VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ MỸ HẠNH
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9229020
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Quang Năng
Hà Nội, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2019
Tác giả luận án
Lê Thị Mỹ Hạnh
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo khoa Ngôn ngữ học, Ban lãnh đạo
2.3. Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt cấu tạo .................................. 60
2.4. Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt từ loại ................................... 77
2.5. Thuật ngữ mĩ thuật xét về mặt nguồn gốc .................................................80
2.6. Nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 82
2.7. Phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ........................... 86
Tiểu kết chương 2.......................................................................................... 99
Chƣơng 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ ĐỊNH DANH CỦA THUẬT
NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT ............................................................... 102
3.1. Ý nghĩa của thuật ngữ .......................................................................... 102
3.2. Sự thể hiện ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ........................... 106
3.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ....................... 114
Tiểu kết chương 3........................................................................................ 140
KẾT LUẬN................................................................................................. 142
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ĐĐĐD
Đặc điểm định danh
MHCT
Mô hình cấu tạo
Nxb
76
ngữ mĩ thuật tiếng Việt
2.
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đặc điểm từ loại của thuật
79
ngữ mĩ thuật tiếng Việt
3.
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ mĩ
81
thuật tiếng Việt là từ
4.
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp nguồn gốc yếu tố cấu tạo
82
thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt là cụm từ
5.
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp phân bố số lượng TN mĩ thuật
83
của bất kì ngành khoa học, kĩ thuật nào đều cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng toàn
diện và hệ thống thuật ngữ đó. Đó là lí do vì sao hiện nay ở nước ta, trong địa
hạt thuật ngữ học, bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết về thuật ngữ
tiếng Việt, cũng có nhiều công trình nghiên cứu các hệ thuật ngữ của các
chuyên ngành cụ thể. Kết quả nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của các chuyên
ngành cụ thể sẽ góp phần thiết thực vào việc phát triển khoa học, kĩ thuật và
công nghệ của nước ta.
1
1.3. Mĩ thuật là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của
loài người. Mĩ thuật học là ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luận
của các loại hình nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc, đồ họa,... về các
phương diện như thể loại, chất liệu, hoạt động sáng tạo, đặc trưng ngôn ngữ,
các trường phái, xu hướng của các loại hình nghệ thuật kể trên. Đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về mĩ thuật ở nước ta từ nhiều phương diện khác
nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt chưa
được chú ý nghiên cứu, ngoài một số công trình từ điển được biên soạn trên
cơ sở dịch các thuật ngữ mĩ thuật nước ngoài, chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt về phương diện
lí thuyết.
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm cấu tạo và
ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ” cho công trình luận án của
mình. Luận án của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những đặc điểm cấu tạo,
nội dung ngữ nghĩa (bao gồm ý nghĩa và đặc điểm định danh), phương thức
tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng
ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
d. Tìm hiểu các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
4. Tƣ liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát của luận án là các thuật ngữ mĩ thuật rút từ các từ điển
thuật ngữ mĩ thuật và được thu thập từ những giáo trình mĩ thuật học, sách
báo, tạp chí về mĩ thuật bằng tiếng Việt. Cụ thể là:
- Thuật ngữ mĩ thuật Pháp - Việt, Việt - Pháp ( Viện Ngôn ngữ học,
Hà Nội, 1978);
- Từ điển mĩ thuật phổ thông (Đặng Thị Bích Ngân (chủ biên), Nxb.
Mĩ thuật, Hà Nội, 2000);
3
- Từ điển mĩ thuật (Lê Thanh Lộc biên soạn, Nxb. Văn hóa - Thông
tin, Hà Nội, 1998);
- Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học (Chu Quang Chứ, Phạm Thị
Chỉnh, Nguyễn Thái Lai, Nxb. Giáo dục, 1998);
- Các thể loại và loại hình mĩ thuật (Nguyễn Trân, Nxb. Mĩ thuật, Hà
Nội, 2005);
- Mĩ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb. Mĩ thuật, Hà Nội, 1996;
- Nghệ thuật học (Đỗ Văn Khang, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004);
- Điêu khắc (Nguyễn Thị Hiên, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008);
- Điêu khắc hiện đại Việt Nam, Nxb. Mĩ thuật, Hà Nội, 2000.
- Lịch sử mĩ thuật học (Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị chính, Nxb. Đại
học Sư phạm, Hà Nội, 2013);
- Lịch sử mĩ thuật Việt Nam (Phạm Thị Chính, Nxb. Đại học Sư
phạm, Hà Nội, 2010);
- Hình họa 1 (Triệu Khắc Lễ, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2004).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
thức tạo thành thuật ngữ, các MHCT, mô hình định danh thuật ngữ. Các kết
quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức của bảng biểu giúp hình dung
rõ hơn tổng thể diện mạo cấu tạo, định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
6. Ý nghĩa và đóng góp của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện phương diện cấu
tạo, nội dung ngữ nghĩa, các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng
Việt, luận án sẽ có những đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn như sau:
6.1. Ý nghĩa lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp thêm vào việc nghiên cứu lí
thuyết chung về thuật ngữ học, đồng thời chỉ ra được những đặc điểm riêng
về phương diện cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa ( ngữ nghĩa và định danh) và
phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
5
- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng cấu tạo các thuật
ngữ mĩ thuật mà tiếng Việt hiện chưa có;
- Là cơ sở để biên soạn từ điển giải thích thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, góp
phần vào việc nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực thuật ngữ học tiếng Việt.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình ngành mĩ thuật học và
giảng dạy ngành mĩ thuật học ở nước ta;
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3
chương được bố cục như sau:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo và phƣơng thức tạo thành thuật ngữ mĩ
nghiên cứu về thuật ngữ ở thời kì này đều tập trung vào nội dung tạo lập thuật
ngữ, xác định các nguyên tắc cho việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ riêng
cho từng ngành khoa học. Đi tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ
ở thời kì này là các nhà khoa học như: Carl von Linné (1736); Beckmann
(1780); A.L. Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy
7
(1789) và William Wehwell (1840). Carl von Linné (1707 - 1778) có thể
được coi là người xác lập công tác nghiên cứu thuật ngữ, trong đó gồm có
việc nêu quy tắc tạo thuật ngữ, xác định chuẩn mực của thuật ngữ và lập kế
hoạch xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học. Bởi vì chỉ từ khi tác phẩm
Fundamenta botanica (1736) của ông ra đời thì người ta mới có thể nói đến
một hệ thuật ngữ thực vật học được xác định theo quy tắc nhất định. Có đến
gần 1000 thuật ngữ đã được ông giải thích ý nghĩa và chỉ rõ cách sử dụng
chúng rất tỉ mỉ. Trong khi Linné dựa vào ngôn ngữ khoa học đang được sử
dụng ở châu Âu thời bấy giờ là tiếng Latinh để xây dựng thuật ngữ khoa học,
thì ngay từ giữa thế kỉ 18, M.V. Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ
lí - hoá riêng của tiếng Nga, trong đó ông sử dụng tối đa các thuật ngữ bằng
tiếng Nga và chỉ sử dụng các thuật ngữ ngoại lai khi không thể tìm ra các
tương đương trong tiếng Nga.
Thời kì này ở nước Pháp người ta cũng nỗ lực xây dựng hệ thuật ngữ
hoá học. A. L. Lavoisier, G. de Morveau, M. Berthellot và A. F. de Fourcroy
đã xây dựng được một hệ thuật ngữ gọi tên các chất hoá học trong công trình
Méthode de nomenclature chimique xuất bản năm 1787. Hệ thống thuật ngữ
này đã thể hiện rõ các mối quan hệ qua lại trong các kết hợp của các chất (ví
dụ ở các kết hợp với lưu huỳnh: sulphite, sulphate, sulphurate v.v.) để tạo ra
một hệ thuật ngữ thống nhất và bao quát được toàn bộ hệ thống tên gọi các
chất hóa học.
Trường phái thuật ngữ học của Tiệp Khắc với đại diện tiêu biểu là L.
Drodz, một trong những người khởi xướng và phát triển công tác nghiên cứu
thuật ngữ ở Tiệp Khắc từ cách tiếp cận ngôn ngữ học về mặt chức năng của
Trường phái ngôn ngữ học Praha. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của
trường phái này quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của
các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng. Theo
quan niệm của Trường phái ngôn ngữ học Praha, thì các ngôn ngữ chuyên
ngành mang đặc điểm của phong cách khoa học, tồn tại cùng với các loại
phong cách chức năng khác như phong cách chính luận, phong cách hành
chính - công vụ, phong cách văn học nghệ thuật và phong cách khẩu ngữ. Họ
xem thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên diện mạo của phong cách khoa
10
học. Mối quan tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ và
chuẩn hóa thuật ngữ.
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết
Theo tổng kết của các tác giả công trình "Thuật ngữ học - Những vấn đề
lí luận và thực tiễn" [84], sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga và Liên
Xô trải qua 4 thời kì.
- Thời kì chuẩn bị: Bắt đầu từ năm 1780 và kéo dài đến cuối thập niên 20
của thế kỉ 20. Đây là thời kì lựa chọn, xử lí sơ bộ các thuật ngữ và xác định
các khái niệm chuyên biệt liên quan. Sự bắt đầu thời kì này được đánh dấu
bằng việc dịch các thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học đầu tiên vào
năm 1780.
- Thời kì thứ nhất: từ năm 1930 đến năm 1960 của thế kỉ 20. Đặc điểm
cơ bản thời kì này là sự ra đời các lí thuyết về thuật ngữ học và những hoạt
động thực tiễn về thuật ngữ học trên nền tảng giáo dục kĩ thuật của hai chuyên
gia là D. S. Lotte và E.K.Drezen, cũng như những đóng góp lớn lao cuả A. A.
Tabanakova, V.A. Tatarinov, L.B. Tkacheva, N.I.Tolstoy, O.N. Trubachev,
N.V. Vasilieva, M.N. Volođina.
- Thời kì thứ ba là thập niên cuối cùng của thế kỉ 20. Đặc điểm của thời
kì này là việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khi
Liên Xô sụp đổ, với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội,
khoa học. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thuật ngữ học được đánh dấu
bằng sự khủng hoảng ở nửa đầu thập niên và những đổi mới ở nửa sau thập
niên cuối cùng của thế kỉ 20. Trong những thập niên đầu của thế kỉ 21, số
lượng các công trình nghiên cứu thuật ngữ ở Nga không ngừng tăng lên,
tập trung nghiên cứu những phương thức sáng tạo thuật ngữ, nguyên tắc
xây dựng các hệ thống thuật ngữ mới và chỉnh lí một số hệ thống thuật ngữ
đã có. Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung nghiên cứu thuật ngữ
theo hướng ngôn ngữ học tri nhận, như vấn đề tính đa dạng trong cách tri
nhận, trong sáng tạo thuật ngữ. Đã có nhiều công trình nghiên cứu thuật ngữ
theo hướng tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, như: "Cơ sở ngôn ngữ - tri
12
nhận của việc nghiên cứu thuật ngữ chuyên ngành", "Nghiên cứu từ vựng
chuyên ngành từ góc độ định danh - tri nhận (trên tư liêu tên gọi các cây
thuốc", "Mô hình hóa và cơ sở tri nhận hệ thống thuật ngữ bệnh học trong
tiếng Anh hiện đại", "Thuật ngữ học từ vựng là một hệ thống",v.v.[86]
Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên
cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học. Các nhà khoa học đều xem thuật ngữ
như là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn.
Vì vậy cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về thuật ngữ và những
nguyên lí xây dựng thuật ngữ mang tính phương pháp chi phối những ứng
dụng của thuật ngữ. Những thành tựu nghiên cứu thuật ngữ của các trường
phái này là một trong những động lực quan trọng cho việc phát triển những
về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học với sự tham gia nhiều cán bộ nghiên
cứu khoa học, giảng viên các trường đại học thuộc các ngành chuyên môn
khác nhau đã tới dự. Một bản Quy tắc phiên âm thuật ngữ khoa học nước
ngoài (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt đã được soạn thảo sau hội nghị. Bản Quy tắc
này đã góp phần đẩy công tác thuật ngữ lên một bước và một loạt gần 40 tập
thuật ngữ đối chiếu đã ra đời. Tuy vẫn còn những có những ý kiến khác nhau
trong vấn đề bàn về các tiêu chuẩn của thuật ngữ: khoa học, dân tộc, đại chúng
nhưng về cơ bản, ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất với những
nguyên tắc trong đề án Quy tắc phiên âm thuật ngữ khoa học nước ngoài ra
tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội công bố. Chính điều này đã góp phần
đẩy mạnh việc thống nhất và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ. Vì vậy, việc xây dựng
các hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ giai đoạn này đã phát
triển mạnh mẽ.
Ở miền Nam, Lê Văn Thới là nhà khoa học có nhiều đóng góp với công
tác xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt. Lê Văn Thới đã soạn thảo
nguyên tắc xây dựng danh từ chuyên môn làm tài liệu hướng dẫn chính thức
cho công việc xây dựng thuật ngữ khoa học ở miền Nam. “Qua hơn mười
năm áp dụng bản nguyên tắc đó, các nhà thuật ngữ học miền Nam đã hoàn
thành được một khối lượng công việc đáng kể. Hơn 50 cuốn thuật ngữ đối
14
chiếu đã được biên soạn. Trong hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, rõ ràng là
phải nhiệt tình lắm mới có thể làm được những việc như thế” [127; 28]. Sau
khi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được đẩy
mạnh và phát triển trong phạm vi cả nước. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở
thời kì đầu sau cách mạng tháng Tám, số lượng thuật ngữ khoa học, kĩ thuật
có vào khoảng 40.000 đơn vị, sau 20 đến 25 năm đã lên tới 900.000 đơn vị
[83]. “Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát
thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt.
Đề tài "Một số vấn đề lí luận và phương pháp luận biên soạn từ điển
chuyên ngành và thuật ngữ" của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt
Nam (do Hà Quang Năng làm chủ nhiệm) tập trung tìm hiểu những vấn đề
nghiên cứu lí luận và thực tiễn của thuật ngữ học ở nước ngoài và ở Việt
Nam, trong đó trình bày những kết quả nghiên cứu về nhiều khái niệm cơ
bản của thuật ngữ học như: YTCT thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, ý
nghĩa và định danh thuật ngữ, xây dựng từ điển thuật ngữ,...đã được trình
bày cụ thể. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã được công bố trong công
trình: Thuật ngữ học - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" [84].
Đề tài "Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây
dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam" [108] do Lê Quang Thiêm làm chủ
nhiệm đã nghiên cứu điều tra tổng hợp đánh giá, miêu tả sự hình thành và
phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt quốc ngữ Latinh hóa theo định hướng văn
hóa từ 1907 đến 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển của tiếng
Việt, đặc biệt là bình diện nghĩa, cấp độ từ vựng - ngữ nghĩa mà cụ thể là hệ
thuật ngữ tiếng Việt hiện đại. Tìm hiểu sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt
theo định hướng văn hóa, đề tài này nghiên cứu thuật ngữ trong mối quan hệ
với sự phát triển, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ; chuyển từ xem xét
thuật ngữ như một lớp từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng sang xem xét, đối
xử với thuật ngữ với tầm mức và quy mô phát triển của nó, với đặc điểm đa
ngành, liên ngành ngôn ngữ - tri thức - văn hóa - giáo dục, như một phân
16
ngành, ngành thuật ngữ với tư cách một ngành khoa học nghiên cứu về thuật
ngữ - thuật ngữ học của Việt Nam.
Công trình "Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại" [110] là công trình tổng
kết một số thành tựu mới nhất nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt. Công trình
- Khảo sát một số thuật ngữ không chuẩn căn cứ vào các tiêu chuẩn thuật
ngữ, từ đó đề xuất phương hướng chuẩn hóa thuật ngữ và cách xử lí các thuật ngữ
không chuẩn;
- Đối chiếu chiếu thuật ngữ tiếng Anh với thuật ngữ tiếng Việt về
phương diện cấu tạo, định danh để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác
biệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ.
- Tiến hành khảo sát vấn đề dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt
để xác định các kiểu tương đương trong cách dịch thuật ngữ.
Như vậy, công tác nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ học ở nước ta
trong thời gian qua đã đạt được những kết quả rõ rệt. Có thể thấy rằng, các
vấn đề thuật ngữ học được nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là từ góc độ thực
tiễn: xây dựng các thuật ngữ khoa học kĩ thuật. Kết quả là hàng loạt cuốn từ
điển thuật ngữ đối chiếu các ngôn ngữ nước ngoài và tiếng Việt đã được
xuất bản. Giai đoạn cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, công tác nghiên cứu thuật
ngữ ở nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới: nghiên cứu chuyên sâu về hệ
thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học cụ thể. Hàng loạt các luận
án tiến sĩ nghiên cứu một các toàn diện, có hệ thống đặc điểm cấu tạo,
ĐĐĐD và các phương thức tạo lập các hệ thống thuật ngữ tiếng Việt hoặc
đối chiếu hệ thống thuật ngữ tiếng Anh với hệ thống thuật ngữ tiếng Việt
của nhiều ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đã được bảo vệ thành công.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở nước ngoài và ở
Việt Nam
1.1.3.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở nước ngoài
Là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người,
ngành mĩ thuật học đã có lịch sử phát triển lâu dài. Trên thế giới đã có rất
18
nhiều công trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các loại hình nghệ