TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THANH LOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH – THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG BÌNH
NGÀNH:
LUẬT HỌC
NIÊN KHÓA: 2014 - 2018
Quảng Bình, năm 2018
ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
Ngành: Luật học
Niên khóa: 2014 - 2018
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THANH LOAN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN HOÀNG THỦY
Quảng Bình, năm 2018
Quảng Bình.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến ThS.
Nguyễn Hoàng Thủy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian
thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này, để em có thể hoàn thành được bài viết
của mình.
Do điều kiện nghiên cứu, khả năng nghiên cứu và những kinh nghiệm
thực tế còn nhiều còn bỡ ngỡ và hạn chế, nên dù đã cố gắng tuy nhiên bài khóa
luận vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do đó em rất mong nhận được
sự quan tâm và những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để em có thể bổ sung,
hoàn thiện hơn bài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, niềm
tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh “trồng người” cao đẹp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, ngày 14 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thanh Loan
BẢNG THỐNG KÊ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
Tác giả tài liệu trích dẫn
Trang khóa
Tần suất
luận
01
4
Từ điển Luật học
11
01
5
Luật Quang Phong
16
01
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS :
Bộ luật hình sự
BLTTHS :
Bộ luật Tố tụng hình sự
1.3.2. Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích ............................ 18
1.3.3. Chủ thể của tội cố ý gây thương tích........................................... 27
1.3.4. Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích ................................ 28
1.4. Trách nhiệm hình sự tội cố ý gây thương tích ................................. 30
1.5. Điểm mới về tội cố ý gây thương tích theo quy định của BLHS năm
2015 so với BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS năm
1999) ............................................................................................................ 33
1.6. Tiểu kết chương 1 ................................................................................ 36
Chương 2: THỰC TRẠNG TỘI PHẠM CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH ..................................................... 37
2.1. Đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình ................... 37
2.1.1. Điều kiện kinh tế của tỉnh Quảng Bình ...................................... 37
2.1.2. Điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Bình ........................................ 39
2.2. Thực trạng tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình giai đoạn 2013-2016 .......................................................................... 41
1
2.2.1. Tình hình tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình giai đoạn 2013-2016 qua một số vụ án tiêu biểu ............ 41
2.2.2. Cơ cấu tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình giai đoạn 2013-2016 ....................................................................... 50
2.3. Nguyên nhân của tội cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình.............................................................................................................. 55
2.3.1. Nguyên nhân khách quan ............................................................ 55
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan ................................................................. 63
2.4. Tiểu kết chương 2 ................................................................................ 63
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI CỐ Ý
GÂY THƯƠNG TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH ............. 65
3.1. Giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội cố ý gây thương tích trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2013-2016....................................................... 52
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người - Nhân tố quan trọng nhất cho mọi sự phát triển bền vững và
duy trì sự tồn tại của xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường,
trong thời đại khoa học công nghệ bùng nổ, mọi nguồn lực sẽ trở nên vô nghĩa
khi không có con người cùng với trí tuệ và sức lao động. Vì lẽ đó, bảo vệ con
người và quyền con người là một trong những chiến lược được chú trọng hàng
đầu mà mỗi quốc gia trên thế giới luôn hướng đến.
Nhận thức được vai trò to lớn của con người đối với sự phát triển, Việt
Nam ngay từ những ngày đầu thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ, cho
đến nay, hơn 40 năm đã đi qua vẫn giữ nguyên bản chất là nhà nước của dân,
do dân, vì dân, lấy dân làm gốc. Mỗi bước đi lên, mỗi bước thắng lợi của đất
nước luôn có bóng hình của toàn thể nhân dân. Nhiệm vụ phát huy nhân tố con
người, bảo vệ nhân dân chính là cốt lõi trong mọi chủ trương, chính sách của
Đảng và nhà nước, được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia mà trước
hết là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất: Hiến pháp.
Nội dung về quyền con người được ví như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội
dung của tất cả các bản Hiến pháp, được kế thừa và tiếp nối từ bản Hiến pháp
đầu tiên khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đến Hiến pháp năm
2013, là cơ sở để nhà nước bảo vệ những quyền cơ bản, thiết yếu nhất cho con
người, cho công dân, trong đó có vấn đề bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy
Những năm qua, cùng chủ trương, đường lối của các cấp chính quyền
hợp với sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân mà nòng cốt là sự cố
gắng, nỗ lực của các lực lượng chuyên trách và cơ quan bảo vệ pháp luật, công
tác đấu tranh trấn áp tội phạm cố ý gây thương tích đã thu lại nhiều kết quả
5
đáng khen ngợi: đưa ra xét xử nhiều vụ án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
trọng, áp dụng các mức hình phạt thích đáng đối với người phạm tội. Song bên
cạnh những nỗ lực đó vẫn gặp không ít khó khăn và muôn vàn thách thức đòi
hỏi cần phải đặt ra những nhiệm vụ, những biện pháp cụ thể để từng bước làm
giảm tình hình tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn.
Nhằm củng cố và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về loại tội phạm này,
đánh giá được tình hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, tìm được nguyên nhân
và điều kiện làm phát sinh, từ đó đề xuất những giải pháp phòng chống tội cố
ý gây thương tích ở Quảng Bình, tác giả chọn đề tài: “Tội cố ý gây thương tích
- Thực trạng và giải pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về Tội cố ý gây thương tích là vấn đề có nhiều khía cạnh
khác nhau để khai thác, luôn thu hút được sự quan tâm của các học giả, các lực
lượng bảo vệ trật tự an toàn xã hội, kể cả những sinh viên ngồi trên các giảng
đường Đại học,… Cụ thể đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
- Tác giả Nguyễn Ngọc Điệp với sách “Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 phần các tội phạm”, NXB Thế giới,
năm 2017;
- Tác giả Vy Thị Thu Hà với bài viết “Phòng ngừa tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”
trong Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm 2011;
- Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với bài viết “Phòng ngừa tội cố ý gây
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục đích nghiên cứu, đề tài được nghiên cứu với mục đích sau đây:
7
Thứ nhất, đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ phần lý luận,
nội dung các quy định về tội cố ý gây thương tích trong Bộ luật Hình sự 2015
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thứ hai là nhằm phân tích, đánh giá thực trạng tội phạm cố ý gây thương
tích trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Từ đó tìm ra nguyên nhân, đề xuất đề xuất
các giải pháp để phòng chống loại tội phạm này một cách hiệu quả.
Để hoàn thành được những mục đích đã đặt ra, cần phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày và làm rõ các quy định của pháp luật về tội cố ý gây
thương tích theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
Hai là, khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng tội cố ý gây thương
tích trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thông qua thực trạng xét xử các vụ án cố ý
gây thương tích ở các cấp Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Ba là, tổng hợp kết quả nghiên cứu, đưa ra các đề xuất nhằm làm hoàn
thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam về tội cố ý gây thương tích, đưa ra
những giải pháp thực tiễn góp phần làm cơ sở để phòng, chống tội phạm này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật về tội cố ý
gây thương tích trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành, thực trạng và giải
pháp phòng chống tội cố ý gây thương tích.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình từ năm 2013-2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Để tìm hiểu, phân tích thực tiễn đấu tranh và đề ra các giải pháp nâng
cao công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích
nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, nghiên cứu về lý luận là một khâu vô
cùng quan trọng bởi đây là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn pháp
luật hình sự trong xử lý các hành vi phạm tội.
1.1. Khái quát chung về tội phạm
Xác định tội phạm là một trong những vấn đề cấp thiết và quan trọng, có
nhiều quan điểm về tội phạm được đưa ra, cụ thể:
Theo từ điển Tiếng Việt, “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong luật” [9].
Theo từ điển Luật học thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có
lỗi, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt” [8].
Nhằm hiểu một cách nhất quán và đầy đủ về tội phạm, khái niệm về tội
phạm đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự, đánh dấu một bước tiến quan
trọng trong tư duy lập pháp hình sự. Ngày 27-11-2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc
hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự năm 2015. Tiếp đó, ngày 20-62017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật số 12/2017/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2018 để tiếp tục hoàn thiện các quy định về tội phạm,
đồng thời thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống
tội phạm.
Căn cứ theo Khoản 1, Điều 8, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015) quy định khái niệm tội phạm như sau:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực
10
Ví dụ: Anh A vô cớ gây sự với anh B tại siêu thị, có xảy ra xô xát nhưng
chưa gây thương tích cho cả hai bên, đây là lần đầu thực hiện hành vi.
Trong tình huống này có dấu hiệu của hành vi gây rối trật tự công cộng
tuy nhiên mức độ của hành vi chưa nguy hiểm, hậu quả gây ra không đáng kể.
Cho nên sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực
gia đình.
Ngoài ra hành vi nguy hiểm đó phải được quy định trong Bộ luật Hình
sự, bởi chỉ có Bộ luật hình sự mới quy định về tội phạm, hình phạt nói chung
cũng như về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt đối với tội phạm cụ
thể đó mà không có một văn bản pháp luật nào khác được phép quy định.
Thứ hai, không thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không có lỗi của
người phạm tội, nghĩa là một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
nếu không có lỗi thì không bị coi là hành vi phạm tội. Trong BLHS Việt Nam
hiện hành không chấp nhận quy TNHS khách quan, chỉ căn cứ vào hành vi gây
thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào yếu tố lỗi. Mặc dù trong khái niệm
được quy định trong BLHS năm 2015 hai dấu hiệu độc lập với nhau nhưng có
sự liên kết chặt chẽ: Lỗi bao giờ cũng đi với hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất
định. Do đó, tính có lỗi là một trong bốn dấu hiệu quan trọng của tội phạm.
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được thể hiện dưới dạng vô
ý hoặc cố ý [6, tr.136].
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được xem là có lỗi khi
thỏa mãn hai điều kiện: Phải có hành vi trái pháp luật hình sự và hành vi đó là
kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi trong khi
12
có tội phạm thì cũng không có hình phạt, đồng thời căn cứ vào tính nguy hiểm
cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự nhằm cụ thể hóa tính chịu hình phạt trong
từng trường hợp phạm tội cụ thể.
Tội phạm có tính chịu hình phạt bởi bất cứ hành vi phạm tội nào cũng bị
đe doạ có thể phải áp dụng hình phạt được quy định trong BLHS - là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước. Tuy nhiên trong một số trường hợp
trên thực tế, người phạm tội không bị áp dụng hình phạt được quy định rõ trong
BLHS năm 2015 gồm các trường hợp được miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn
chấp hành hình phạt.
Từ khái niệm và những dấu hiệu cơ bản của tội phạm chính là cơ sở nhằm
thống nhất về nhận thức để xác định các tội phạm cụ thể trong BLHS và áp
dụng pháp luật hình sự một cách phù hợp và đúng đắn.
1.2. Khái niệm tội cố ý gây thương tích
Một trong những quyền thiêng liêng và cao quý nhất của con người đó
chính là quyền được sống, bảo vệ sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Xác định
con người là trung tâm của xã hội, dựa trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, tại
BLHS 2015 cụ thể là chương XIV đã quy định về các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Đây chính là công cụ sắc bén và
hữu hiệu nhất của nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng chống với tội
phạm nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ con người và các quyền cơ bản của con
người.
Chương XIV của BLHS năm 2015 có tất cả 33 điều quy định về tội phạm
này cùng các hình phạt tương ứng. Căn cứ vào tính chất của tội phạm khác nhau
có thể chia thành 3 nhóm tội sau: Các tội xâm phạm tính mạng của con người
(Điều 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133), các tội xâm phạm
sức khỏe con người (Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142, 143,
144, 145, 146, 147, 148, 149), các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người
14
tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng những thương tích
hoặc tỷ lệ tổn hại sức khỏe cụ thể [7, tr.129]”.
Dựa trên khái niệm về tội phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 8,
BLHS 2015, tác giả xin đưa ra định nghĩa về tội cố ý gây thương tích như sau:
“Tội cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng
lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của
người khác một cách trái pháp luật dưới dạng thương tích”.
Khái niệm trên thể hiện một cách tổng quát về tội cố ý gây thương tích,
từ đó dễ dàng phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác trong cùng một
nhóm tội hoặc so với các tội cụ thể được quy định trong BLHS. Có thể hiểu
rằng, tội cố ý gây thương tích là hành vi trái pháp luật của một người có khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đủ tuổi chịu TNHS theo luật
định thực hiện, tác động vào cơ thể của người khác nhằm mong muốn gây ra
những thương tích được thể hiện thông qua các dấu vết để lại trên cơ thể, có
thể nhìn thấy được.
Định nghĩa về tội cố ý gây thương tích trên đem lại nhận thức đúng đắn,
đồng thời có vai trò quan trọng trong việc làm tiền đề để nghiên cứu các quy
định về loại tội phạm này.
1.3. Các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích
Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội phạm nhất định đều có những
nội dung biểu hiện riêng biệt. Chúng ta không thể căn cứ vào định nghĩa của
tội phạm, tội cố ý gây thương tích để định tội và định khung hình phạt mà pháp
luật hình sự xem xét thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) gồm:
Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan. Đây là điều kiện cần thiết
để xác định hành vi là tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích nói
riêng mà thiếu một trong bốn yếu tố thì không thể coi là tội phạm.
16
Trong tình huống trên, khách thể của tội phạm là quyền được tôn trọng
và bảo vệ sức khỏe của B. Việc A sử dụng gậy tre dài 75 cm, đường kính 4cm
đánh liên tục vào đầu B đã xâm phạm tới khách thể mà Luật hình sự bảo vệ đó
chính là quyền được tôn trọng và bảo sức khỏe của B. Đối tượng tác động là
con người B, đang sống và tồn tại trong thế giới khách quan, chính hành vi của
A đã làm biến đổi tình trạng bình thường của B, dẫn đến hậu quả là B bị thương
tích 15%.
Khách thể của tội cố ý gây thương tích là một trong những yếu tố cấu
thành nên tội cố ý gây thương tích, người thực hiện hành vi được coi là tội
phạm nếu hành vi đó xâm hại đến quan hệ xã hội, ở đây là quyền được bảo vệ
sức khỏe mà LHS bảo vệ.
1.3.2. Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích
Mặt khách quan của tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích nói
riêng là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm
diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể trực tiếp
nhận biết được với các dấu hiệu đó là: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã
hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu
quả nguy hiểm đó…
Thứ nhất, hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là biểu hiện cơ bản,
quan trọng, những biểu hiện khác của mặt khách quan: hậu quả, công cụ,
phương tiện,… chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Hành vi khách quan
được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển và có khả năng làm biến đổi tình trạng
bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Có thể nói rằng không thể
có tội phạm nếu người đó không thực hiện hành vi khách quan.
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích là dùng sức mạnh vật
chất tác động lên cơ thể của con người, để lại cho cơ thể của con người những
thương tích nhất định (ví dụ: mất ngón tay, ngón chân, bàn tay,…). Hành vi
18