ĐÁNH GIÁ kết QUẢ PHẪU THUẬT điều TRỊ VIÊM PHÚC mạc bào THAI ở TRẺ sơ SINH tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ VIỆT đức GIAI đoạn 2010 2017 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phúc mạc bào thai (hay viêm phúc mạc phân su) là phản ứng viêm
hóa học (vô khuẩn) nguyên nhân do thủng đường tiêu hóa của thai nhi thời kỳ
bào thai [1],[2],[3]. Tuy theo mức độ và thời điểm tổn thương, phản ứng của
cơ thể thai nhi mà có những hình thái thường gặp khác nhau.
Viêm phúc mạc bào thai là một cấp cứu ngoại khoa phức tạp ở trẻ sơ
sinh: nguyên nhân, bệnh sinh đa dạng, triệu chứng lâm sàng không điển hình,
thường khó phát hiện, bệnh nhân thường được chẩn đoán, điều trị hồi sức tích
cực và can thiệp phẫu thuật muộn, bệnh diễn biến nhanh dẫn đến nhiễm trùng
huyết, sốc nhiễm trùng nhiễm độc, nguy cơ tử vong cao [4].
Theo các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh của
viêm phúc mạc bào thai không cao, khoảng 1:35000 - 1:30000 trẻ sơ sinh
sống [1],[5],[6],[7]. Tuy nhiên viêm phúc mạc bào thai được coi là bệnh gây
tử vong cao ở trẻ. Từ năm 1950 đến 1960, viêm phúc mạc bào thai được coi
như một bệnh chết người với tỷ lệ tử vong từ 80% đến 90% [6],[8]. Từ năm
1980 đến 1986 tỷ lệ tử vong đã giảm xuống còn khoảng 40% [9]. Ngày nay nhờ
những tiến bộ trong vấn đề chăm sóc quanh đẻ, tỷ lệ sống sót đã tăng lên tới 8090% ở bệnh nhân viêm phúc mạc bào thai [10]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu
của Viện Phụ sản trung ương tỷ lệ mắc viêm phúc mạc bào thai chiếm 15,1% các
dị tật đường tiêu hóa chỉ sau tắc ruột và tắc tá tràng; tỷ lệ mắc dị tật đường tiêu
hóa là 0,42/1000 trẻ sinh ra [11]. Một số tác giả khác tại Việt Nam đã nghiên cứu
tỷ lệ tử vong của viêm phúc mạc sơ sinh (viêm phúc mạc bào thai và viêm phúc
mạc sau sinh) theo Nguyễn Thu Hương (1996) tỷ lệ tử vong là 62,7% [12], theo
Trần Ngọc Sơn và cộng sự (2007), tại bệnh viện Nhi Trung ương, viêm phúc
mạc do thủng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong là 21,7% [13], theo


2

Diệp Quế Trinh, Trương Nguyễn Uy Linh năm 2011 tỷ lệ tử vong là 28,9% [14],

1.1. Dịch tễ học
Theo nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, viêm phúc mạc bào
thai là một bệnh lý hiếm gặp ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ từ 1:35000-1:30000 trẻ sơ
sinh sống [3],[15]. Trong khi đó theo tác giả Ping năm 2016 tỷ lệ mắc bệnh là
1,5:10000 trẻ sơ sinh sống [7].
Tỷ lệ tử vong của bệnh trước những năm 90 còn cao, khoảng 80-90%
[5]. Ngày nay nhờ sự nhận biết sớm về sinh bệnh học và sự quản lý chăm sóc
trước và sau sinh cùng các tiến bộ về ngoại khoa, hồi sức sơ sinh mà tỷ lệ tử
vong đã giảm xuống còn khoảng 10% ở các nước phát triển [16].
Tại Việt Nam, Vũ Thị Vân Yến đã đưa ra kết quả tỷ lệ tử vong của
viêm phúc mạc phân su là 17,4% các trường hợp dị tật ống tiêu hóa, đứng thứ
3 sau tỷ lệ bệnh nhân teo thực quản và dị tật hậu môn – trực tràng [11].
Tỷ lệ nam và nữ có sự khác biệt tùy từng nghiên cứu của các tác giả
khác nhau. Theo tác giả Uchida năm 2015 tỷ lệ nam/ nữ là 9/6 [15], của CaroDomínguez P năm 2018 [17] là 22/15; của Vũ Thị Vân Yến năm 2017 tỷ lệ nữ
là 42,9%, tỷ lệ nam là 57,1% [11]. Ngược lại theo nghiên cứu của tác giả Nam
S. H. [6] số bệnh nhân nam ít hơn bệnh nhân nữ với tỷ lệ nam/nữ là 17/24 và
của tác giả Chan K. L. năm 2005 tỷ lệ nam/nữ là 2/5 [2].
1.2. Phôi thai học của ống tiêu hóa bình thường
Cuối tuần thứ hai, đầu tuần thứ ba trong quá trình phát triển của phôi bắt
đầu sự tạo ra các mầm mô và cơ quan, các mầm này lớn lên chịu một quá trình
biệt hóa mô để thay đổi cấu tạo đảm nhiệm các chức năng khác nhau [18].
Bắt đầu từ tuần thứ ba và thứ tư trong quá trình phát triển của phôi,
phôi gấp lại ở hai bên sườn, nội bì của phôi cuộn lại thành ống được gọi là
ruột nguyên thủy. Ruột nguyên thủy gồm ba phần: ruột trước, ruột giữa, ruột
sau. Ruột trước sẽ hình thành nên thanh quản, thực quản, dạ dày, đoạn tá tràng


4

trên bóng Vater. Ruột giữa hình thành nên đoạn tá tràng dưới bóng Vater, ruột

1.3. Bệnh nguyên, bệnh sinh của viêm phúc mạc bào thai
Viêm là phản ứng bảo vệ của cơ thể biểu hiện bởi sự thực bào tại chỗ
có tác dụng loại trừ tác nhân gây viêm và sửa chữa tổn thương, đồng thời kèm
theo những biểu hiện bệnh lý. Viêm bao giờ cũng kèm theo thay đổi vận
mạch, với sự tham gia của thần kinh, nhằm đưa các tế bào thực bào (có mặt
trong lòng mạch) tới vị trí diễn ra phản ứng viêm (ở ngoài lòng mạch). Viêm
vừa là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại các yếu tố gây bệnh vừa là phản
ứng bệnh lý vì quá trình viêm gây ra tổn thương, hoại tử, rối loạn chức năng
cơ quan có thể ở mức độ nặng nề nguy hiểm [25].
Viêm phúc mạc là phản ứng của phúc mạc với các tác nhân xâm nhập
vào ổ phúc mạc nhằm mục đích bảo vệ cơ thể, loại trừ các tác nhân gây hại
(hóa chất hoặc vi khuẩn). Vì trẻ sơ sinh các chức năng cơ quan và hệ miễn
dịch chưa phát triển hoàn thiện nên tình trạng viêm phúc mạc rất nặng nề.


6

Viêm phúc mạc bào thai là viêm phúc mạc vô khuẩn do tác nhân hóa
học do kết quả của thủng đường tiêu hóa xảy ra trong thời kỳ bào thai.
Nguyên nhân gây viêm phúc mạc bào thai được biết đến là do tắc
nghẽn của đoạn ruột hoặc do tổn thương mạch máu tới ruột mà ruột bị thủng
và phân su tràn vào ổ bụng [24]. Các nguyên nhân được biết đến bao gồm tắc
ruột phân su, hẹp, tắc ruột sơ sinh, thoát vị nội, bệnh Hirschsprung, xoắn ruột,
tắc ruột do các dây chằng và nang ruột đôi [7],[10],[26], lồng ruột từ trong
thời kỳ bào thai [27], nhiễm virus từ thời kỳ trong bào thai bởi các tác nhân
như cytomegalovirus, rubella và parvovirus B19, do chúng gây thủng lớp cơ
của thành ruột [28]. Ngoài ra còn có thể do các nguyên nhân thủng túi thừa
Meckel, thủng ruột thừa, thiếu máu mạc treo hoặc có thể do tai biến từ thầy
thuốc trong quá trình chọc ối làm xét nghiệm [29]. Tuy nhiên trong một số
trường hợp có thể không xác định được nguyên nhân gây viêm phúc mạc bào

sống, lỗ tiểu thấp, vô sọ thường gặp ở con đầu [19].
1.4. Sinh lý bệnh của viêm phúc mạc bào thai
Do nguyên nhân tắc nghẽn của ruột hoặc do tổn thương mạch máu tới
ruột làm ruột bị thủng. Sau khi thủng, phân su có chưa các enzym, các acid mật
và muối mật tràn vào trong khoang phúc mạc gây nên phản ứng viêm hóa học
dữ dội. Ngay ngày đầu tiên khi phân su vào trong ổ bụng có sự tăng sinh nhanh
chóng của nguyên bào sợi, sính các sợi fibrin tạo thành nang bao quanh tổn
thương. Tiếp sau đó tổ chức xơ được tăng tưới máu và hình thành collagen
trưởng thành. Các tế bào khổng lồ và mô bào bao quanh phân su, dẫn đến hình
thành u hạt và calci hóa. U hạt và calci hóa được tập trung trong phản ứng xơ
sớm nhất là vào ngày thứ tư [32]. Một số hình ảnh viêm phúc mạc phân su trên
siêu âm thai tùy thuộc vào dị tật ở ruột, phản ứng viêm và thời gian kể từ khi
thủng [33]. Đa số các trường hợp lỗ thủng tự bịt kín một cách tự nhiên và niêm
mạc của ruột hoàn toàn được phục hồi, các khiếm khuyết trong lớp cơ được lấp
đầy bởi mô liên kết trong một tháng sau thủng [32]. Calci hóa xảy ra khi phân su


8

vào trong ổ bụng trong 24 giờ, đủ để quan sát thấy ít nhất là 8 ngày [34]. Calci
hóa xảy ra tại chỗ ruột bị thủng nhưng cũng có thể ở các vùng trong ổ bụng,
thậm chí xuống cả bìu [35].
1.5 Các thể giải phẫu lâm sàng [24],[29]
Tùy theo mức độ dính của ruột, mức độ tắc ruột, sự khu trú của phân xu
trong ổ bụng, thời gian bị bệnh mà chia thành các thể khác nhau: viêm phúc
mạc kết bọc, viêm phúc mạc hình thành nang giả và viêm phúc mạc dính.
-Viêm phúc mạc kết bọc: Thủng đường tiêu hóa xuất hiện vài tuần
trước đẻ, phân su tràn vào ổ bụng nhưng không được khu trú lại vì vậy tràn
ngập ổ bụng. Ruột non dính với nhau thành một khối và bị đè đẩy về giữa ổ
bụng phía trước cột sống. Phúc mạc phản ứng dày cộp lên. Đây là thể bệnh

[38],[39].
- Nôn: Nôn thường xuất hiện sớm sau đẻ, chất nôn có thể có tính chất
màu sắc khác nhau phụ thuộc vào vị trí tổn thương. Chất nôn là dịch dạ dày,
dịch mật, muộn hơn có thể có dịch ruột. Nôn nhiêu làm trẻ mất nước và điện
giải gây các rối loạn toàn thân, có thể trào ngược vào đường hô hấp gây suy
hô hấp, viêm phổi.
- Trướng bụng: Gặp ở tất cả các bệnh nhân, xuất hiện sớm, bụng
thường trướng đều, da căng bóng, trên thành bụng có nổi các tĩnh mạch nông
dưới da. Sờ nắn thấy thành bụng căng, có phản ứng trên thành bụng khi ấn
sâu. Trường hợp bụng chướng nhiều có thể chèn ép cơ hoành gây ảnh hướng
nghiêm trọng đến hô hấp của trẻ [40].
- Rối loạn đại tiện: Đa phần các trường hợp viêm phúc mạc bào thai
bệnh nhân không đi đại tiện phân su nhất là những trường hợp viêm phúc mạc
do thủng ruột xảy ra sớm thời kỳ bào thai hoặc có thể chậm đi ngoài phân su
(trên 24 giờ sau sinh). Thụt đại trực tràng thường không ra phân su, có thể có
ít chất nhầy và kết thể màu trắng đục hoặc xanh nhạt


10

- Bìu hoặc môi lớn: có thể thấy bìu hoặc môi lớn căng sưng to cả hai
bên, nhìn có ánh xanh do dịch trong ổ bụng theo ống phúc tinh mạc xuống
vùng bìu và môi lớn.
- Trường hợp nhiễm độc nặng hoặc sơ sinh non yếu có thể đến viện với
tình trạng rối loạn tri giác, trẻ lơ mơ, kích thích hoặc nằm yên [41]; suy hô
hấp da tím tái, khó thở nhịp thở > 60 lần/phút, thở nhanh nông, rút lõm lồng
ngực nhiều, cơn ngừng thở > 20 giây [42]; suy tuần hoàn mạch nhanh, nhỏ,
khó bắt, đầu chi lạnh, thời gian lấp đầy mao mạch kéo dài > 2 giây [41]. Khi
bệnh nhi được chẩn đoán muộn có thể có dấu hiệu vàng da, sốt ≥ 37 oC hoặc
hạ thân nhiệt

B

C

D

Hình 1.3: Một số hình ảnh viêm phúc mạc bào thai trên siêu âm [50]
a. Calci hóa đơn thuần
c. Calci hóa và nang giả phân su

b. Calci hóa và cổ chướng
d. Calci hóa kèm giãn các quai ruột


12

Hình 1.4: Calci hóa trong ổ bụng kèm giãn các quai ruột và dịch tự do ổ
bụng [8]
1.7.1.2. Chụp cộng hưởng từ trước sinh (MRI: Magnetic resonance imaging)
Trước đây, bởi vì sự chính xác của siêu âm chẩn đoán trước sinh, siêu
âm được coi là phương tiện chính để chẩn đoán viêm phúc mạc bào thai và
các biến chứng liên quan nhằm mục đích khuyến cáo và hướng dẫn điều trị
trước và sau sinh [51]. Tuy nhiên siêu âm trước sinh có những nhược điểm:
phạm vi quan sát nhỏ, độ tương phản của hình ảnh thấp, phụ thuộc vào chất
lượng máy móc vì thế có thể gây khó khăn cho các nhà chẩn đoán hình ảnh
sản khoa xác định bất thường đường tiêu hóa, điều này có vai trò rất quan
trọng trong chẩn đoán và đưa ra hướng xử trí sau sinh [51]. Một số nhà
nghiên cứu và đưa ra báo cáo về chụp cộng hưởng từ nhanh có thể có hiệu
quả cho đánh giá bất thường ổ bụng của thai nhi [52].

su giảm tín hiệu trên T2 [55],[56].
Chẩn đoán một số nguyên nhân có thể gây viêm phúc mạc bào thai trên MRI
Tắc tá tràng: Dấu hiệu quả bóng đôi do giãn dạ dày và tá tràng giảm tín
hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2 [55].
Tắc ruột: Xác định vị trí tắc ruột, đánh giá mức độ hẹp ruột, đoạn ruột
lành còn lại, đặc biệt trong tắc ruột thấp. Quai ruột phía trên chỗ tắc sẽ giãn
ra, tích lũy phân su và giảm tín hiệu trên T1và tăng tín hiệu trên T2 [55].


14

Dị tật hậu môn - trực tràng: Dựa vào phân su trong lòng trực tràng tăng
tín hiệu trên T1và giảm tín hiệu trên T2 mà người ta có thể xác định được vị
trí, hướng đi của trực tràng tới vùng đáy chậu và các bộ phận khác liên quan ở
vùng đó [56],[57].
Ruột đôi: Hình ảnh một nang ở trong ổ bụng tiếp giáp với ống tiêu hóa, tăng
tín hiệu trên T2 và giảm tín hiệu trên T1 [56].
1.7.2. Cận lâm sàng chẩn đoán sau sinh
Dấu hiệu Xquang: Chụp bụng không chuẩn bị cho phép chẩn đoán xác
định được các thể bệnh của viêm phúc mạc bào thai, có giá trị tiên lượng
trong cuộc mổ. Bình thường trẻ sơ sinh nuốt khí ngay sau sinh ra, hơi vào đến
dạ dày trong vòng vài phút, sau 3 giờ hơi tới ruột non và đến đại tràng Sigma
sau 8-9 giờ tuổi. Quá trình này có thể ngừng lại nếu có các bệnh lý kèm theo
như tổn thương não, nhiễm trùng, hạ đường máu [58]. Tùy từng thương tổn và
thể giải phẫu bệnh mà có những hình ảnh khác nhau trên phim chụp.
+ Viêm phúc mạc kết bọc: Thấy hình ảnh mờ của vùng bụng, các bóng
hơi trong ruột non thường nhỏ và khu trú ở giữa bụng, trước cột sống.
+ Viêm phúc mạc hình thành nang giả: thường mờ ở ổ bụng dưới, các
bóng hơi trong ruột non, có một mức nước hơi rất to thường ở dưới gan bên
phải thể hiện hình ảnh của nang giả.


1.8. Điều trị viêm phúc mạc bào thai [4],[24],[29]
1.8.1. Điều trị nội
Không phải tất cả các trường hợp viêm phúc mạc bào thai đều cần điều
trị phẫu thuật. Những bệnh nhân thủng đường tiêu hóa xảy ra sớm trong thời
kỳ bào thai, lỗ thủng đã tự liền, sau sinh không có biểu hiện của hội chứng tắc
ruột thì không có chỉ định phẫu thuật: viêm phúc mạc dính.
Những trường hợp này bệnh nhân được theo dõi sát tại các khoa phẫu
thuật nhi có khả năng điều trị phẫu thuật và hồi sức trẻ sơ sinh.
Điều trị: Đặt sonde dạ dày giảm chướng bụng, nhịn ăn, dinh dưỡng đầy
đủ qua tĩnh mạch: tiêm kháng sinh chống nhiễm khuẩn sơ sinh, bồi phụ nước
điện giải, tránh rối loạn nước điện giải,, thăng bằng kiềm toan, rối loạn thân
nhiệt, suy hô hấp.
Theo dõi sát trong quá trình điều trị nội: lâm sàng: theo dõi sonde dạ
dày, tình trạng chướng bụng, đại tiện, toàn thân; cận lâm sàng: siêu âm,
xquang bụng không chuẩn bị, chụp lưu thông ruột.
Trong quá trình theo dõi nếu bụng đỡ chướng, sonde dạ dày ra dịch
xanh, đại tiện được, toàn thân ổn định, siêu âm và xquang không thấy hình
ảnh tắc ruột có thể cho trẻ ăn đường miệng. Sau khi ăn đường miệng bụng
không chướng lên, trẻ vẫn đại tiện được bình thường thì có thể xuất viện và
chưa cần điều trị phẫu thuật.
Trường hợp theo dõi mà bụng chướng tăng lên, sonde dạ dày ra dịch
bẩn, xquang và siêu âm có hình ảnh tắc ruột thì cần phải điều trị phẫu thuật.
1.8.2. Điều trị phẫu thuật
1.8.2.1. Điều trị trước phẫu thuật
Trước phẫu thuật cần điều chỉnh các rối loạn toàn thân để tăng hiệu quả
của cuộc mổ, phòng ngừa các biến chứng, tai biến trong và sau mổ.


17

18

Vào ổ bụng kiểm tra, lau rửa làm sạch ổ bụng bằng nước ấm và gạc ẩm,
gỡ dính, tìm đoạn ruột tổn thương hoặc vị trí tắc để giải quyết nguyên nhân.
Tùy từng nguyên nhân tổn thương, tình trạng toàn thân, tình trạng ổ bụng,
thành ống tiêu hóa mà chọn các cách xử lý khác nhau khâu lỗ thủng, cắt nối
ruột tận tận, tận chéo, bên bên, tận bên hoặc đưa hai đầu ra ngoài làm hậu
môn nhân tạo nếu tình trạng bệnh nhân không cho phép nối được ngay. Khi
lập lại lưu thông ruột ngay thì đầu cần phải đảm bảo lưu thông hoàn toàn từ
miệng nối hoặc chỗ khâu tới tận lỗ hậu môn bằng cách kiểm tra kỹ đường tiêu
hóa, tránh bỏ xót tổn thương đường tiêu hóa phía dưới trong trường hợp ruột
tổn thương nhiều vị trí.
Kỹ thuật khâu nối: Khâu lớp toàn thể phía trong bằng mũi khâu vắt bởi
chỉ đơn sợi (monosyl hoặc PDS số 6-0), khâu thanh cơ phía ngoài bằng các
mũi khâu rời. Kiểm tra lưu thông sau mổ bằng cách dồn dịch và hơi qua
miệng nối.
Khi miệng nối phía dưới nhỏ do teo ruột dùng nước ấm và sonde hút số
6, bơm nước làm sạch các kết thể phân su phía dưới tránh chướng bụng về sau
và nong rộng lòng ruột giúp nối 2 đầu dễ dàng, giảm chênh lệch kích thước
giữa 2 đầu ruột.
*Dẫn lưu tối thiểu ổ bụng hoặc nang giả trong thì đầu, xử trí nguyên nhân
vào thì sau
Mục đích để dẫn lưu dịch, phân su ra ngoài, kết hợp thụt tháo làm lưu
thông đại tràng, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch. Nếu sau vài ngày mà phân su
vẫn qua dẫn lưu, không có phân qua hậu môn thì mổ tìm vị trí thủng để cắt
nối ruột ngay hoặc đưa hai đầu ra ngoài làm hậu môn nhân tạo. Mổ thì ba để
lập lại lưu thông tiêu hóa.
1.8.2.3. Điều trị sau mổ
Hồi sức tích cực sau mổ rất quan trọng đối với bệnh nhân sơ sinh, đặc
biệt là sơ sinh non yếu, cân nặng thấp

- Tử vong


20

1.9. Tình hình nghiên cứu viêm phúc mạc bào thai trên thế giới và ở Việt Nam
1.9.1. Tình hình nghiên cứu viêm phúc mạc bào thai trên thế giới.
Viêm phúc mạc bào thai lần đầu tiên được Morgagni mô tả vào năm
1761 trên một bé gái tử vong 2 giờ sau sinh [63].
Đến năm 1838, Simpson đã mô tả và phân tích 25 trường hợp viêm
phúc mạc bào thai thì bệnh lý này mới được nhận biết một cách rõ ràng [31].
Năm 1915, Rudnew thu thập 40 trường hợp viêm phúc mạc phân su từ
y văn, nhưng lúc đó còn nhiều lẫn lộn về sự khác nhau giữa viêm phúc mạc
phân su và viêm phúc mạc nhiễm khuẩn [63].
Năm 1939 Thelender thấy tỷ lệ tử vong là 99% trong số 85 bệnh nhân
thủng ruột ở lứa tuổi sơ sinh [64].
Năm 1943, ca phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc bào thai đầu tiên được
thực hiện và thông báo bởi Agerty cùng cộng sự [65].
Năm 1972 Singer thấy tỷ lệ tử vong là 66% trong số 32 bệnh nhân viêm
phúc mạc sơ sinh [66], cũng vào năm đó Zorludemir qua 66 bệnh nhân thu
thập được thấy tỷ lệ tử vong là 71,2%, và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tử
vong là hạ thân nhiệt, suy hô hấp, cân nặng thấp, bạch cầu hạ [67].
Năm 1984 Tenbrinck nghiên cứu hồi cứu 69 bệnh án trong vòng 15 năm
để tìm ra các yếu tố tiên lượng nặng của viêm phúc mạc phân su. Tác giả
nhận thấy trong vòng 15 năm, mặc dù áp dụng nhiều biện pháp trong chẩn
đoán và điều trị song tỷ lệ tử vong của bệnh không hề giảm, các yếu tố tiên
lượng nặng của bệnh bao gồm, cân nặng lúc sinh thấp, dị tật bẩm sinh đi kèm
và tình trạng sốc trước phẫu thuật [68].
Năm 2004 Kuremu RT và cộng sự cho rằng sinh non, cân nặng sơ sinh
thấp, viêm phổi và đặc biệt là nhiễm trùng huyết có ảnh hưởng đến tỷ lệ tử

sinh cũng như yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong của bệnh [13].


22

Năm 2011 Diệp Quế Trinh và Trương Nguyễn Uy Linh đưa ra tỷ lệ tử
vong của trẻ viêm phúc mạc sơ sinh là 28,9%. Hai tác giả đã đưa ra các yếu tố
ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong là suy hô hấp trước mổ, nhiễm khuẩn huyết [14].
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Vân Yến (2017), viêm phúc mạc bào thai
là một dị tật ống tiêu hóa hay gặp ở trẻ sơ sinh chiếm tỷ lệ 0,42/1000 trẻ được
sinh ra [11], tỷ lệ tử vong của viêm phúc mạc phân su là 17,4% các trường
hợp dị tật ống tiêu hóa, đứng thứ 3 chỉ sau bệnh teo thực quản và dị tật hậu
môn – trực tràng [11].
Tóm lại, ở Việt Nam viêm phúc mạc bào thai vẫn còn là một vấn đề cần
được nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị, tiên lượng bệnh cũng như các yếu tố
ảnh hưởng tới tỷ lệ tử vong của bệnh nhằm nâng cao kết quả điều trị, giảm
thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh.Chẩn đoán trước sinh cũng đem lại hiệu quả
rất cao giúp chẩn đoán sớm, tiên lượng bệnh nhân ngay sau sinh và đưa ra
những biện pháp chăm sóc điều trị phù hợp với trẻ.

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và tiêu chuẩn nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân sơ sinh được phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc bào thai tại
bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 11/2010 đến tháng 12/2017
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Tất cả những bệnh nhân sơ sinh (≤30 ngày tuổi) được chẩn đoán viêm
phúc mạc bào thai dựa vào siêu âm trước sinh, lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn
đoán hình ảnh sau sinh.

mạc bào thai tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.
2.4. Nội dung và biến số nghiên cứu
2.4.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân viêm phúc mạc
bào thai ở trẻ sơ sinh
2.4.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân
- Tuổi: tính theo giờ
- Giới: nam, nữ
- Địa chỉ: tỉnh, thành phố theo hộ khẩu của mẹ
- Tuổi thai khi sinh
+ Đẻ thiếu tháng: dưới 37 tuần thai
+ Đủ tháng: từ 37 đến dưới 41 tuần thai
+ Già tháng: lớn hơn hoặc bằng 41 tuần thai
- Cân nặng khi sinh phân theo nhóm (gram): nhóm < 1800g; 1800g đến
< 2000g; 2000g đến < 2500g; ≥2500g
- Tuổi mẹ khi mang thai phân theo nhóm: < 20 tuổi; 20-25 tuổi; 26-355
tuổi; >35 tuổi
- Lý do vào viện: Bụng chướng, không ỉa phân su trong 24 giờ, nôn, chẩn đoán
trước sinh, các nguyên nhân khác
- Tiền sử sản khoa:
+ Đẻ ngạt (sau đẻ trẻ xuất hiện tím tái, suy hô hấp, cần hỗ trợ hô hấp)
+ Đẻ có can thiệp (đẻ chỉ huy, foocxep, giác hút)
+ Mổ đẻ


25

+ Dị tật kèm theo (một hay đa dị tật kèm theo)
+ Tiền sử gia đình : Bệnh lý của mẹ trước và sau mang thai, bệnh lý của
bố, của anh chị em.
2.4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm phúc mạc bào thai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status