LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC: ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ CƠ KHÍ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGỌC ĐỨC

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ CƠ KHÍ
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hùng Việt

HÀ NỘI -2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận án tiến sĩ “Đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong
tiếng Anh và tiếng Việt” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của riêng
tôi.
Các số liệu được sử dụng trong luận án hoàn toàn được thu thập từ thực
tế, chính xác, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực khách
quan, chưa từng được ai công bố ở đâu và trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án

Trần Ngọc Đức


ĐH

: Đại học

ĐHQG

: Đại học Quốc gia

KHXH

: Khoa học xã hội

H

: Hà Nội

HCM

: Hồ Chí Minh

Nxb

: Nhà xuất bản

T

: Thành tố

THCN


1.2.4. Đơn vị cấu tạo thuật ngữ ........................................................................ 38
1.2.5. Khái quát về cơ khí và thuật ngữ cơ khí ................................................ 40
1.3. Về nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ ........................................................ 45
1.4. Tiểu kết ..................................................................................................... 48
CHƢƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ
CƠ KHÍ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT ........................................ 51
2.1. Đặc điểm về phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh
và tiếng Việt ................................................................................................... 52
2.1.1. Phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh .................................. 52
2.1.2. Phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Việt .................................. 56
2.2. Đặc điểm số lƣợng thành tố cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và
tiếng Việt ......................................................................................................... 59
2.3. Đặc điểm về từ loại của thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt ..... 60
2.3.1. Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo một thành tố ............................................. 60
2.3.2. Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo hai thành tố ............................................... 63
2.3.3. Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo ba thành tố ................................................ 69
iii


2.3.4. Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo bốn thành tố .............................................. 75
2.3.5. Thuật ngữ cơ khí là từ viết tắt .............................................................. 76
2.4. Đặc điểm về mô hình cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt .....77
2.4.1. Mô hình cấu tạo 1................................................................................... 77
2.4.2. Mô hình cấu tạo 2................................................................................... 78
2.4.3. Mô hình cấu tạo 3................................................................................... 79
2.4.4. Mô hình cấu tạo 4: ................................................................................. 79
2.4.5. Mô hình cấu tạo 5................................................................................... 80
2.4.6. Mô hình cấu tạo 6................................................................................... 81
2.4.7. Mô hình cấu tạo 7................................................................................... 81
2.4.8. Mô hình cấu tạo 8................................................................................... 82

thuật ngữ cơ khí tiếng Việt .......................................................................... 132
3.5. Tiểu kết ................................................................................................... 137
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 145
PHỤ LỤC 1 ....................................................................................................... 156
PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................... 183
PHỤ LỤC 3 ....................................................................................................... 211

v


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phương thức cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt ................. 58
Bảng 2.2: Thành tố cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt ....................... 59
Bảng 2.3: TNCK tiếng Anh có cấu tạo một thành tố .................................. 61
Bảng 2.4: TNCK tiếng Việt có cấu tạo một thành tố .................................. 63
Bảng 2.5: TNCK tiếng Anh có cấu tạo hai thành tố ................................... 67
Bảng 2.6: TNCK tiếng Việt có cấu tạo hai thành tố ................................... 68
Bảng 2.7: TNCK tiếng Anh có cấu tạo ba thành tố .................................... 70
Bảng 2.8: TNCK tiếng Việt có cấu tạo ba thành tố .................................... 74
Bảng 2.9: TNCK tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo bốn thành tố ............. 76
Bảng 2.10: Tổng hợp mô hình cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và
tiếng Việt ......................................................................................... 87
Bảng 3.1: Mô hình định danh TNCK chỉ cơ học trong tiếng Anh và
tiếng Việt ....................................................................................... 104
Bảng 3.2: Mô hình định danh TNCK chỉ vật liệu trong tiếng Anh và
tiếng Việt ....................................................................................... 109
Bảng 3.3: Mô hình định danh TNCK chỉ máy và dụng cụ trong tiếng
Anh và tiếng Việt ........................................................................... 113
Bảng 3.4: Mô hình định danh TNCK chỉ công nghệ chế tạo trong

khí nói chung là phải dựa vào thuật ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp,
v.v… Chính vì vậy, việc khảo sát, so sánh sự tương đồng và dị biệt về đặc
điểm cấu tạo thuật ngữ, đặc điểm định danh của thuật ngữ và vấn đề chuẩn
hóa TNCK nhằm giúp ích cho việc nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ
trong lĩnh vực chuyên ngành cơ khí, biên soạn từ điển đối dịch và từ điển giải
thích chuyên ngành là một công việc cần thiết và cấp bách, cần phải được
triển khai nghiên cứu.

1


Gần 20 năm công tác và giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cơ khí tại
trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, chúng tôi nhận thấy việc giảng dạy tiếng
Anh chuyên ngành như thế nào để giúp cho người học có thể nắm bắt và sử
dụng thuật ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ chuyên ngành cơ khí
nói riêng một cách chính xác là rất quan trọng. Vì việc sử dụng chính xác
thuật ngữ chuyên ngành không chỉ giúp cho người học có thể tìm hiểu chuyên
sâu hơn về lĩnh vực chuyên môn của mình thông qua đọc hiểu thêm nhiều tài
liệu chuyên môn trên các website, các trang mạng xã hội, các trang mạng tìm
kiếm, tạp chí bằng tiếng Anh mà còn có cơ hội tham gia các cuộc hội thảo,
báo cáo khoa học, trao đổi chuyên môn quốc tế. Đây là một vấn đề lớn luôn
làm chúng tôi trăn trở.
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu cả trong nước và ngoài
nước đi sâu phân tích những sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Anh với tiếng
Việt về nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, số lượng các công trình, bài nghiên cứu liên
quan đến thuật ngữ chuyên ngành vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, những công trình
nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu TNCK trong hai ngôn
ngữ tiếng Anh và tiếng Việt chưa có. Cho nên việc đối chiếu TNCK trong tiếng
Anh và tiếng Việt về hai phương diện đặc điểm cấu tạo thuật ngữ và đặc điểm
định danh của thuật ngữ là một việc làm hữu ích và cần thiết.

3.1. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là 1927 TNCK tiếng Anh và 1927
TNCK tiếng Việt tương ứng được tổng hợp, thu thập dựa theo tiêu chí của
thuật ngữ từ quyển Từ điển cơ khí Anh-Việt, Nguyễn Hạnh, Nxb. Từ điển
Bách khoa (2006). Các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong
lĩnh vực cơ khí, bao gồm: cơ học, vật liệu, máy và dụng cụ, công nghệ chế
tạo, chủ thể, an toàn và môi trường công nghiệp. Tên riêng của các cơ quan,
tổ chức, tên các nhân vật lịch sử liên quan đến cơ khí không nằm trong phạm
vị nghiên cứu của luận án.
3


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để chọn và thu thập được đúng các thuật ngữ thuộc đối tượng nghiên
cứu của luận án, cần phân biệt chuyên ngành cơ khí với một số lĩnh vực có
liên quan. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ngoài các thuật ngữ của riêng
chuyên ngành cơ khí, còn rất nhiều thuật ngữ được dùng trong nhiều ngành
khoa học khác có liên quan (công nghệ thông tin, điện, điện tử, động lực, hóa
học, v.v…). Bên cạnh đó, nhiều TNCK tiếng Anh khi được chuyển dịch sang
thuật ngữ tiếng Việt có hình thức miêu tả, giải thích hoặc chưa rõ ràng về
nghĩa. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án này chỉ là những thuật ngữ
điển hình có đặc thù riêng biệt trong lĩnh vực ngành cơ khí. Đối với những
TNCK tiếng Anh có nhiều cách dịch sang tiếng Việt tạo thành những thuật
ngữ đồng nghĩa thì luận án chỉ chọn TNCK tiếng Việt tương đương đầu tiên
trong từ điển, vì đây là thuật ngữ tiếng Việt đã được người dịch coi là chuẩn
xác hơn cả trong số các thuật ngữ đồng nghĩa. Dựa theo cơ sở đó, trong tổng
số hơn 2000 thuật ngữ được thu thập, khảo sát trong cuốn từ điển Từ điển cơ
khí Anh-Việt, Nguyễn Hạnh, Nxb Từ điển Bách khoa (2006), chúng tôi lựa
chọn được 1927 TNCK tiếng Anh và 1927 TNCK tiếng Việt tương đương để
phân tích, đối chiếu.

- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này giúp xác định các yếu tố tạo nên thuật ngữ thông qua
việc phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp. Từ đó tìm ra các
nguyên tắc cơ sở tạo thành TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác định các
mô hình và các quy tắc cấu tạo.
- Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để chúng tôi tính toán tần số xuất hiện và
tần số sử dụng của các thuật ngữ, từ đó có được các số liệu cụ thể làm cơ sở
xác thực cho những kết luận trong quá trình nghiên cứu. Kết quả thống kê
được trình bày thành các bảng biểu, các con số thông qua các mô hình hay tỉ
5


lệ phần trăm. Những kết quả thu được giúp xác định các đặc trưng cơ bản về
cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa, v.v… của TNCK tiếng Anh, tiếng
Việt. Kết quả số liệu thống kê được sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu,
đối chiếu TNCK trong hai thứ tiếng.
5. Cái mới của luận án
Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu
TNCK tiếng Anh với tiếng Việt trên phương diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm
định danh.
Luận án chỉ ra hiện trạng của TNCK tiếng Việt nhìn từ đặc điểm cấu tạo
và đặc điểm định danh trong sự so sánh, đối chiếu với TNCK tiếng Anh; cung
cấp những thành tố từ vựng để cấu tạo hệ TNCK, các mô hình điển hình để
cấu tạo TNCK nhờ đó tạo nên tính hệ thống về cấu trúc của TNCK trong
tiếng Anh và tiếng Việt; làm rõ những phương thức xây dựng TNCK trong
hai thứ tiếng, tính có lý do của các thuật ngữ này dựa trên các đặc trưng khu
biệt cơ bản lựa chọn làm cơ sở định danh trong quá trình tạo ra TNCK.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án có thể là cơ sở để đề xuất phương
hướng, biện pháp xây dựng và chuẩn hóa TNCK tiếng Việt.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận.
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ nói
chung, TNCK nói riêng ở trong nước và trên thế giới; Những cơ sở lý luận có
liên quan để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra. Một số vấn đề cơ
bản về nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ cũng được đề cập trong chương này.
Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ cơ khí trong tiếng
Anh và tiếng Việt.
Chương này trình bày các phương thức cấu tạo TNCK trong tiếng Anh
và tiếng Việt; đặc điểm của thành tố cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt;
đối chiếu TNCK trên các bình diện: số lượng thành tố cấu tạo, đặc điểm từ
loại, mô hình cấu tạo của TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt.
7


Chương 3: Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ cơ khí trong
tiếng Anh và tiếng Việt.
Chương này trình bày vấn đề nguyên lý về định danh, các phương thức
cụ thể tạo nên TNCK; đối chiếu đặc điểm định danh của TNCK trong tiếng
Anh và tiếng Việt theo các tham tố: kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ, cách thức
biểu thị của thuật ngữ; đối chiếu mô hình định danh của TNCK theo mức độ
rõ lý do và mức độ cố kết về hình thức, theo đặc trưng khu biệt làm cơ sở
định danh. Ngoài ra, chương này cũng đề cập khái quát cơ sở lý luận về
chuyển dịch, thực trạng chuyển dịch TNCK ở Việt Nam và một số đề xuất,
phương hướng trong việc xây dựng và chuẩn hóa TNCK tiếng Việt.

8


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

coi là nền tảng cơ bản cho sự phát triển lâu dài của ngành khoa học thuật ngữ
trên diện rộng. Toàn bộ quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong
vòng một thế kỷ qua đã được Auger (1998) tổng kết thành ba xu hướng
nghiên cứu chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với
hệ thống ngôn ngữ; thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật
ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ (dẫn theo [101,
4]). Dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hướng nghiên cứu thuật ngữ
theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ bởi vì chúng liên quan trực
tiếp đến đề tài luận án.
Ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ lớn và tiêu biểu nhất trên thế giới
đó là Áo, Liên Xô và Cộng hòa Séc. Đây cũng chính là cái nôi của khoa học
thuật ngữ, tập trung các hướng nghiên cứu thuật ngữ nhằm có sự điều chỉnh
phù hợp với hệ thống ngôn ngữ chung.
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của
E.Wuster (1898-1977). Ông chính là người đầu tiên thiết lập các phương
pháp nghiên cứu thuật ngữ và định hướng phát triển công tác nghiên cứu thuật
ngữ hiện đại ở thế kỉ 20. Nhiều nhà tác giả sau này chịu ảnh hưởng và tác
động lớn từ trường phái nghiên cứu của Wuster, và được thể hiện rõ đồng
quan điểm trong các công trình nghiên cứu thuật ngữ của họ. Các phương
pháp nghiên cứu thuật ngữ của Wuster cơ bản dựa theo một số nguyên tắc và
được đề cập chủ yếu trong tác phẩm Lý luận chung về thuật ngữ năm 1931.
Trong tác phẩm của mình (1931), ông đã đề cập đến những khía cạnh ngôn
ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi của
lĩnh vực kỹ thuật. Đáng chú ý là các tranh luận của ông về việc hệ thống hóa
các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng
thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lý ngữ liệu thuật
ngữ. Học giả Leo Weisgeber (1975) đã đánh giá công trình nghiên cứu của

10


11


gian đầu, trường phái này chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật
ngữ của của Wuster. Vì vậy giống với quan điểm của trường phái nghiên cứu
thuật ngữ Áo, trường phái thuật ngữ Xô Viết gần như chỉ tập trung nghiên
cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm, chuẩn hóa các thuật ngữ dựa trên cơ
sở những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của trường phái này.
Luận án của Wuster đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ngay sau khi
được dịch sang tiếng Nga. Có thể vì lý do đó, từ những những năm 1930 trở
đi, việc nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô có những bước phát triển mạnh mẽ
và đạt được những thành tựu to lớn:
“Về thuật ngữ học ở Nga, trong vòng một thế kỉ, đã xuất bản, công bố
hàng chục sách chuyên khảo, giáo trình, giáo khoa, hàng nghìn bài báo (gần
1600 bài báo), hàng nghìn từ điển (từ 1950 đến 1979 đã xuất bản 1650 từ điển
thuật ngữ). Nhiều hội nghị, hội thảo về những vấn đề lý luận, phương pháp
nghiên cứu và những hoạt động thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ được tổ
chức; hàng năm có nhiều luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ được bảo vệ ở các cơ sở
nghiên cứu, các trường đại học trong cả nước. Nhiều công trình nghiên cứu về
thuật ngữ học của các tác giả người Nga được dịch và xuất bản ở nước ngoài”
[56, 21].
Tác giả Lotte (1898 – 1950), đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên
cứu thuật ngữ Xô viết, được xem là người đứng đầu trong công tác phát triển
hệ thuật ngữ hiện đại của Nga với công trình nghiên cứu quan trọng Những
vấn đề gây bức xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kĩ thuật. Theo nhận
định của Kulebakin (1993), Lotte là một trong những nhà nghiên cứu có ảnh
hưởng lớn trong công tác xây dựng và phát triển cơ sở lý thuyết về thuật ngữ
hiện đại. Lotte cũng là người đặt nền móng về phương pháp trong công tác
nghiên cứu về thuật ngữ của Liên Xô. Kulebakin (1993, tr.129) tóm tắt quan
điểm của Lotte theo các ý cơ bản sau: “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ

ngành khoa học đều đã có thuật ngữ dùng cho ngành mình. Nhiều cuốn từ
điển thuật ngữ chuyên ngành dưới hình thức giải thích và đối chiếu với một
hoặc vài ngôn ngữ nước ngoài đã được xuất bản, được sử dụng rộng rãi, trở
13


thành công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và
truyền bá khoa học đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân.
Thuật ngữ khoa học ra đời trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh
của con người, trong quá trình khám phá tự nhiên và xã hội, trong quá trình
thực nghiệm, khoa học… nhằm ghi lại và củng cố những kết quả nghiên cứu,
những khái niệm, củng cố những nhận thức của con người về sự vật, hiện
tượng, đối tượng được khảo sát. Nhờ đó, thế hệ sau kế thừa được những kinh
nghiệm, tri thức của thế hệ trước. Xét như thế thì chức năng của thuật ngữ
không nằm ngoài chức năng của ngôn ngữ nói chung. Hệ thống thuật ngữ là
một lớp từ đặc biệt trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ văn học với những
đặc thù riêng về ngữ nghĩa và chức năng biểu đạt khái niệm. Hệ thống thuật
ngữ không tách biệt khỏi hệ thống từ vựng của ngôn ngữ văn học, bởi lẽ các
thuật ngữ đều được tạo thành từ những chất liệu, những yếu tố từ vựng của
ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với kết cấu ngữ pháp của ngôn ngữ dân tộc nên
chúng đi vào ngôn ngữ dân tộc một cách tự nhiên. Tuy nhiên, nói như vậy
không có nghĩa rằng chúng ta bài trừ, loại bỏ mọi sự vay mượn thuật ngữ
nước ngoài, ngay cả khi việc đó tỏ ra cần thiết và có lợi cho việc hoàn thiện
hệ thống thuật ngữ nói riêng và quá trình phát triển của hệ thống từ vựng của
ngôn ngữ nói chung. Nhưng để xây dựng cho được một hệ thống thuật ngữ
bằng tiếng mẹ đẻ không phải là một công việc đơn giản, không phải chỉ đơn
thuần dịch thuật ngữ nước ngoài ra tiếng nước mình, như nhiều người vẫn
nghĩ, mà đây là một công việc mang tính sáng tạo. Phải căn cứ vào đặc điểm
của ngôn ngữ dân tộc mà đặt ra thuật ngữ, sao cho những thuật ngữ đó, một
mặt, phải bảo đảm được tính khoa học, nhưng mặt khác, phải có tính dân tộc

dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt một cách tương đối có hệ thống. Chính
Hoàng Xuân Hãn cũng là người đầu tiên đưa ra ba phương thức xây dựng
thuật ngữ vào từ thông thường, phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu và mượn tiếng
Hán. Ông cũng đề ra tám yêu cầu cốt lõi trong việc xây dựng thuật ngữ khoa
học. Công trình nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về một số ngành khoa học
tự nhiên là cuốn từ điển đối chiếu Pháp - Việt Danh từ khoa học được Hoàng
Xuân Hãn hoàn thành vào năm 1948. “Điều quan trọng trong phần này là: ông
đã phân tích mặt hay – dở, tiện dụng – không tiện dụng đối với ngôn ngữ dân
15


tộc khi dùng các phương cách này và đi đến kết luận có tính chất chỉ dẫn rất
phù hợp với lý luận và thực tế tiếng Việt” [88, 195]. Tiếp sau công trình của
Hoàng Xuân Hãn, một số nhà tri thức cũng đã bắt đầu biên soạn những tập
thuật ngữ đối chiếu khác. Tiếp theo đó, một số học giả khác cũng bắt đầu biên
soạn những tập thuật ngữ đối chiếu khác. Chẳng hạn như Nguyễn Hữu Quán
và Lê Văn Can với tác phẩm Danh từ thực vật (Tủ sách nông học Việt Nam,
Thuận Hóa 1945); Đào Văn Tiến với tác phẩm Danh từ vạn vật học (do tổng
hội sinh viên cứu quốc xuất bản sau cách mạng tháng 8, Hà Nội, 1945); hay
các tác phẩm khác: Danh từ y học của Lê Khắc Thiên và Phạm Khắc Quảng
v.v... Sau khi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được
đẩy mạnh và phát triển trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu to lớn đã đạt được, công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở
nước ta không khỏi còn có những điểm phải hoàn thiện và thống nhất thêm.
Như vậy, giai đoạn 1930 – 1945, hệ thống thuật ngữ tiếng Việt đã hình
thành. Cách mạng tháng Tám đã trả lại cho tiếng Việt vị trí xứng đáng của nó.
Từ chỗ là ngôn ngữ của một dân tộc mất nước, tiếng Việt đã trở thành ngôn
ngữ chính thức của một nước độc lập, có chủ quyền. Tiếng Việt được sử dụng
rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, quân
sự, ngoại giao, v.v... Đặc biệt, tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ duy nhất ở

tắc chính nêu ra trong bản báo cáo. Về một số vấn đề cụ thể trong quy tắc
phiên âm thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt chưa được hoàn toàn nhất trí,
Hội nghị đã cử ra một ban để tiếp tục nghiên cứu. Ban này gồm các vị: Tạ
Quang Bửu, Nguyễn Thạc Cát, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Chiển, Lê Khả
Kế, Nguỵ Như Kontum (trưởng ban), Lưu Vân Lăng, Trương Công Quyền.
Căn cứ vào đề án của ban báo cáo và những góp ý ở các tham luận, Ban
này đã làm việc, bàn bạc tập thể và hoàn thành dự thảo đề án về Quy tắc
phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt. Đến tháng 5
– 1965 Uỷ ban Khoa học Nhà nước lại triệu tập một Hội nghị gồm khoảng
một trăm cán bộ khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau để Ban
nghiên cứu trình bày dự thảo đề án và trưng cầu thêm ý kiến. Sau khi tham
khảo ý kiến của các tham luận phát biểu trong Hội nghị ngày 14 và 21 – 5 –
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status