(Luận án tiến sĩ) Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ĐÀO

NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG HỒI KÝ TÔ HOÀI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ĐÀO

NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG HỒI KÝ TÔ HOÀI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 922 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Tập thể hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. PHẠM VĂN TÌNH
TS. NGUYỄN VĂN NGUYÊN

NGHỆ AN - 2018

1.3.1. Con người và sự nghiệp sáng tác ........................................................... 30
1.3.2. Vị trí của hồi ký trong sáng tác của Tô Hoài.......................................... 32
1.3.3. Đặc điểm hồi ký Tô Hoài ...................................................................... 33
1.4. Tiểu kết chương 1........................................................................................ 35
Chương 2. TỪ NGỮ TRONG LỜI TRẦN THUẬT HỒI KÝ TÔ HOÀI ......... 37
2.1. Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm nghệ thuật..................................... 37
2.1.1. Từ trong ngôn ngữ ................................................................................ 37
2.1.2. Từ trong tác phẩm nghệ thuật ................................................................ 38
2.2. Từ ngữ trong lời trần thuật hồi ký Tô Hoài .................................................. 40
2.2.1. Các lớp từ xét về mặt cấu tạo ................................................................ 40
2.2.2. Các lớp từ ngữ xét về mặt phong cách................................................... 50
2.2.3. Các trường từ vựng nổi bật trong Hồi ký Tô Hoài ................................. 62
2.3. Những sáng tạo trong cách sử dụng từ ngữ .................................................. 83
2.4. Tiểu kết chương 2........................................................................................ 90


Chương 3. CÂU TRONG LỜI TRẦN THUẬT HỒI KÝ TÔ HOÀI ................ 92
3.1. Câu trong ngôn ngữ và câu trong văn bản nghệ thuật................................... 92
3.1.1. Câu trong ngôn ngữ............................................................................... 92
3.1.2. Câu trong văn bản nghệ thuật ................................................................ 94
3.2. Câu trong hồi ký Tô Hoài xét về cấu tạo...................................................... 95
3.2.1. Số liệu thống kê .................................................................................... 95
3.2.2. Câu đơn trong hồi ký Tô Hoài ............................................................... 97
3.2.3. Câu ghép trong hồi ký Tô Hoài ........................................................... 119
3.3. Câu trong hồi ký Tô Hoài xét theo mục đích nói........................................ 127
3.3.1. Số liệu thống kê .................................................................................. 127
3.3.2. Vai trò của các loại câu trong hồi kí của Tô Hoài xét theo mục đích nói .. 128
3.4. Biện pháp tu từ cú pháp trong hồi ký Tô Hoài ........................................... 132
3.4.1. Số liệu thống kê .................................................................................. 132
3.4.2. Một số biện pháp tu từ cú pháp trong hồi kí của Tô Hoài .................... 133



1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong số các tên tuổi hàng đầu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Tô Hoài
là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng vào bậc nhất. Tô Hoài đóng
góp cho nền văn học hiện đại Việt Nam bằng một khối lượng tác phẩm đồ sộ, đến
nay ông đã cho in trên 200 cuốn. Sáng tác của Tô Hoài lại đa dạng về đề tài và thể
loại, ở đề tài và thể loại nào, ông cũng tạo được những dấu ấn riêng rõ nét. Cho nên,
nghiên cứu tác phẩm của Tô Hoài, dù ở đề tài, thể loại nào cũng là sự cần thiết đối
với sáng tác của ông nói riêng đối với văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
1.2. Hồi ký là thể văn sở trường, đặc sắc nhất của Tô Hoài, in đậm dấu ấn
cảm quan con người của nhà văn. Đối với Tô Hoài, hồi ký là thể loại chiếm vị trí
quan trọng trong sáng tác của ông. Đọc các hồi ký của Tô Hoài, ta mới thấy hết cảm
quan nghệ thuật và công phu chữ nghĩa của nhà văn. Tô Hoài quan niệm sáng tạo
văn chương là thứ lao động nghiêm túc, đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm cao. Có
được quan niệm đó, bởi vì, ông sống rất kĩ lưỡng với đời sống quanh mình, từ
chuyện riêng tư đến chuyện bạn bè, chuyện làm nghề đến những công việc cách
mạng, chuyện gì cũng đưa vào hồi ký để trở thành văn chương. Ông cũng hết sức
kỹ lưỡng trong lựa chọn và sử dụng ngôn từ để đụng đâu cũng ra văn, một thứ văn
của một bậc thầy tiếng Việt. Cho nên, nghiên cứu văn chương của Tô Hoài thì hồi
ký của ông có lẽ đó là một đối tượng cần được quan tâm hàng đầu.
1.3. Đối với thể loại hồi ký, trần thuật là phương thức đặc trưng. Vì vậy,
nghiên cứu về hồi ký của Tô Hoài, không thể không tìm hiểu nghệ thuật ngôn ngữ
của ông, đặc biệt là ngôn ngữ trần thuật. Sự tìm tòi, sáng tạo trong nghệ thuật hồi ký
của Tô Hoài chủ yếu thuộc lĩnh vực ngôn từ. Mạch văn, cách dùng chữ của ông có
một lối đi riêng, tạo nên một tiếng nói, một cách nhìn, một cá tính độc đáo. Trong
khả năng vận dụng ngôn ngữ ấy thì lời văn trần thuật giữ vai trò chủ đạo.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đi sâu tìm hiểu Ngôn ngữ trần thuật

3.2. Phạm vi khảo sát và nghiên cứu
- Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Các tác phẩm hồi ký của Tô Hoài bao gồm:
+ Cỏ dại (1944);
+ Tự truyện (1978);
+ Những gương mặt (1988);
+ Cát bụi chân ai (1992);


3
+ Chiều chiều (1999).
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ giới hạn ở việc khảo sát từ ngữ và câu
trong ngôn ngữ trần thuật hồi ký Tô Hoài.
4. Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp và thủ
pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn là phương pháp chủ đạo để phân tích ngôn
ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài gồm cách sử dụng từ ngữ, trường nghĩa, câu và
biện pháp tu từ cú pháp.
4.2. Phương pháp miêu tả
Dựa vào số lượng các loại từ và câu trong ngôn ngữ trần thuật của hồi ký Tô
Hoài được thống kê, phân loại, luận án đi sâu vào miêu tả đặc điểm về ngữ nghĩa,
các nhân tố chi phối đến sự hành chức của ngôn ngữ trần thuật. Các nhận định, đánh
giá được luận án rút ra đều dựa trên sự miêu tả, phân tích số liệu cụ thể. Tần số lặp
lại cao hay thấp của số liệu thống kê là cơ sở quan trọng phản ánh tính quy luật của
đối tượng, giúp chúng tôi chỉ ra và lý giải những đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong
hồi ký của ông.
4.3. Thủ pháp thống kê phân loại
Luận án thống kê các lớp từ ngữ về cấu tạo và một số lớp từ ngữ về phong
cách, các trường nghĩa nổi bật, câu và các biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ trần thuật
Ngôn ngữ trần thuật (tiếng Anh: narrative discourse, tiếng Pháp: Discours
naratif) là một khái niệm hết sức trừu tượng, phức tạp, liên quan đến rất nhiều yếu
tố trong việc trần thuật. Nếu đứng từ góc độ khác nhau (từ Ngôn ngữ học, Văn học,
Tự sự học, hay Văn bản học,…) để tiếp cận ngôn ngữ trần thuật thì sẽ có những
đánh giá và nhận xét khác nhau về yếu tố nội hàm, ngoại diên, cấu thành hay vai trò
của nó. Tuy nhiên, trong các tài liệu chúng tôi tham khảo, các tác giả không ai đưa
ra định nghĩa cụ thể về ngôn ngữ trần thuật. Bắt đầu những năm 80 của thế kỷ XX,
khái niệm ngôn ngữ trần thuật được nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và bàn luận từ nhiều khía cạnh khác nhau với nội dung ngày một phong phú hơn.
1.1.1.1. Trên thế giới
Việc nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên
thế giới quan tâm như: Lý luận tự sự đương đại (Recent Theories of Narrative) của
Wallace Martin (1986) [208 ], Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (Introduction
to the Structural Analysis of Narratives) của Roland Barthes (1977) [196], Ngôn
ngữ trần thuật - ngôn ngữ trần thuật mới (Narrative Discourse - New Narrative
Discourse) của G.Genette (1986) [203], Trần thuật học: Dẫn luận lý luận tự sự
(Narratology: Introduction to the Theory of Narrative) của Mieke Bal (1985, 1997)
[195], Lý luận tự sự của hậu hiện đại (Postmodern Narrative Theory) của Mark
Curre (1998) [202], Hướng dẫn lý luận tự sự đương đại (A Companion to Narative
Theory) do James Phelan và Peter J. Rabinnowitz chủ biên (2005) [210],... Mỗi tác
giả nghiên cứu một phương diện khác nhau của lý thuyết ngôn ngữ trần thuật.
G.Genette trong cuốn Ngôn ngữ trần thuật - Tân diễn ngôn trần thuật đã khu
biệt ba hàm nghĩa của tự sự, định nghĩa ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật.
Đồng thời, G.Genette cũng đã vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học của F.de Saussure
để giải thích truyện kể, tự sự và trần thuật. Ông cho rằng tất cả những hành động


(2004) [151], Những vấn đề thi pháp truyện của Nguyễn Thái Hòa (2000) [78],
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại của Thái Phan Vàng


7
Anh [2], Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Hoàng Dĩ
Đình (2014) [45],...
Trong công trình Những vấn đề thi pháp truyện, Nguyễn Thái Hòa [78] đã
khảo sát và nghiên cứu những yếu tố quan trọng trong truyện là lời kể, lời thoại,
không gian, thời gian và giọng văn từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.
Cũng nghiên cứu về thời gian trong tác phẩm văn học, Lê Thị Tuyết Hạnh đã
khẳng định vai trò quan trọng của thời gian trong các yếu tố cấu trúc nên một văn bản
tự sự của văn học. Trong công trình, tác giả đi sâu khảo sát quan hệ giữa thời gian với
sự kiện cũng như thời gian với tâm lý nhân vật. Thời gian được xem như là một trung
tâm trong việc tổ chức một tác phẩm văn học. Tác giả quan niệm rằng, thời gian có
“chức năng như một thủ pháp, một tín hiệu có giá trị nghệ thuật riêng” [67].
Trong Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Hoàng Dĩ
Đình cũng đã giới thuyết và đưa ra các quan niệm về trần thuật và ngôn ngữ trần
thuật. Theo tác giả, ngôn ngữ trần thuật là hành động kể của từng cá nhân, là hành
động cá nhân về ý chí, trí tuệ, mang tính chất dị biệt. Ngôn ngữ trần thuật là tất cả
những hình thức ngôn ngữ dùng trong việc trần thuật [45].
Qua những ý kiến trên, chúng tôi thấy trần thuật, ngôn ngữ trần thuật là
những phạm trù mỹ học cơ bản của tự sự học. Trần thuật là kể lại, thuật lại câu
chuyện, sự việc, sự tình, biến cố của con người/ nhân vật theo diễn trình thời gian.
Nói đến trần thuật là nói đến người thuật (kể) và lời kể (ngôn ngữ trần thuật).
1.1.2. Nghiên cứu về hồi ký
Thuật ngữ hồi ký (tiếng Latinh: Memoria; tiếng Anh Memoir; tiếng Pháp
Mémoires) ra đời muộn nhưng tiền thân của hồi ký vốn xuất hiện từ rất sớm. Qua
tiến trình lịch sử, đến nay hồi ký đã hiện diện với tính chất một thể tài có vị trí quan
trọng trong đời sống văn học. Hồi ký là thể tài phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở

ký thường dựa trên các sự kiện đã xảy ra vào thời gian nào đó “về các sự kiện này,
hoặc là chúng được kể lại một cách không thỏa đáng, hoặc chúng được tác giả lựa
chọn một cách thiếu kinh nghiệm, dù sao bạn cũng có thể biết được các tập tục của
thế kỷ, với những gì đã xảy ra trong thế giới khi đó” [221, tr.326]. Như vậy, chính
Belinsky và Chernyshevsky ngay trong thế kỷ XIX đã xác định rằng các cuốn hồi
ký của các nhà văn cũng có những chất lượng nhu các tác phẩm văn học khác: trong
đó có sự điển hình hóa thực tế, có quan điểm lịch sử đối với những sự kiện được
miêu tả và sự lựa chọn các sự kiện. Sự đặc biệt của chúng được quy định bởi quan
điểm cá nhân đối với những sự kiện được miêu tả, khả năng thể hiện dưới hình thức


9
cá nhân những sự kiện đã trải qua và đã nhìn thấy. Những ý kiến của các nhà phê
bình đã xác định vị trí của các cuốn hồi ký trong tiến trình văn học. Nhưng chính
mức độ phát triển của phê bình văn học, sự ưu thế của phương pháp tiếp cận lịch sử
đã dẫn đến việc trong hầu hết các công trình, các vấn đề về phân loại các thể loại
chưa được xem xét một cách đầy đủ.
Cuối thế kỷ XIX, quan điểm của Ts. Volpe trong cuốn Nghệ thuật của sự
khác biệt, đã xem thể loại hồi ký như một hiện tượng văn học được hình thành và
chỉ ra rằng hồi ký là một thành phần có đầy đủ thẩm quyền trong tiến trình văn học.
Volpe lần đầu tiên đặt câu hỏi về vai trò của phương pháp hồi ký trong sáng tác của
các nhà văn các trào lưu khác nhau như B.Lifshits và A.Bely, M.Zoschenko và A.
Grin [221]. Tuy nhiên, vì những điều kiện khách quan (sự đàn áp của những năm ba
mươi và các hiện tượng chiến tranh) mà các kết luận của Volpe chỉ được sử dụng
trong nghiên cứu văn học vào những năm chín mươi.
Vào thế kỷ XX, khi lưu ý rằng văn xuôi hồi ký là một hiện tượng nghệ thuật
toàn vẹn, Kuznetsov chỉ ra rằng “các vấn đề được đặt ra trong đó nằm ở chính trung
tâm của những quyền lợi tinh thần của hiện tại” [220, tr.147]. Mặc dù tác giả không
nói về các cuốn hồi ký như một thể loại nhưng ông phân ra các dạng riêng (truyện
hồi ký, tiểu thuyết hồi ký, sử thi hồi ký). Trong công trình của M. Bilinkis, các cuốn

hồi ký của nhà văn.
1.1.2.2. Trong nước
So với các thể loại khác, hồi ký xuất hiện muộn. Ở Việt Nam những năm 30,
40 của thế kỷ XX, hồi ký mới xuất hiện và mãi những thập niên cuối thế kỷ XX mới
phát triển và đạt được những thành tựu như một thể loại độc lập. Nên hầu hết các
công trình lý luận - phê bình, các công trình văn học sử, đều dành sự quan tâm nhiều
hơn đến đặc điểm và thành tựu của thể loại ký - một mảng văn xuôi quan trọng của
mọi thời kỳ phát triển của văn học viết. Hồi ký thường chỉ được nhắc qua như một
tiểu loại giàu chất tự sự, và tất nhiên phải chịu sự chi phối từ những đặc điểm loại
hình của ký. Là một bộ phận của ký văn học, hồi ký văn học càng được thu hẹp trong
một phạm vi tác giả và tác phẩm. Mỗi tác giả lại chỉ có thể viết một số hồi ký với số
lượng tối đa vài cuốn. Một phần vì vậy nên chưa có nhiều công trình chuyên về hồi
ký. Đã có một số công trình nghiên cứu hoặc tập hợp những bài nghiên cứu về hồi ký
với tư cách là một thể loại của ký trong đó có đề cập đến khái niệm thể loại. Đáng
chú ý là tác giả Hà Minh Đức trong cuốn Lý luận văn học [49]; tác giả Phương Lựu


11
trong cuốn Lý luận văn học [110];… Trong cuốn Lý luận văn học Phương Lựu đã
quan niệm “loại hồi ký với đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc kể
lại những sự việc trong quá khứ. Hồi ký có thể nặng về người hay việc, có thể kết cấu
theo dạng kết cấu - cốt truyện hoặc kết cấu - liên tưởng [110, tr.436]. Hà Minh Đức
trong cuốn Lý luận văn học đã tiếp tục giới thuyết về hồi ký. Hà Minh Đức định
nghĩa: “Hồi ký là một thể văn quan trọng”; “đối tượng miêu tả của hồi ký thường là
những nhân vật xuất sắc trong lịch sử như cuộc đời của những nhà hoạt động chính
trị, các anh hùng chiến sĩ nhiều kì công, kì tích, trong nhiều vấn đề không chỉ giới hạn
ở phạm vi trên mà thực ra cuộc đời của mỗi con người đều có thể ghi lại thành hồi ký
với điều kiện là những trang viết đó có ý nghĩa xã hội quan trọng gợi lên được những
nhận thức chung có ích cho mọi người” [49, tr.230]. Trong tài liệu này, hồi ký của
các nhà văn được đánh giá là những những tác phẩm có sức hấp dẫn. Các tác giả đã

Năm cuốn hồi ký Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Những gương mặt, Tự truyện, Cỏ
dại là những tác phẩm tiêu biểu minh chứng cho phong cách viết hồi ký của tác giả.
1.1.3. Nghiên cứu chung về phong cách nghệ thuật hồi ký Tô Hoài
1.1.3.1. Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật
Tô Hoài là một gương mặt tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại, một
nhà văn lớn, có đóng góp đối với nhiều thể loại văn học khác nhau. Trên những
trang viết của mình, ông luôn để lại những dấu ấn riêng, có dấu “vân tay” in trên
chữ, có “một giọng điệu riêng, một cách nói riêng” (Phong Lê). Các trang viết với
giọng điệu và cách thể hiện riêng ấy đã đem đến cho Tô Hoài một phong cách nghệ
thuật đặc sắc. Hơn nữa, ông sáng tác trong thời gian dài, đồ sộ về số lượng tác
phẩm, phong phú về thể loại, lại có những đóng góp lớn cho quá trình phát triển nền
văn học dân tộc ta nên đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và quan tâm tới. Cho
đến nay đã có một số lượng không nhỏ những chuyên luận, phê bình nghiên cứu ở
những mức độ khác nhau về phong cách nghệ thuật, tác phẩm, con người tác giả,
trong đó, có không ít ý kiến đánh giá về phong cách hồi ký của ông.
Về phong cách nghệ thuật hồi ký Tô Hoài, đã có rất nhiều bài viết trên các
tạp chí, những tham luận, luận văn, luận án, chuyên khảo đánh giá, nghiên cứu về
mảng sáng tác này. Ngay từ tác phẩm hồi ký đầu tiên Cỏ dại xuất bản năm 1943 cho
tới Chiều chiều xuất bản năm1997, hành trình nghiên cứu về hồi ký Tô Hoài luôn
song song với hành trình sáng tạo của nhà văn và ngày càng có nhiều công trình giá
trị. Chúng ta có thể chia các nghiên cứu này thành 3 hướng:


13
- Nghiên cứu, thảo luận về phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của
Tô Hoài trong đó có nhắc đến hồi ký của ông. Đó là, các công trình của Nguyễn
Đăng Mạnh [113], [114]; Hà Minh Đức [48], [50]; Trần Hữu Tá [153]; Trần Đình
Nam [118]; Phong Lê [99], [100]; Nguyễn Văn Long [107]; Nguyễn Đăng Điệp [44];
Mai Thị Nhung [130], v.v.. Trong khi nghiên cứu về phong cách nghệ thuật, về quan
niệm nghệ thuật tác phẩm Tô Hoài, nhiều tác giả trong các công trình của mình đã có



16
Các công trình đứng từ góc độ ngôn ngữ học để nghiên cứu về hồi ký Tô
Hoài, cho đến nay chưa có nhiều và chủ yếu là khóa luận, luận văn ở các trường
đại học. Một số bài viết của các nhà nghiên cứu tuy có quan tâm đến đặc điểm
ngôn ngữ trong hồi ký của ông, nhưng cho đến thời điểm này, chưa có một công
trình khoa học nào nghiên cứu một cách công phu, độc lập, toàn diện và có hệ
thống. Đặc biệt, vấn đề ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài, chưa được tác
giả nào quan tâm, nghiên cứu. Chúng tôi mới chỉ bắt gặp một số tiểu luận, một ít
bài giới thiệu, đánh giá về từng mảng sáng tác hay riêng về từng tác phẩm xuất
sắc của Tô Hoài như: Bài báo Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài [168],
Lê Thị Thủy có bàn đến đặc điểm ngôn ngữ người kể chuyện, sự kết hợp giữa
ngôn ngữ tả và kể, ngôn ngữ nhân vật,... Luận văn thạc sĩ của Trần Đình Thọ
[166] nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài nhưng chỉ ở hai tác
phẩm là Cát bụi chân ai và Chiều chiều. Trong luận văn này, tác giả cũng lấy từ
ngữ, câu văn và giọng điệu làm đối tượng nghiên cứu, nhưng chú ý hình thức cấu
trúc văn bản để làm nổi rõ sự đa dạng, phong phú, tính phức điệu của giọng điệu
trần thuật.
Điểm lại những bài viết, công trình nghiên cứu về hồi ký Tô Hoài trên đây,
chúng tôi nhận thấy khi nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài, các tác giả
mới chỉ nêu một số đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật, phân tích đặc điểm ngôn ngữ
chủ yếu là ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật mà chưa khảo sát, phân tích
những đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong các sáng tác của Tô Hoài một cách hệ
thống, kỹ lưỡng, toàn diện; chưa đi sâu nghiên cứu phương thức tổ chức ngôn từ
trong lời văn, chưa chỉ ra rõ nét quá trình vận động của ngôn từ qua các giai đoạn
sáng tác của Tô Hoài qua thể hồi kí; việc lý giải đặc điểm ngôn từ, phương thức tổ
chức ngôn từ chủ yếu xuất phát từ quan niệm nghệ thuật, chưa chú ý nhiều đến
mối quan hệ giữa sáng tạo ngôn từ và quan niệm về ngôn từ nghệ thuật của nhà
văn. Tuy vậy, những ý kiến đánh giá, những bài viết của các tác giả đi trước là

Nói một cách khác, ngôn ngữ trần thuật là tất cả những hình thức ngôn ngữ
dùng trong việc kể/thuật về một sự kiện cụ thể (trong đó có thể có nhân vật tham gia
vào sự kiện, cũng có thể không), và diễn đạt những quan điểm, đánh giá, nhận xét,
miêu tả của người trần thuật đối với đối tượng mà mình đang kể.
Như trên đã nói, trần thuật là phần lời của tác giả, của người trần thuật. Ngôn
ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn,
thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện đối với cuộc
sống được miêu tả.


18
Ngôn ngữ trần thuật giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống phương
thức tự sự; nó là sự thể hiện trên nền hiện thực toàn bộ tư tưởng, tình cảm của nhà
văn, giọng điệu và cấu trúc tác phẩm. Qua ngôn ngữ trần thuật, người đọc nhận ra
phong cách, cá tính của tác giả. Đối với nhà văn, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
là sự khúc xạ của ngôn ngữ đời sống. Song đây là thứ ngôn ngữ đã được lựa chọn,
được sắp xếp và được cách điệu hóa theo ý muốn chủ quan của nhà văn. Ngôn ngữ
trần thuật (lời người kể chuyện) là phần lời độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay
quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống, có những nguyên tắc thống nhất
trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ.
Chẳng hạn, thu hẹp khoảng cánh giữa chuyện kể và những “chuyện” của hiện thực,
ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại trở nên gần với ngôn ngữ đời
sống. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn không còn là lời nói quyền uy, cao
đạo. Có lời trần thuật dân dã trong truyện ngắn Nguyễn Khải (cười thắt ruột, ăn nói
quá quân trộm cướp...),... Có kiểu phát ngôn trần trụi, không gọt dũa của thứ ngôn
ngữ “chợ búa” ở Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp),... Hay, chịu ảnh hưởng của
ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ trần thuật bộc lộ khá rõ ngôn ngữ vùng miền. Phương
ngữ được sử dụng có chủ ý chứ không chỉ thuần túy do chất giọng “bản địa” của
nhà văn. Người trần thuật không những “tải” nội dung truyện kể mà còn “chuyển”
những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ. Có vẻ đẹp bình dị của vùng sông

ấn văn hóa riêng của từng lớp người như trí thức tiểu tư sản, nông dân, người buôn
bán. Lời trực tiếp này, có lúc được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ bên ngoài - ngôn ngữ
thành tiếng, có lúc dưới dạng ngôn ngữ bên trong - ngôn ngữ không thành tiếng. Dù
tồn tại dưới dạng nào, hoặc được thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân vật bao giờ
cũng phải bảo đảm sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái quát. Nghĩa là,
một mặt, mỗi nhân vật có ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có lời ăn tiếng nói riêng;
mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc điểm về nghề nghiệp, tâm lý, giai cấp,
trình độ văn hóa của một tầng lớp người nhất định trong xã hội.
Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của người kể chuyện, kể lại những diễn
biến của câu chuyện. Hình thức trần thuật là một phương diện cơ bản của phương
thức tự sự để giới thiệu, khái quát, thuyết minh miêu tả đối với nhân vật. Tiêu chí
phân biệt ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật trước hết chính là điểm này.
Nếu ngôn ngữ nhân vật là lời trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm thì ngôn
ngữ trần thuật là những lời gián tiếp. Về mặt hình thức, ngôn ngữ nhân vật sử dụng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status