VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
ĐỖ ANH VŨ
NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN BÍNH
(Dựa trên cứ liệu trƣớc 1945)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Mã số: 9 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TS. MAI NGỌC CHỪ
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
cứ một công trình nào.
Tác giả luận án
Đỗ Anh Vũ
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................... 1
2.2.2. Nhịp điệu trong thơ thất ngôn ............................................................................ 41
2.3. Cấu trúc nhan đề tác phẩm ........................................................................................ 43
2.4. Nghệ thuật biểu hiện dấu câu .................................................................................... 46
2.4.1. Dấu ba chấm trong thơ Nguyễn Bính ................................................................ 46
2.5. Một số biện pháp tu từ cú pháp trong thơ Nguyễn Bính .......................................... 53
2.5.1. Biện pháp tu từ điệp ngữ.................................................................................... 53
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA THƠ NGUYỄN BÍNH ...................................... 71
3.1. Các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính ................ 71
3.1.1. Vai trò của không gian trong nhan đề tác phẩm ............................................... 71
3.1.2. Những không gian chung ................................................................................... 72
3.1.3. Những không gian nông thôn............................................................................. 76
3.1.4. Không gian thành thị ......................................................................................... 79
3.1.5. Không gian phiêu bạt ......................................................................................... 82
3.1.6. Những không gian gắn với địa danh .................................................................. 83
3.1.7. Những không gian tượng trưng – ước lệ ........................................................... 87
3.2. Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính .................... 88
3.2.1. Thời gian của ngày ............................................................................................ 88
3.2.2 Thời gian của năm .............................................................................................. 97
3.2.3. Các biểu hiện khác của thời gian .................................................................... 101
3.3. Một số tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc trong thơ Nguyễn Bính ...................................... 106
3.3.1. Tín hiệu thẩm mĩ “vườn” ................................................................................. 106
3.3.2. Tín hiệu thẩm mỹ “bướm” ............................................................................... 109
3.3.3. Tín hiệu thẩm mỹ “rượu” ................................................................................ 114
3.4. Các yếu tố ngôn ngữ chỉ con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính .................................. 119
3.5. Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính ................................ 123
3.5.1. Các yếu tố chỉ thực vật .................................................................................... 123
3.5.2. Các yếu tố chỉ động vật.................................................................................... 125
3.6. Từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính ................................................... 127
15. Bảng 2.15: Các loại điệp ngữ trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
16. Bảng 2.16: Tần số sử dụng hƣ từ trong các câu thơ
17. Bảng 2.17: So sánh tƣơng quan chuyển loại thực từ - hƣ từ
18. Bảng 2.18: So sánh tình hình sử dụng hƣ từ trong thơ Nguyễn Bính và
Huy Cận trƣớc 1945
19. Bảng 3.1: Những không gian chung trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
20. Bảng 3.2: Các đơn vị không gian nông thôn mang tính chất văn hóa
truyền thống trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
21. Bảng 3.3: Những không gian nông thôn cụ thể trong thơ Nguyễn Bính
trƣớc 1945
22. Bảng 3.4: Không gian phiêu bạt trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
22. Bảng 3.5: Các địa danh cụ thể trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
24. Bảng 3.6: Địa danh điển tích trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
25. Bảng 3.7: Không gian ƣớc lệ trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
26. Bảng 3.8: Thời gian ban ngày trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
27. Bảng 3.9: Biểu hiện của thời gian buổi chiều trong thơ Nguyễn Bính
trƣớc 1945
28. Bảng 3.10: Biểu hiện của thời gian “đêm” trong thơ Nguyễn Bính trƣớc
1945
29. Bảng 3.11: Biểu tƣợng của thời gian ban đêm trong thơ Nguyễn Bính
trƣớc 1945
30. Bảng 3.12: Bốn mùa trong thơ Nguyễn Bính trƣớc 1945
31. Bảng 3.13: Bốn mùa trong thơ Nguyễn Bính căn cứ qua nhan đề tác
phẩm
32. Bảng 3.14: Các tín hiệu từ vựng đặc trƣng chỉ mùa thu trong thơ
Nguyễn Bính trƣớc 1945
33. Bảng 3.15: Thế giới nghệ thuật Nguyễn Bính qua ba tín hiếu thẩm mỹ
đặc sắc
chí có phần vƣợt cả Xuân Diệu, ngƣời vẫn đƣợc xem là hoảng từ của thời kỳ
Thơ Mới.
Ý thức về vị trí của thi tài Nguyễn Bính trong nền thi ca Việt Nam hiện
đại, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính (dựa trên
cứ liệu trước 1945) với mong muốn chỉ ra một cách hệ thống những đặc điểm
ngôn ngữ thi ca, thấy đƣợc những sáng tạo, đóng góp và cống hiến nghệ thuật
của ông, đồng thời cũng chỉ ra đƣợc một phong cách không thể trộn lẫn trong
mối tƣơng quan với những thi sĩ sáng tác theo khuynh hƣớng lãng mạn thời kỳ
trƣớc 1945. Công trình cũng sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi: Tại sao thơ Nguyễn
Bính lại đƣợc nhiều ngƣời yêu thích, say mê và thuộc lòng đến nhƣ vậy.
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ phong cách thơ Nguyễn Bính
từ góc độ ngôn ngữ học, thấy đƣợc một bức tranh toàn cảnh về ba bình diện: đặc
điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp cũng nhƣ đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của thơ
Nguyễn Bính. Các bình diện trên cũng đồng thời thể hiện những giá trị nội dung
tƣ tƣởng và giá trị nghệ thuật ở các tác phẩm của ông, cho chúng ta thấy những
đóng góp và những cống hiến, sáng tạo của Nguyễn Bính.
2.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là qua 272 bài thơ sáng tác trong giai
đoạn trƣớc 1945 của Nguyễn Bính, đi vào thống kê, miêu tả, phân tích các đặc
điểm ngôn ngữ học tiêu biểu thuộc cả ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng
ngữ nghĩa để thấy đƣợc bức tranh toàn cảnh về thế giới thơ Nguyễn Bính, thấy
đƣợc phong cách riêng của thi sĩ chân quê cùng những đóng góp nghệ thuật,
những sáng tạo cống hiến của ông.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
các bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa. Việc miêu tả đƣợc tiến
hành chi tiết và kỹ lƣỡng, từ hình thức bên ngoài (định lƣợng hóa) cho đến các
giá trị đƣợc biểu đạt (định tính hóa) bởi nội dung tƣ tƣởng tác phẩm. Tuy vậy, ở
mỗi khu vực ngữ âm/ngữ pháp/từ vựng ngữ nghĩa, chúng tôi sẽ chỉ chọn và phân
tích những nội dung mang tính điển hình và đặc sắc nhất, phản ánh đƣợc những
đóng góp, sáng tạo cũng nhƣ nét riêng biệt về phong cách của Nguyễn Bính.
Các phƣơng pháp và thủ pháp liên ngành khác đƣợc chúng tôi sử dụng là
phân tích diễn ngôn, phân tích tu từ học, thống kê, so sánh và phân tích thể loại.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính từ góc nhìn
ngôn ngữ học, bao quát cả hai mặt hình thức và ngữ nghĩa với các đặc điểm nổi
bật về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa trong hệ thống thi phẩm sáng tác
trƣớc Cách mạng của thi sĩ chân quê. Những kết quả của luận án sẽ góp phần
khẳng định về một phong cách riêng không thể trộn lẫn của Nguyễn Bính, đồng
thời mở ra một hƣớng tiếp cận mới về ngôn ngữ tác giả, phong cách văn bản
nghệ thuật nói chung và phong cách nhà văn nói riêng.
3
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
Luận án tiếp cận di sản thi ca của một tác gia tiêu biểu giai đoạn trƣớc
1945 từ góc nhìn phong cách học và ngôn ngữ văn chƣơng. Những vấn đề liên
ngành đƣợc đặt ra một cách thú vị bởi những giao thoa giữa ngôn ngữ học - văn
học – từ vựng học – thi pháp học – ngữ âm học – ngữ pháp học – phong cách
học. Khẳng định vai trò và sự nghiệp văn học của Nguyễn Bính trong giai đoạn
thơ ca lãng mạn 1930 – 1945, luận án cũng sẽ tiếp tục gợi mở cho những nghiên
cứu theo mô típ phong cách ngôn ngữ những tác gia tiêu biểu trong nền thơ Việt
Nam hiện đại.
để tiện cho làm việc, chúng ta cùng điểm lại những ý kiến, quan điểm nổi tiếng
về thơ.
Ở phƣơng Tây, từ thời cổ đại, Aristot trong cuốn Nghệ thuật thi ca đã
quan niệm thơ nhƣ là một sự mô phỏng, nhƣng phải là mô phỏng trong sáng tạo.
Ở phƣơng Đông, nhà thơ Bạch Cƣ Dị đời Đƣờng có lẽ là một trong những ngƣời
sớm nhất đƣa ra quan điểm riêng về thơ: “Cái gọi là thơ thì không gì cảm hóa
nhân tâm bằng tình cảm. Không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ.
Không gì thân thiết bằng âm thanh. Không gì sâu sắc bằng nghĩa lý. Gốc của
thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là âm thanh. Quả của thơ
là nghĩa lý”. [dẫn theo Nguyễn Thị Phƣơng Thùy,13-14, 47]. Ở Việt Nam, thời
hiện đại, mỗi nhà thơ gần nhƣ có một quan điểm riêng về thơ. Tố Hữu thì nói:
“Thơ là cảm hứng. Cảm hứng thì nên ghi lại”. Ông phát biểu thêm trong một số
lần khác: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”, “Thơ là cái nhụy của cuộc
sống”, “Thơ là tiếng nói tri âm”, “Thơ là chuyện đồng điệu”. Lƣu Trọng Lƣ thì
cho rằng: “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống”. Thanh
Tịnh thì nghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm”. Chế
Lan Viên thì phát biểu về thơ bằng chính thơ:
Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời
…
5
Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm
Như cây xanh thẳng quá chim không về
Nhà thơ Lê Đạt quan niệm: “Thơ, chính là một trong những lĩnh vực lao
động tạo ra các giá trị phi vật thể của một dân tộc. Một cái cảnh nên thơ, không
phải tự nó nên thơ, mà nó là do cái văn hóa mà các nhà thơ đã hình thành ra”.
Nhà thơ Trần Dần thì viết: “Thơ ca không nên là những tụng ca thời thượng, mà
ngôn ngữ lại dùng để xây dựng các thông báo”. Nhận xét này chính là cơ sở để
Nguyễn Phan Cảnh đề cao một nguyên lí trong tổ chức ngôn ngữ thơ: nguyên lí
song hành.
Hữu Đạt trong tác phẩm Ngôn ngữ thơ Việt Nam thì đƣa ra định nghĩa:
“Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc
tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng
của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới
dạng các hình tượng nghệ thuật”.
Các tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong công
trình Từ điển thuật ngữ văn học thì quan niệm: Thơ là hình thức sáng tác văn
học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ
bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Các tác giả còn
cho rằng, dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình.
Dựa vào thể luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do. Xét về mặt gieo vần
có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần. Ngoài ra còn có thể phân loại thơ
theo thời đại (thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý Trần..) hoặc theo nội dung (thơ tình
yêu, thơ triết lý, thơ chính trị…)
Vì luận án này đƣợc thực hiện dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học nên chúng
tôi thiên về ủng hộ quan niệm định nghĩa thơ của tác giả Hữu Đạt trong công
trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thơ có thể chấp
nhận những hình thức khá linh hoạt chứ không nhất thiết lúc nào cũng phải ngắn
gọn và súc tích, chẳng hạn truyện thơ hay trƣờng ca chính là những minh chứng
điển hình. Do đó, chúng tôi đi đến một định nghĩa về thơ để tiện cho thao tác làm
việc nhƣ sau: “Thơ là một thể loại văn học, là một chỉnh thể văn bản ngôn từ có
sự tương xứng giữa nội dung và hình thức biểu hiện. Thơ mang đặc trưng của tư
duy hình tượng với sự tham gia của vần điệu và các quy luật hòa phối ngữ âm
trong từng ngôn ngữ, về nội dung có nhiệm vụ hướng con người đến Chân,
7
nhìn độc đáo vào thế giới, kết cấu/cấu trúc tác phẩm, ngôn ngữ và giọng điệu.
8
Từ một hƣớng đi khác, hƣớng đi thi pháp học, vấn đề ngôn ngữ thơ cũng
đƣợc đặt ra, phân tích và lí giải, từ đó nhắm làm nổi bật phong cách của nhà văn
cũng nhƣ những đóng góp cống hiến về mặt hình thức nghệ thuật cũng nhƣ nội
dung tƣ tƣởng của tác phẩm. Ngƣời đƣợc coi là tiên phong và có nhiều đóng góp
ở những nghiên cứu từ góc độ thi pháp học là Trần Đình Sử. Những tác phẩm
quan trọng và nổi bật của ông có thể kể đến là: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987,
1997, 2001), Thi pháp Truyện Kiều (2002, 2003, 2004, 2005), Thi pháp văn học
trung đại Việt Nam (1998, 2005), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995, 1996,
2001). Trong các tác phẩm nổi bật chúng tôi vừa kể tới, vấn đề ngôn ngữ thơ
đƣợc đƣa ra phân tích, xem xét từ những điểm nhìn khác nhau nhƣ: thời gian
nghệ thuật, không gian nghệ thuật, hình thức thể loại, chất tự sự, một số biện
pháp tu từ. Trong phần cuối chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử
dành một tiểu mục mang tên Chất thơ và phương thức thể hiện, trong đó cố gắng
làm nổi rõ một số đặc điểm mang dấu ấn ngôn ngữ tác giả nhƣ cách tạo mệnh đề
(hỏi, phủ định, cảm thán, khẳng định, khêu gợi..), tạo đối thoại/độc thoại, các
mảng từ ngữ, giọng điệu tác giả...
Một số tác phẩm quan trọng khác gắn với ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ tác
giả/tác phẩm cũng cần đƣợc kể tới là: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại (1974), Văn thơ Hồ Chí Minh (2000), Văn chương – tài năng và phong cách
(2001) của Hà Minh Đức...
1.2.2.2. Tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ ngôn ngữ học
Nhà ngôn ngữ học phƣơng Tây bàn nhiều đến thơ nhất trong thế kỷ XX
có lẽ là Roman Jakobson. Theo ông, “chức năng thi ca đem nguyên lí tƣơng
đƣơng của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”. Trong bài viết nổi tiếng Ngôn
định xa lạ đối với thi ca không thể che lấp cái bản chất nguyên sơ của nó, cũng
như những yếu tố ngôn ngữ biểu cảm được sử dụng trong thi ca không hề mất
sắc thái biểu cảm của nó”. Bản chất nguyên sơ mà ông muốn nhấn mạnh ở đây
chính là nguyên lí mà chúng tôi đã nhắc đến ở phần đầu “đem nguyên lí tương
đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”.
Phần cuối cùng của bài viết là một nhận định quan trọng của Jakobson,
xứng đáng đƣợc coi là kim chỉ nam cho những ai nghiên cứu về thi ca: “Nói tóm
lại việc phân tích câu thơ hoàn toàn thuộc lĩnh vực thi học và thi học có thể được
định nghĩa là cái bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong
10
mối quan hệ của nó với các chức năng khác của ngôn ngữ. Thi học hiểu theo
nghĩa rộng quan tâm đến chức năng thi ca không phải chỉ trong thơ ca, nơi mà
chức năng này chiếm ưu thế so với các chức năng khác của ngôn ngữ mà cả bên
ngoài thi ca, là nơi mà chức năng này hoặc một chức năng khác chiếm ưu thế
hơn so với chức năng thi ca”.
Trong một số bài viết đi vào phân tích một số bài thơ cụ thể nhƣ Sonnet
của Joachim Du Beliay, Chán chường và Những con mèo của Baudelair (đã
đƣợc tập hợp và đƣa vào tuyển tập Thi học và ngữ học do Trần Duy Châu dịch,
NXB Văn học – Trung tâm nghiên cứu quốc học 2008), Jakobson thể hiện sự
chú ý đồng đều tới tất cả các biểu hiện nghệ thuật của một tác phẩm thơ bao gồm
từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp.
Một công trình khác bàn về ngôn ngữ thơ là tác phẩm Cấu trúc văn bản
nghệ thuật của Iu. M. Lotman. Tác phẩm gồm 9 chƣơng với các nội dung: nghệ
thuật với tư cách ngôn ngữ, vấn đề nghĩa trong văn bản nghệ thuật, khái niệm
văn bản, văn bản và hệ thống, những nguyên tắc kết cấu văn bản, các yếu tố và
các cấp độ biến thái của văn bản nghệ thuật, trục cú đoạn của cấu trúc, kết cấu
tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, văn bản và các cấu trúc ngoài văn bản.
những thời kỳ sau.
Sau Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh 11 năm, giới Việt ngữ có thêm
công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998) của Hữu Đạt. Tác giả đứng trên quan
điểm của phong cách học để phân tích những biểu hiện của ngôn ngữ thơ. Cuốn
sách gồm 42 tiểu mục, 6 phần và 11 chƣơng. Hữu Đạt cũng kế thừa quan điểm
của Nguyễn Phan Cảnh về phƣơng thức tạo hình và phƣơng thức biểu hiện trong
ngôn ngữ thơ, từ đó, ông nhấn mạnh hơn nữa vào tính hình tƣợng của tác phẩm
thi ca cũng nhƣ những biểu hiện quan trọng về hình thức nhƣ tính tƣơng xứng
trong ngôn ngữ thơ và tính nhạc. Ông dành một phần riêng để viết về nghệ thuật
chơi chữ trong thi ca và tỏ ra khá chú ý đến vấn đề phong cách tác giả, phong
cách thi ca của mỗi thời kỳ lịch sử và các vấn đề khác về thể loại.
Bên cạnh hai công trình có tính chất tổng quan khá toàn diện, chú ý đến
nhiều mặt của ngôn ngữ thơ, còn phải kể đến những chuyên luận đi sâu vào một
khu vực nào đó của tác phẩm thi ca dƣới góc nhìn ngôn ngữ học. Tác phẩm Vần
thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (1991, 2005) của Mai Ngọc Chừ đi
sâu phân tích về vai trò, chức năng, tầm quan trọng của vần thơ, từ đó đi đến
phân loại vần thơ, xét về vị trí hoạt động của vần và các xu hƣớng phát triển của
12
vần. Tác phẩm Nhịp điệu ngôn ngữ thơ văn Việt Nam (2015) của Vũ Thị Sao Chi
đi sâu vào nhận diện nhịp điệu, đƣa ra các tiêu chí và cách thức tổ chức nhịp
điệu, khẳng định giá trị và tầm quan trọng của nhịp điệu trong văn chƣơng nói
chung, trong thi ca nói riêng. Tác phẩm Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều
(2015) của Lý Toàn Thắng đi sâu vào vấn đề tổ chức ngữ âm của thơ, cụ thể là
vần (thi vận), thi tiết, thi điệu (nhịp điệu), thi âm (kết hợp thanh âm) trong
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Một công trình khác ra mắt gần đây
hơn cả là chuyên luận thi học Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca (2017) của hai
tác giả Nguyễn Quang Hồng – Phan Diễm Phƣơng. Đây cũng là một tác phẩm
ngữ thơ Vũ Quần Phương trong Vết thời gian (Trần Thị Mai, Đại học Vinh,
2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Huy Cận trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca (Đại học
Vinh, 2009), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị Thanh Bình,
Đại học Vinh, 2008), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng (Trần
Đình Thạo, Đại học Vinh, 2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên qua Di
cảo thơ (Ngô Văn Huỳnh, Đại học Vinh, 2001). Một loạt các tác giả tên tuổi
khác trong nền thơ Việt Nam thế kỷ XX cũng đƣợc chọn làm đổi tƣợng để khảo
sát và nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ khác của Đại học Vinh nhƣ: Nguyễn
Đình Thi, Nguyễn Duy, Tản Đà, Thu Bồn, Hữu Thỉnh...
1.1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính
Những nghiên cứu, hay nói đúng hơn là những nhận định, đánh giá đầu
tiên về Nguyễn Bính có lẽ thuộc về Hoài Thanh – Hoài Chân trong tuyển tập Thi
nhân Việt Nam: “Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu
trong lòng ta (…). Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm
được một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông
thái thời nay. Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ như thế này có
gì?”. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí
trí, một điều đáng quý vô ngần: hồn xưa của đất nước”.
Cùng thời với Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà
văn Việt Nam hiện đại cũng đã chỉ ra thứ “tình quê xác thực” đƣợc toát lên từ
những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính.
Vũ Ngọc Phan cũng đã đánh giá rất cao những bài thơ viết về làng quê của
Nguyễn Bính.
14
Sau những nhận định đánh giá của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, tình hình
nghiên cứu về Nguyễn Bính nói riêng cũng nhƣ các nhà thơ trong phong trào
Thơ Mới nói chung bị hạn chế ở miền Bắc trong nhiều thập kỷ, một phần vì lí do
2016), Mặc cảm tha hƣơng trong thơ Nguyễn Bính trƣớc Cách mạng (Lê Thị
Thu Hiến, 2006), Hệ thống biểu tƣợng trong thơ Nguyễn Bính trƣớc Cách mạng
(Lê Thị Hằng, 2008).
Những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn
ngữ học có ít hơn, có thể kể tới các đề tài: Từ đồng nghĩa trong thơ Nguyễn Bính
(Vũ Thị Hoà, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học, ĐHKHXH&NV, HN,
2007), Những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật (dựa trên cứ liệu thơ
Nguyễn Bính ) (Đỗ Anh Vũ, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ, Khoa Ngôn ngữ,
ĐHKHXH&NV, HN, 2008), Chất chân quê trong thơ Nguyễn Bính từ góc độ
ngôn ngữ (Trần Yến Ngọc, 2010)
Nhìn chung, các luận văn trên đều tiếp cận thơ Nguyễn Bính từ góc độ
ngôn ngữ tác giả và/hoặc ngôn ngữ tác phẩm, cố gắng làm rõ phong cách riêng
của Nguyễn Bính trong tƣơng quan với các nhà thơ lãng mạn cùng thời. Khung lí
thuyết đƣợc các tác giả vận dụng chủ yếu vẫn đi theo con đƣờng phong cách học
truyền thống với phƣơng pháp miêu tả làm chủ đạp. Tóm lại, chƣa có một công
trình nào nghiên cứu về sự nghiệp thơ Nguyễn Bính giai đoạn trƣớc 1945 từ góc
nhìn ngôn ngữ học một cách thực sự toàn diện và đầy đủ.
1.2. Cơ sở lí thuyết
Đứng trƣớc tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ nói chung, tác phẩm
của Nguyễn Bính nói riêng nhƣ đã trình bày phía trên, luận án của chúng tôi
quyết định tiếp cận thế giới thơ của Nguyễn Bính trên ba bình diện: ngữ âm, ngữ
pháp và từ vựng ngữ nghĩa. Ở mỗi phần, chúng tôi đều có sự kế thừa và vận
dụng một phần lý thuyết tƣơng ứng của những tác giả đi trƣớc trong giới Việt
ngữ học.
1.2.1. Ngôn ngữ thơ là gì?
Xuất phát từ một định nghĩa về thơ nhƣ chúng tôi đã trình bày trong phần
trƣớc, ngôn ngữ thơ, theo đó, cần đƣợc hiểu là ngôn ngữ của tác phẩm thi ca,
đƣợc dùng trong thi ca. Ngôn ngữ thơ vì thế, đƣợc xem là một thứ ngôn ngữ
nghệ thuật có độ trau chuốt từ hình thức đến nội dung. Về hình thức, phải đảm
Các cặp vần chính lại có thể phân chia tiếp thành 4 tiểu nhóm nhƣ sau
Kiều 1: Khác nhau hoàn toàn ở âm đầu, thanh điệu đồng nhất hoàn toàn
hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn:
can – ban, kiếp – hiệp, tha – là, ai – hai
17
Kiểu 2: Khác nhau hoàn toàn ở âm đệm, thanh điệu đồng nhất hoàn toàn
hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn:
loan – lan, hoài – hài…
Kiểu 3: Khác nhau ở thanh điệu nhƣng vẫn nằm trong phạm vi đồng nhất
đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn: dài – dai, bồ bô…
Kiểu 4: Khác nhau vừa âm đầu vừa âm đệm, thanh điệu đồng nhất hoàn
toàn hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn
toàn: quan – tan, oan – lan…
- Vần thông
Hai âm tiết đƣợc coi là hiệp vần với nhau theo kiểu vần thông nếu chúng
đáp ứng đƣợc ba yêu cầu sau:
- Thanh điệu đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu
- Âm cuối trong hai âm tiết hiệp vần hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng
nhất đặc trƣng vang, hoặc đồng nhất đặc trƣng vô thanh
- Âm chính trong cặp vần hoặc đồng nhất đặc trƣng âm sắc (cùng bổng,
cùng trầm vừa hoặc cùng trầm), hoặc đồng nhất đặc trƣng âm lƣợng (cùng âm
lƣợng lớn, cùng âm lƣợng trung bình hoặc cùng âm lƣợng nhỏ)
Các cặp vần thông lại có thể có các dạng nhƣ sau:
Kiểu 1: Chỉ khác nhau ở âm chính, các thành phần còn lại đồng nhất hoàn
toàn, ví dụ: quên – quen, chua – chƣa, hôn – hơn…
Kiểu 2: Khác nhau ở âm chính và một hoặc một số thành phần khác:
- Khác nhau ở âm chính và âm đầu: quên – hoen, mƣa - tua
đó trong tác phẩm văn chƣơng, gây ấn tƣợng về sự chuyển động nhịp nhàng, hài
hòa, cân đối. Nhịp là những khoảng, đoạn đều đặn, nối tiếp và lặp lại nhiều lần
theo chu kỳ nhất định, còn điệu chính là tính chất, đƣờng nét vận động của
nhịp”.
Để nhận diện về nhịp có thể thông qua bộ tiêu chí gồm 9 điểm:
ngừng/ngắt nhịp, trƣờng độ, cao độ, tốc độ, cƣờng độ, điểm nhấn, đƣờng nét,
hiệp vần (hòa âm) và phối hợp thanh điệu (hòa thanh).
Tuy thế, chúng tôi cũng cho rằng, để tránh rƣờm rà và cồng kềnh, có thể
gộp các tiêu chí 3 (cao độ), 7 (đƣờng nét) và 9 (phối hợp thanh điệu) lại trong
một tiêu chí, tạm gọi tên là “cao độ và đƣờng nét”. Sở dĩ có thể gộp ba tiêu chí
19