nói chung: An toàn,
hiệu quản, ít đau, thẩm mỹ, thời gian nằm viện ngắn, sẹo mổ nhỏ hoặc không
có sẹo [14]. Riêng phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh
mạc còn có yêu cầu: Thời gian gây mê và thời gian phẫu thuật ngắn, thắt cao
ống phúc tinh mạc, đặc biệt là ít có nguy cơ tổn thương ống dẫn tinh và mạch
tinh hoàn, tỷ lệ tái phát thấp [12], [15], [16].
Hiện nay trên thế giới đang có xu thế sử dụng phẫu thuật nội điều trị các
bệnh lý còn ống phúc tinh mạc do có các ưu điểm: Tầm soát sự tồn tại ống
phúc tinh mạc đối bên, tầm soát các bệnh lý bẩm sinh trong ổ bụng…đồng
thời đảm bảo được nguyên tắc thắt cao ống phúc tinh mạc. Tùy thuộc vào thói
quen, quan điểm của các phẫu thuật viên mà có thể sử dụng nút thắt trong
hoặc nút thắt ngoài phúc mạc. Phẫu thuật thắt ống phúc tinh mạc bên trong ổ
bụng thường sử dụng 2 – 3 trocart để tiến hành đóng kín phúc mạc tại lỗ bẹn
trong có hoặc không có thì cắt bỏ ống phúc tinh mạc. Ngược lại phẫu thuật
thắt ống phúc tinh mạc với nút thắt bên ngoài ổ bụng thường đơn thuần là sử
dụng mũi khâu qua da, lấy hết ống phúc tinh mạc và tránh tổn thương ống dẫn
tinh, mạch tinh hoàn. Sau khi buộc chỉ, nút chỉ được vùi dưới da. Phương
pháp này có thể sử dụng thêm 1 trocart để đưa dụng cụ hỗ trợ cho thao tác
khâu lấy phúc mạc thuận lợi [12], [15], [16], [18].
Tại Việt Nam, các báo cáo gần đây về ứng dụng phẫu thuật nội soi điều
trị các bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc nói chung và bệnh lý Tràn dịch màng
tinh hoàn còn ít [19], [20], [21], [22].Từ thực tế trên , chúng tôi thự hiện đề tài
nghiên cứu khoa học : “ Đánh giá hiệu quả của phương pháp Phẫu Thuật Nôi
Soi trong điều trị bệnh lý Tràn dịch màng tinh hoàn ” nhằm mục đích :
Đánh giá an toàn, hiệu quả, thẩm mỹ và mức độ hồi phục sau mổ của
phương pháp mới này


5

6

Trên cơ sở hiểu biết chi tiết về giải phẫu ống bẹn và có phương pháp sát
trùng của Lister đã tăng tính khả thi của việc tái táo cấu trúc ống bẹn trong
bệnh lý thoát vị bẹn và hạn chế tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng. Eduado Bassini
(1887) và Halsted (1889) đã báo cáo sự thành công của kỹ thuật cơ bản lúc
bấy giờ trong thủ thuật khâu túi thoát vị [24]. Cùng năm 1899, Ferguson dựa
trên đề xuất của Henry Orlando Marcy (1837-1924) mô tả kỹ thuật thắt cao cổ
túi thoát vị kèm với khâu hẹp lỗ bẹn trong, tiện lợi cho thoát vị trực tiếp và
thoát vị ở trẻ em đã mô tả phương pháp thắt cao túi thoát vị, loại bỏ túi thoát
vị và tái tạo các phần liên quan của cấu trúc thừng tinh theo các lớp giải phẫu
ống bẹn có ý nghĩa rất lớn cho phẫu thuật các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh
mạc ở trẻ em cho tới tận ngày nay [23], [26].
Tới năm 1890 Eduado Bassini người Italia, qua kinh nghiệm phẫu thuật
của mình đã công bố sách tham khảo với nhiều hình minh họa, giải quyết
được những thiếu sót về các phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn
trước đó. Qua đó ông đề xuất một phương pháp phẫu thuật mang tên ông như
sau: Mở cân cơ chéo bụng ngoài, bóc tách và cắt cao cổ bao thoát vị ở lỗ bẹn
sâu sau đó bằng các mũi khâu rời 2 lớp, gân cơ kết hợp cùng với cung đùi sau
thừng tinh, khâu lại 2 mép cân cơ chéo lớn với nhau trùm lên thừng tinh áp
dụng cho trẻ thanh thiếu niên và người trưởng thành [23], [26], [28], [29].
1.2. Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Phần lớn trẻ em được phẫu thuật điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc
tinh mạc theo đường mổ của người lớn: Đường phân giác của góc tạo bởi bờ
ngoài cơ thẳng bụng với cung đùi hoặc đường vòng cung đi từ gai chậu trước
trên đến củ mu, thường hạn chế trẻ vận động, nằm điều trị dài ngày. Chỉ đến
năm 1950, các tác giả Potts, Riker và Lewis ủng hộ, quảng bá phương pháp
của Ferguson với đường rạch da theo nếp lằn bẹn, thắt cao ống phúc tinh mạc
và mở rộng túi thoát vị hoặc mở cửa sổ màng tinh hoàn trong điều trị các




8

màng tinh hoàn có biểu hiện thay đổi kích thước bìu theo tư thế, thời điểm
trong ngày thì hầu hết có thoát vị bẹn kèm theo. Thể thoát vị bẹn bìu trẻ em
thì bao phúc mạc chứa cả nội dung thoát vị và dịch màng tinh hoàn, do vậy
đường kính ống phúc tinh mạc càng lớn thì khả năng tràn dịch màng tinh
hoàn có thoát vị bẹn càng tăng lên [5], [40], [41].
Lobe TE qua nội soi chẩn đoán đã công bố đầy đủ các hình thái bệnh lý
tồn tại ống phúc tinh mạc [41]. Cung cấp cho các nhà lâm sàng và cận lâm
sàng những thông tin hữu ích cho chẩn đoán, điều trị và theo dõi về bệnh lý
thoát vị bẹn đối bên, thoát vị không có triệu chứng và tồn tại ống phúc tinh
mạc ở trẻ em không có biểu hiện lâm sàng [36], [40].
1.3.1. Tình hình phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh
mạc trên thế giới
Dựa trên các thành tựu nghiên cứu về giải phẫu, phôi thai học ống bẹn và
thành công của các phương pháp mổ nội soi đường bụng được công bố trên
thế giới. Năm 1997 El- Gohary là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi
thắt ống phúc tinh mạc điều trị thoát vị bẹn trẻ em nữ [6]. Năm 1999 thì
Montupet và Eposito lần đầu tiên báo cáo phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị
bẹn ở trẻ nam đã mở ra nhiều kỹ thuật khâu thắt ống phúc tinh mạc trong ổ bụng
điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc [12], [15], [16], [17], [42].
Năm 2003, kỹ thuật khâu ngoài phúc mạc được mô tả bởi Prasad và cộng
sự. Kể từ đó, một loạt các dụng cụ được cải tiến và thay đổi để kỹ thuật khâu
ngoài phúc mạc trở nên an toàn, thuận lợi, rút ngắn thời gian phẫu thuật và
gây mê, tránh sang chấn mạch tinh, ống dẫn tinh [12], [11], [16], [42].
1.3.2. Tình hình ứng dụng phẫu thuật nội soi tại Việt nam trong điều trị
các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc
Tại Việt nam, Phạm Văn Phú (2013) là người đầu tiên báo cáo về ứng


CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
30 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị tràn dịch màng tinh hoàn do tồn
tại ống phúc tinh mạc bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 1/2016 đến tháng
12/2018 tại khoa ngoại B Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, tiến cứu.
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
-

Bệnh nhân nam từ 1-15 tuổi được chẩn đoán xác định tràn dịch màng tinh
hoàn, đồng ý thực hiện phẫu thuật.

-

Phương pháp phẫu thuật nội soi ổ bụng.

-

Hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ, rõ ràng.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

-

Bệnh nhân lựa chọn không thuộc đối tượng nghiên cứu.

-

Các trường hợp có kèm theo bệnh lý toàn thân nặng hoặc chưa ổn định.

-

Cắt ống phúc tinh mạc và giải phóng phúc mạc khỏi ống dẫn tinh, bó mạch
tinh sau đó đóng kín lỗ bẹn trong [5].

-

Xử lý tràn dịch màng tinh hoàn: Chọc hút dịch bìu, bóp đẩy dịch trở lại ổ
bụng; hoặc rạch da bìu 5mm, mở cửa sổ màng tinh hoàn.

-

Xử lý thương tổn khác nếu có.

-

Đánh giá kết quả: Thời gian phẫu thuật, tai biến, biến chứng trong và sau mổ,
thời gian vận động, thời gian nằm viện sau mổ.

-

Tái khám sau 1 – 3 – 6 tháng: Đánh giá tỷ lệ tái phát, sẹo mổ, tưới máu và
kích thước của tinh hoàn.

-

Xử lý số liệu bằng phần mềm IPSS 20 và EXCEL 2010.


12

Bảng 3.2. Kết quả phẫu thuật
Tỷ lệ vị trí tồn tại ống phúc tinh mạc
Tỷ lệ ống phúc tinh mạc đối bên phát hiện
Phát hiện, xử lý tổn thương khác
Thời gian phẫu thuật ( phút)
Biến chứng sau mổ
Thời gian phục hồi sau mổ ( giờ)
Thời gian nằm viện sau mổ ( ngày)
Nhận xét:
Bảng 3.3. Đánh giá tái khám
Tái phát sau mổ 1 tháng


13

Tỷ lệ thành công của phương pháp
Siêu âm sau mổ:
Sẹo
Tái phát sau mổ 3-6 tháng
Nhận xét:

.


14

CHƯƠNG 4
DỰ KIẾN BÀN LUẬN

-

4

Potts, W. J., Riker, W. L., & Lewis, J. E. (1950). The treatment of
inguinal hernia in infants and children. Annals of surgery, 132(3), 566.

5

Lobe, T. E., & Schropp, K. P. (1992). Inguinal hernias in pediatrics:
initial experience with laparoscopic inguinal exploration of the
asymptomatic

contralateral

side. Journal

of

laparoendoscopic

surgery, 2(3), 135-f140.
6

El - Gohary, M. A. (1997). Laparoscopic ligation of inguinal hernia in
girls. Pediatric Endosurgery & Innovative Techniques, 1(3), 185-188.

7

Choi, B. S., Byun, G. Y., Hwang, S. B., Koo, B. H., & Lee, S. R. (2017).
A comparison between totally laparoscopic hydrocelectomy and scrotal
incision hydrocelectomy with laparoscopic high ligation for pediatric


Van Batavia, J. P., Tong, C., Chu, D. I., Kawal, T., & Srinivasan, A. K.
(2018). Laparoscopic inguinal hernia repair by modified peritoneal
leaflet closure: description and initial results in children. Journal of
Pediatric Urology.

11

Prasad, R., Lovvorn III, H. N., Wadie, G. M., & Lobe, T. E. (2003).
Early experience with needleoscopic inguinal herniorrhaphy in
children. Journal of pediatric surgery, 38(7), 1055-1058.

12

Endo, M. (2016). Surgical Repair of Pediatric Indirect Inguinal Hernia:
Great

Waves

of

Change

from

Open

to

Laparoscopic


inguinal

hernias:

a

review. Surgical

endoscopy, 22(8), 1751-1762.
17

Lukong, C. S. (2012). Surgical techniques of laparoscopic inguinal
hernia repair in childhood: a critical appraisal. Journal of surgical
technique and case report, 4(1), 1.


18

Arbinder K.Singal, Aseem R. Shukla, “Pediatric Inguinal Hernia and
Hydrocele’’ pediatric urology book,

http://www.pediatricurologyb

ook.com/inguinal_hernia.html.
19

Phạm Văn Phú và cộng sự (2013), “Kết quả bước đầu khâu lỗ bẹn sâu
qua da dưới sự hỗ trợ nội soi ổ bụng điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em’’. Tập
11, tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, chuyên đề ngoại nhi, phụ bản số 3.

Hopkins Hosp Bull, pp. 1-12

25

Yang, X. F., & Liu, J. L. (2016). Anatomy essentials for laparoscopic
inguinal hernia repair. Annals of translational medicine, 4(19).

26

Ferguson, A. H. (1899). Oblique inguinal hernia: Typic operation for its
radical cure. Journal of the American Medical Association, 33(1), 6-14.

27

Andrzej L. Komorowski (2014). Inguinal Hernia. Chapter 1. History of
the Inguinal Hernia Repair. pp 3 -16. IntechOpen, DOI: 10.5772/58533.


28

Zimmerman L.M - Anson B.J (1967): Anatomy and Surgery of Hernia.2
th edition. pp 257-259.The William-Wilkins Co. Baltimore.

29

Cross RE. (1970), ‘’Hydrocele of the Tunica Vaginalis’’, An atlas of
children’s surgery; W.B Saunders company, pp. 70-71.

30


36

Rafailidis, V., Varelas, S., Apostolopoulou, F., & Rafailidis, D. (2016).
Nonobliteration of the processus vaginalis: sonography of related
abnormalities in children. Journal of Ultrasound in Medicine, 35(4),
805-818.

37

Campbell MF (1970). The male genital tract and female urethra,
Urology, (2); Saunders Company, pp 1852-1854.

38

Skoog, S. J., and Conlin, M. J. (1995). Pediatric hernias and hydroceles.
The

urologist's

perspective. The

America, 22(1), 119-130.

Urologic

clinics

of

North

Percutaneous internal ring suturing is a safe and effective method for the
minimal invasive treatment of pediatric inguinal hernia: experience with
250 cases. Journal of pediatric surgery, 51(8), 1330-1335




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status