1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
----------------------
LÊ THỊ DUNG
SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU
TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
THÀNH PHỐ BẮC GIANG NĂM 2019
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2019
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
----------------------
LÊ THỊ DUNG
SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU
TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
DASS:
Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, căng thẳng
(Depression Anxiety Stress Scales)
ĐTNC:
Đối tượng nghiên cứu
ĐTV:
Điều tra viên
MMT:
Điều trị thay thế nghiên các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
(Methadone Mainternance Treatment)
NCMT:
Nghiện chích ma túy
SKTT:
Sức khỏe tâm thần
MLQ:
Mối liên quan
người nghiện chất gây nghiện bất hợp pháp và 60% người nghiện các chất dạng
thuốc phiện [26]. Tại Việt Nam tính đến ngày 15/11/2017, cả nước có khoảng
222.582 người nghiện chích ma túy có hồ sơ quản lý. Điều trị thay thế nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng Methadone (MMT) đã được triển khai ở 63 tỉnh, thành phố
trên cả nước với 294 cơ sở điều trị, cung cấp dịch vụ cho 52.818 người bệnh [8].
Methadone là chương trình đã có từ nhiều thập kỷ gần đây, hiện được coi là
phương pháp điều trị “tiêu chuẩn vàng” đối với người bệnh nghiện chất dạng thuốc
phiện, được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia đặc biệt là những quốc gia có thu
nhập thấp và trung bình [27]. Với mục đích giảm tác hại do nghiện các chất dạng
thuốc phiện gây ra và giảm hoạt động phạm tội, giảm sự kỳ thị xã hội, chương trình
điều trị chất dạng thuốc phiện bằng methadone hướng đến đối tượng là người
nghiện chích ma túy. Chương trình này được ghi nhận có hiệu quả tích cực trong
việc giảm sử dụng ma túy và giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc
làm, cải thiện sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghiện chích
ma túy [12], [23], [24], [27]. Nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) là một bệnh
mạn tính, điều trị methadone là điều trị lâu dài, phức tạp, liên quan đến tình trạng
thể chất, tâm lý, xã hội đa chiều, đặc biệt vấn đề sức khỏe tâm thần của người điều
trị methadone cũng là một vấn đề mà xã hội chúng ta cần phải quan tâm và hỗ trợ [13].
Tại Việt Nam cũng đã có những chuyên đề về sức khỏe tâm thần (SKTT) đối với
người nghiện chích ma túy, ít nghiên cứu về rối loạn tâm thần trên người bệnh dùng
methadone [2], [21].
7
Tại tỉnh Bắc Giang tính đến ngày 26/7/2018, có 9 cơ sở điều trị (CSĐT)
methadone được đặt tại các huyện/thành phố, đang quản lý điều trị cho 1.118
người bệnh, tổng số ca bệnh đã được điều trị bằng biện pháp này lên hơn
1.900 người [14]. Tháng 11/2015 cơ sở điều trị methadone thuộc Trung tâm Y
tế (TTYT) thành phố Bắc Giang (Tp. Bắc Giang) được thành lập. Tính đến hết
tháng 5/2019 cơ sở đã điều trị lũy tích cho 335 người nghi ện chích ma túy và
hành vi bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma túy bất chấp những hậu quả bất
lợi của việc sử dụng.
1.1.2. Nghiện ma túy
Theo quyết định 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế,
người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này
[1]. Các triệu trứng của một người nghiện ma túy bao gồm:
a) Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ma tuý nhóm Opiats.
b) Khó khăn trong việc kiểm tra thói quen sử dụng ma tuý nhóm Opiats như
thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc liều lượng sử dụng.
c) Xuất hiện hội chứng cai ma tuý nhóm Opiats khi ngừng hoặc giảm đáng kể
liều lượng ma tuý nhóm Opiats đang sử dụng hoặc phải dùng lại ma tuý nhóm Opiats
để làm giảm nhẹ triệu chứng hoặc làm mất hội chứng cai ma tuý nhóm Opiats.
d) Có khuynh hướng tăng liều để chấm dứt hậu quả do liều thấp gây ra.
đ) Sao nhãng các thú vui, sở thích, công việc trước đây bằng việc tìm kiếm
và sử dụng ma tuý nhóm Opiats.
9
e) Tiếp tục sử dụng ma tuý nhóm Opiats mặc dù biết tác hại, thậm chí đã
có bằng chứng rõ ràng về tác hại của ma tuý nhóm Opiats đối với bản thân gia
đình và xã hội.
1.1.3. Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các
CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và
không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ)
nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai.
Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài.
Một số các rối loạn sức khỏe tâm thần thường gặp nhất hiện nay bao gồm:
rối loạn giấc ngủ, trầm cảm, lo âu, stress…
Trầm cảm
Trầm cảm là một chứng rối loạn tâm trạng, gây ra một cảm giác buồn và mất
hứng thú kéo dài dai dẳng.
Nguyên nhân chính xác dẫn đến trầm cảm chưa được xác định rõ, nhưng
từ những biểu hiện của người mắc trầm cảm, có thể nêu ra một số nguyên nhân
chủ yếu như:
- Yếu tố di truyền: Theo một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 46% các
cặp song sinh cùng trứng sẽ cùng mắc trầm cảm. Nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì
sau khi sinh con cái có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn bình thường.
- Giới tính: Theo các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm
cao gấp 2 lần so với nam giới.
- Do ảnh hưởng bởi một số bệnh: Các bệnh như chấn thương sọ não, tai biến
mạch máu não, u não, sa sút trí tuệ... cũng sẽ là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm.
Những người mắc các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, đột quỵ, bệnh tim.
- Yếu tố nội tiết: Sự thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sẩy thai, giai
đoạn sau sinh, tiền mãn kinh hay mãn kinh cũng chính là nguyên nhân bệnh
trầm cảm ở phụ nữ.
- Những sự kiện chấn động: Sự căng thẳng quá độ đến từ những sự kiện,
những biến động trong cuộc sống thường ngày, sự mất mát người thân, tranh cãi, áp
lực trong công việc hay những mối quan hệ xấu với mọi người xung quanh.
- Mất ngủ thường xuyên: Ngủ quá ít sẽ làm ảnh hưởng đến các triệu
chứng của trầm cảm. Cần duy trì giờ ngủ và thức phù hợp, cả việc đi ngủ đúng
giờ vào mỗi đêm.
11
- Tâm lý bi quan: Nghiên cứu cho thấy những người có tính cách bi quan có
những sắc thái khác nhau.
Theo Hans Selye: Stress là một hội chứng bao g ồm nh ững đáp ứng không
đặc hiệu của cơ thể đối với kích thích từ môi trường bên ngoài [ 18].
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng ch ịu đựng
được và phản ứng thích nghi tốt, đối tượng thu xếp được trạng thái cân b ằng
mới. Stress trở nên bệnh lý khi tình thuống stress xuất hi ện bất ng ờ và quá
mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vượt quá khả năng
chịu đựng của đối tượng gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử [ 17].
- Stress kéo dài: Căng thẳng, stress kéo dài sẽ làm mất cân bằng tâm
lý, gặp phải chấn động mạnh về tâm lí như mất người thân hay gặp phải
những chuyện quá sốc.
1.2. Thực trạng nghiện chích ma túy và hậu quả của nghiện chích ma
túy
1.2.1. Thực trạng nghiện chích ma túy
Theo Báo cáo về tình hình ma túy thế giới năm 2012 của UNODC, ước tính
năm 2010 trên toàn cầu có 230 triệu người sử dụng ma túy, trong đó 27 triệu người
có vấn đề nghiêm trọng do sử dụng ma túy; 200.000 người tử vong hàng năm do sử
dụng heroin, cocain và các loại ma túy khác. Trong số, người tiêm chích ma túy
khoảng 20% nhiễm HIV, 46,7% mắc viêm gan C và 14,6% mắc viêm gan B, tạo
thêm gánh nặng về bệnh tật cho toàn cầu [4].
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2014 số người nghiện ma túy đã
tăng cao kỷ lục. Theo báo cáo được công bố, trong năm 2014 thế giới có gần 250
triệu người trong độ tuổi từ 15-64 sử dụng ít nhất là một loại ma túy [6]. Số người
trên thế giới sử dụng các chất ma tuý ít nhất 1 lần trong năm 2016 là khoảng 275
triệu người, hay khoảng 5,6% dân số toàn cầu trong độ tuổi từ 15 đến 64. Báo cáo
cho thấy rằng, việc sử dụng ma túy cao nhất trong số những người trẻ tuổi và trẻ từ
12 đến 17 tuổi có nguy cơ nghiêm trọng nhất [19].
14
người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến
tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm. Bên cạnh đó, người
nghiện ma túy còn mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình. Ma
tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ
thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá
trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt
hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.
Ảnh hưởng đến gia đình:
Người nghiện ma túy làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình. Gây tổn
thất về tình cảm. Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của
người nghiện do ma tuý gây ra.
Ảnh hưởng đến xã hội:
Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp,
giết người, mại dâm, băng nhóm... Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu
đời của dân tộc. Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội [5].
Ngoài những hậu quả cho bản thân và cộng đồng, sử dụng ma túy còn gây
nên những gánh nặng về sức khỏe tâm thần. Ước tính khoảng 22,4 % người sử dụng
ma túy nhóm opiat ở Việt Nam bị trầm cảm [22]. Người nghiện chích ma túy bị
cộng đồng kỳ thị, khó khăn tìm kiếm việc làm trong khi họ thường là trụ cột chăm
sóc gia đình [20].
1.3. Chương trình giảm hại và chương trình Methadone
Can thiệp giảm hại đề cập đến các chính sách, chương trình và hoạt động
nhằm mục đích giảm ảnh hưởng có hại về sức khỏe, xã hội và kinh tế của việc sử
dụng các loại thuốc gây nghiện hợp pháp và bất hợp pháp. Các biện pháp can thiệp
giảm hại giúp con người giảm thiểu được tác hại đến sức khỏe, phòng ngừa tử vong
do quá liều và kết nối với các dịch vụ xã hội, y tế khác.
sử dụng ma túy, giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc làm
và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người NCMT [19], [24].
Tại Việt Nam, chương trình MMT thí điểm bắt đầu triển khai từ tháng
5/2008 với 06 trung tâm điều trị tại Hải Phòng và Hồ Chỉ Minh. Tháng 9/2014,
chương trình được triển khai tại 38 tỉnh, thành phố với hơn 120 CSĐT và điều trị
cho 21.317 người bệnh [8]. Đến hết năm 2015, đã có 57 tỉnh, thành phố triển
khai chương trình với 239 cơ sở điều trị, nâng số người bệnh được điều trị lên
16
43.720 người [2].
Năm 2012, sau 04 năm triển khai điều trị MMT, tỷ lệ người bệnh sử dụng ma
túy bất hợp pháp giảm đáng kể, chỉ còn 14% sau 24 tháng điều trị. Tỷ lệ người bệnh
có biểu hiện trầm cảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị. An ninh xã hội
cũng đã được cải thiện đáng kể về trật tự an toàn xã hội ở khu vực có người nghiện
tham gia điều trị. Tỷ lệ người bệnh có hành vi, vi phạm pháp luật giảm từ 40%
xuống 3% sau 9 tháng điều trị. Các mâu thuẫn trong gia đình giảm rõ rệt khi người
bệnh tham gia điều trị, từ 20% xuống còn 3,55% sau 9 tháng điều trị [11].
MMT sử dụng bằng đường uống nên điều trị thay thế nghiện CDTP bằng
MMT là một trong những chương trình can thiệp giảm tác hại hiệu quả nhất trong
dự phòng lây nhiễm HIV cho người NCMT [3]. Điều trị MMT không chỉ dự phòng
lây nhiễm HIV trong nhóm người NCMT mà còn mang lại hiệu quả kinh tế [8].
1.4. Một số nghiên cứu về SKTT người bệnh MMT và các yếu tố liên
quan
1.4.1. Nghiên cứu về SKTT của người bệnh MMT ở Việt Nam
Có nhiều nghiên cứu về người bệnh MMT trong những năm gần đây, tuy
nhiên các nghiên cứu về SKTT thì chưa có nhiều. Trong nghiên cứu của Nguyễn
Thu Trang và cộng sự năm 2016, tỷ lệ người bệnh có nguy cơ rối loạn tâm thần nói
chung và nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress ở các mức độ khác nhau lần lượt là
thị trường Trung Quốc. Thành phố Bắc Giang có 02 làng nghề truyền thống, một số
cụm công nghiệp vừa và nhỏ gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của
tỉnh liền kề thành phố như: Quang Châu, Đình Trám, Vân Trung, Song Khê - Nội
Hoàng... đó là những thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và đô thị. Sự
phát triển và lớn dần của nền kinh tế thành phố, cũng là mối e ngại của các nhà chức
trách khi các tệ nạn xã hội phát triển theo, cụ thể tệ nạn ma túy và sử dụng các chất
dạng thuốc phiện.
1.5.2. Tình hình sử dụng chất dạng thuốc phiện tại thành phố Bắc Giang
Thành phố Bắc Giang nơi tập trung số người nghiện ma tuý cao nhất
tỉnh, theo số liệu của TTPC HIV/AIDS Bắc Giang tính đến 31/12/2014 toàn
tỉnh có 1.434 người nghiện ma tuý. Người sử dụng ma tuý có ở 16/16 xã,
18
phường của thành phố, tập trung nhiều tại các phường, xã nh ư: Tr ần Phú,
Trần Nguyên Hãn, Thọ Xương. Theo thống kê 2016, toàn tỉnh Bắc Giang có
186/230 xã có người nghiện ma túy; người nghiện có hồ sơ quản lý là 1.916.
Người nghiện sử dụng Heroin có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy
tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin ngày càng gia tăng, đến nay số sử
dụng chiếm khoảng từ 40-45%. Người nghiện ma túy tập trung nhiều nhất ở thành
phố Bắc Giang; các huyện có số người nghiện ma túy trên 200 người là: Hiệp
Hoà, Tân Yên, Lục Ngạn [7]. Trên địa bàn thành phố hiện có 03 cơ sở cai nghiện
ma túy tự nguyện nằm trong các đơn vị y tế nhà nước. CSĐT Methadone thuộc
Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang đi vào hoạt động điều trị MMT từ tháng
11/2015, cơ sở đã điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng MMT lũy tích cho
326 người NCMT (thực tế hiện đang điều trị tại cơ sở 170 người NCMT) [10].
19
Người bệnh không có mặt tại CSĐT trong thời gian nghiên cứu (khoảng 2
tuần);
-
Người bệnh đã bỏ điều trị, ra khỏi chương trình, chuyển sang CSÐT khác, từ
CSĐT khác đến uống nhờ, tạm thời tại thời điểm nghiên cứu.
20
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện tại cơ sở điều trị Methadone TTYT Tp. Bắc Giang.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 - 11/2019.
Trong đó:
+ Giai đoạn chuẩn bị từ tháng 2-6/2019,
+ Điều tra thực địa tháng 7-8/2019,
+ Làm sạch số liệu tháng 9/2019,
+ Phân tích số liệu và viết báo cáo tháng 10-15/12/2019,
+ Báo cáo từ 16-31/12/2019.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. Kết hợp giữa nghiên cứu định tính
và định lượng.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Lấy mẫu thuận ti ện, ch ọn toàn b ộ 170 đ ối t ượng nghiên c ứu t ại c ơ
sở nghiên cứu.
2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá
2.3.1. Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
Thứ bậc
vấn
độ học vấn
Tình trạng
Tỷ lệ người bệnh phân theo tình
Rời rạc
hôn nhân
trạng hôn nhân
Nghề nghiệp
Định Tỷ lệ người bệnh phân theo nghề
Nhóm tuổi
Thứ bậc
Phỏng
vấn
21
danh nghiệp
Mức thu nhập
Tỷ lệ người bệnh phân theo mức
6
cá
Liên tục
thu nhập
nhân/tháng
B. Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng SKTT
Tỷ lệ người bệnh có vấn đề
có/không có
(có/không) Tỷ lệ người bệnh không có
vấn đề stress
vấn đề Stress
Rời rạc
Tỷ lệ người bệnh theo mức
12 Mức độ stress
(thứ tự) độ Stress
Có vấn đề về
Tỷ lệ/phân bố người bệnh, có
trầm cảm, lo âu,
Nhị phân; vấn đề về trầm cảm, lo âu,
Stress theo đặc
Rời rạc
Stress theo một số đặc điểm
13 điểm nhân khẩu
nhân khẩu học…
học
C. Mục tiêu 2: Phân tích yếu tố liên quan
P, OR, CI95% giữa các
Mối liên quan giữa các
yếu tố cá nhân (tuổi,
yếu tố cá nhân với vấn
giới, nghề nghiệp, thu
14
Rời rạc
đề trầm cảm, lo âu,
nhập…) với vấn đề
Stress của người bệnh.
trầm cảm, lo âu, Stress
2.3.2. Tiêu chí đánh giá
Một phần của bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh là thang đo mức độ
trầm cảm, lo âu, căng thẳng tinh thần, sử dụng thang đo chuẩn đã đ ược nhi ều
nghiên cứu sử dụng DASS-21, gồm 21 câu hỏi, trong đó 7 câu h ỏi đo m ức đ ộ
trầm cảm, 7 câu hỏi cho lo âu và 7 câu cho Stress. V ới m ỗi câu h ỏi, thang đi ểm
từ 0 đến 3, tương ứng với 0 = “ Không đúng với tôi chút nào cả” , 1 = “Đúng với
tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng” , 2 = “Đúng với tôi phần nhiều,
hoặc phần lớn thời gian là đúng”, 3 = “Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết
thời gian là đúng”. Điểm “trầm cảm”, “lo âu” và “Stress” được tính b ằng cách
cộng điểm các đề mục thành phần, rồi nhân hệ s ố 2, đánh giá phân lo ại theo
bảng sau:
Bảng 1.2. Thang điểm đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, Stress
Mức độ
Bình thường
Nhẹ
Vừa
Nặng
Rất nặng
Trầm cảm (D)
0-9
10 - 13
14 - 20
21 - 27
≥ 28
Lo âu (A)
0-7
8-9
Thông tin nhân khẩu học: Tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, việc làm, thu nhập…
Tiền sử SDMT: thời gian, mức độ dùng
Sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy
Điều trị Methadone: liều, thời gian, kinh phí điều trị…
Yếu tố từ cơ sở điều trị methadone SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI BỆNH METHA
Trình độ, thái độ của nhân viên y tế
Thuận tiện: thời gian mở cửa, khoảng cách
Quy trình, nội quy của cơ sở điều trị
Hỗ trợ của NVYT, dịch vụ chuyển gửi
Sự sẵn có của dịch vụ hỗ trợ liên quan
Yếu tố từ gia đình/cộng đồng
Sự gắn kết với gia đình, họ hàng
Mối quan hệ với bạn bè, cộng đồng
Sự kỳ thị hay hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng
Mạng lưới người SDMT ở địa phương…
Hình 1.1. Khung lý thuyết các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần
25
của người bệnh Methadone
2.4. Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1. Công cụ thu thập thông tin
Bộ công cụ thu thập thông tin gồm có:
−
Bộ câu hỏi phỏng vấn: Được thiết kế sẵn, phỏng vấn trực tiếp người bệnh, bao
gồm các thông tin về đặc điểm nhân khẩu; tiền sử sử dụng ma túy, hành vi nguy