MỤC LỤC
Tran
g
1.Mở đầu………………………………………………………………………1
1.1 Lí do viết sáng kinh nghệm…………………………………………….. .
1
1.2 Mục đích nghiên cứu……………………………………………………..
2
1.3 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….
2
1.4 Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………
2
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm………………………………………
2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………
2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm……………
2
2.3 Một số biện pháp thực hiện………………………………………………
5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục……….
18
3. Kết luận và kiến nghị………………………………………………………
18
3.1 Kết luận……………………………………………………………………
18
3.2
Kiến
nghị………………………………………………………………….19
TÀI
LIỆU
như phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, tổ
chức trò chơi… để học sinh được thực sự tham gia xử lí các tình huống có vấn
đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh nói được một câu
hay, giàu cảm xúc là một kĩ năng khó của phân môn Luyện từ và câu. Bởi vậy,
hiệu quả giờ dạy Luyện từ và câu còn hạn chế. Một phần người dạy còn chưa
tìm ra quy trình và phương pháp dạy thích hợp. Hơn nữa đây là phân môn hoàn
toàn khó đối với học sinh lớp1, 2.. Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ năng diễn đạt
còn hạn chế, các em đọc còn chưa lưu loát vì vậy ít nhiều hạn chế đến khả năng
đặt câu đúng, câu hay, diễn đạt bằng lời nói, lời kể và cách diễn xuất của mình
qua từng đoạn chuyện, câu chuyện. Vì vậy, các em thiếu tính mạnh dạn, tính tự
tin trong học tập. Mặt khác, với học sinh tiểu học, vốn từ mà các em có được
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm sống và cách hiểu tự nhiên còn hạn chế. Đa số các
em chỉ mới hiểu được một số nét nghĩa một cách chung chung chứ chưa đầy đủ
và chưa chính xác. Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ đã học vào giao tiếp và
học tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn và bị lúng túng trong việc
tìm từ và sử dụng từ. Làm giàu vốn từ cho học sinh ngoài việc cung cấp thêm
các từ mới, giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn tạo tính thường trực của từ nhằm
nâng cao khả năng lựa chọn và sử dụng từ của học sinh khi học các môn học nói
riêng và trong cuộc sống nói chung [6].
1
Với mong muốn giúp học sinh tăng thêm vốn từ, tăng khả năng sử dụng
từ, câu trong học tập và giao tiếp, tôi đó lựa chọn viết đề tài: “Một số biện pháp
làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 A trường Tiểu học Nga Điền 1 thông qua
phân môn Luyện từ và câu”. để cùng các bạn đồng nghiệp trao đổi thảo luận.
Từ đó, giúp học sinh học Phân môn Luyện từ và câu một cách hiệu quả nhất
I.2 . Mục đích nghiên cứu:
ngôn ngữ của học sinh nói chung và của học sinh lớp Hai nói riêng. Trong thực
tế môn Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng là chìa khóa mở ra kho tàng văn
hóa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người.Hơn nữa phân môn Luyện
từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng việt, văn hóa là công cụ giúp học sinh sử
dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả tốt mà còn học tốt các môn học khác, rèn cho học
sinh bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết thành thạo.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh biết cách giao tiếp
tốt, viết được đoạn văn ngắn thì phải làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh. Làm
2
giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh lớp Hai là một việc làm quan trọng trong phân
môn Luyện từ và câu.Việc phát triển và làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh góp
phần giúp học sinh có kĩ năng dùng từ để đặt câu và giao tiếp tốt. Hơn nữa,
phân môn Luyện từ và câu hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2. Vì các em từ
lớp 1 lên, các em mới làm quen với thể loại này. Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ
năng nói và viết diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa hiểu sâu về nghĩa các từ
ngữ và bản chất của câu nên khi nói và viết một đoạn văn các em thường bộc lộ
các yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ nghĩa, các câu
trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi. Học
sinh thường dập khuôn theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân môn Luyện từ
và câu là một bộ phận nhỏ của môn Tiếng Việt hết sức cần thiết để giúp học sinh
mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càng phong phú;
việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ để bồi dưỡng cho các
em thói quen dùng từ chính xác, nói – viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng
Việt có văn hóa trong học tập và giao tiếp.
Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò của nhân
tố từ ngữ trong việc sử dụng Tiếng Việt. Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ và
câu ở lớp 2 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển vốn từ.
nghiệm lẫn nhau. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường đều tạo điều kiện
cho giáo viên trao đổi, tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn.
+ Một số tranh ảnh trực quan để phục vụ cho các bài Luyện từ và câu ở lớp 2
đã có sẵn ở thư viện: Tranh các chim, loài cá, thú…
- Học sinh:
+ Các em học sinh có dủ SGK, vở bài tập, đồ dùng học tập phục vụ cho môn
học.
+ Phần lớn phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình.
b. Khó khăn:
- Giáo viên:
+ Phân môn Luyện từ và câu là phân môn mà học sinh lớp 2 vừa được làm
quen, nên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi lựa chọn các hình thức dạy học phù
hợp với các em.
+ Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học
nhưng đôi khi cũng ngại không dám thoát li các gợi ý của sách giáo khoa, sách
hướng dẫn vì sợ sai.
+ Đối với một số giáo viên do sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ dùng
trực quan nói riêng chưa được thường xuyên, nên việc sử dụng còn nhiều lúng
túng.
- Học sinh:
+ Quan sát học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu. Tôi yêu cầu các em
tìm từ ngữ thuộc các chủ đề, chủ điểm đang học. Đa số các em tìm được rất ít từ
hoặc không tìm được từ, chỉ khi cô giáo gợi mở sát vào từng ngữ cảnh học sinh
mới tìm được từ mà giáo viên yêu cầu.
+ Qua tiết học phân môn Tập làm văn, tôi thường quan sát các em trong việc
trả lời câu hỏi, đặt câu, viết đoạn văn ngắn tờ 3- 5 câu. Tôi thấy các em đa số
chưa biết đặt câu, sử dụng từ chưa chính xác, chỉ hơn1/4 số học sinh trong lớp
biết dùng một số mẫu câu đơn giản.
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện từ và
câu.
Từ thực trạng trên tôi thấy nếu không có biện pháp mở rộng vốn từ cho học
sinh thì chất lượng dạy học môn Tiếng Việt sẽ không cao. Trong năm học trước,
khi đánh giá chất lượng bài thi các giáo viên đều có chung một nhận định: Vốn
từ của các em còn nghèo nàn, nhiều em còn tìm từ không đúng yêu cầu và có rất
nhiều em không tìm được từ. Những hạn chế trên một phần là giáo viên chưa
chú ý đúng mức đến dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh.Trong quá trình dạy
4
giáo viên ít tạo điều kiệncho học sinh được hoạt động nhiều với từ nên khả năng
thường trực từ ở học sinh và sử dụng khi cần thiết chưa cao. Có bài tập cần sử
phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm, thì giáo viên lại tổ chức làm việc chung
cả lớp, có bài tập đề bài cần tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân thì giáo
viên lại tổ chức trò chơi học tập tập trung đối tượng học sinh năng khiêu. Thời
gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ thống câu hỏi và hình thức thực
hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa phân loại đối tượng học sinh để dạy
học cho phù hợp.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và vận dụng: “Một số biện
pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Luyện từ và câu”
2.3. Một số biện pháp thực hiện:
Biện pháp 1: Cung cấp, mở rộng và nhân vốn từ ngữ cho học sinh:
Cung cấp vốn từ giúp học sinh có vốn từ phong phú, để học sinh tự tin trong
giao tiếp, biết dùng từ để đặt câu trong mọi tình huống giao tiếp, biết nói và viết
những câu văn hay giàu cảm xúc, các em có khả năng diễn đạt được trí tưởng
tượng của mình trong từng câu truyện kể…
Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn nghèo nàn, việc
sử dụng từ ngữ trong giao tiếp còn nhiều hạn chế. Hầu hết học sinh sử dụng từ
ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác. Vì vậy, tôi đã cung cấp vốn từ cho học sinh
giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý. Khi dạy Luyện từ
và câu tôi đã chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh, bằng cách cho các em thi
bát ăn cơm - chén ăn cơm, thìa – muỗng…
* Từ gần nghĩa
Ở lớp hai, học sinh cũng chưa học về khái niệm từ gần nghĩa, nên việc học
sinh tìm được những từ gần nghĩa cũng rất khó khăn, do đó tôi đã dựa vào từng
chủ đề, chủ điểm mà tôi cho học sinh phân định rõ từng kiểu từ gần nghĩa.
- Từ chỉ sự vật
Ví dụ: dạy về từ chỉ sự vật, tôi đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh tìm các từ gần
nghĩa. Chẳng hạn:
Tổ quốc còn gọi là gì? ( non sông, đất nước, giang sơn, quốc gia,…)
Tương tự cách hỏi như vậy với:
- Từ chỉ tinh chất : dũng cảm, can đảm, anh dũng, gan dạ.. hiền lành, hiền hậu,
nhân hậu, vv…
- Từ chỉ hoạt động: ăn, xơi, .., bưng, bê, cắp, ôm…
* Từ trái nghĩa: giáo viên cần phân biệt cụ thể nghĩa các từ mà cho học sinh
xét từ trái nghĩa theo các trường hợp sau:
- Những cặp từ trái nghĩa chỉ hoạt động: làm - chơi, lên - xuống, bay- đậu, đi
-dừng, đứng - ngồi…
- Những cặp từ trái nghĩa chỉ tính chất: đẹp - xấu, hiền- dữ, đen - trắng, nónglạnh…
- Những cặp từ trái nghĩa có cùng một tiếng gốc:
Ví dụ: bền lòng / nản chí, tốt bụng/ xấu bụng, đẹp mã/ xấu mã.
- Những cặp từ trái nghĩa không cùng một gốc
Ví dụ: ấm áp/ lạnh lẽo, cứng rắn/ mềm dẻo, dũng cảm/ hèn nhát.
*Chú trọng nhân vốn từ của học sinh
Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng thành từ có nghĩa, để học sinh tìm được
nhiều từ, tôi hướng dẫn các em tìm các từ ghép, từ láy cùng gốc:
Ví dụ: Cho học sinh tìm một số từ chỉ màu đỏ khác nhau. Tôi cho học sinh quan
sát nhiều màu đỏ, yêu cầu học sinh nhận xét mức độ đỏ của từng màu mà phân
biệt được tên của màu đỏ đó.
- Từ ghép: đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ hoe, đỏ chót, đỏ rực.
- Từ láy: đo đỏ, đỏ đắn…
yêu
lấy
thầy.
..
Dạy về chủ đề gia đình cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về công ơn
cha mẹ: công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
hoặc: Con có cha như nhà có nóc, con có mẹ như măng ấp bẹ…
Dạy về chủ đề các loài chim cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về các
loài chim: nói như vẹt, hót như khướu, đen như quạ, hôi như cú.
Trong quá trình giảng dạy, tôi thường liên hệ những nội dung kiến thức có
liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn: Tập đọc, chính tả và phân
môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện
tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặp
những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp. Giúp học sinh có hiểu biết về đề
tài, vận dụng kỹ năng thực hành để học sinh có vốn kiến thức và vốn từ phong
phú, đa dạng. Khi học sinh đã có vốn từ phong phú thì chắc chắn các em sẽ tự
tin trong giao tiếp, học sinh trình bày lời nói của mình sẽ lưu loát hơn. Các em
đứng trước đám đông sẽ tự nhiên mà không ngại ngùng e sợ.
Khi sử dụng phương pháp trên vào dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ, tôi
thấy kích thích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình tìm từ ngữ, rèn luyện tư
duy cho học sinh Học sinh tìm được nhiều từ mới hơn khi kết hợp với phương
pháp gợi mở của giáo viên.
Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và
tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập và sử dụng từ.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó dưới sự
hướng dẫn của giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi,
thảo luận, chất vấn và chia sẻ lẫn nhau.
Quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp thảo
luận nhóm trong quá trình dạy học làm giàu vốn từ, đặc biệt là trong nhiệm vụ
mở rộng vốn từ cho học sinh. Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng phương
- Giáo viên chia nhóm học sinh
- Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thảo
luận theo những cách khác nhau: chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chia nhóm theo
hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ nắm vốn từ
của học sinh… Mỗi cách chia nhóm đều có ưu và nhược nhất định, khi lựa chọn
giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình thức để tránh nhàm chán
cho học sinh.
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh.
Nhiệm thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập ( hoặc phiếu giao
việc ) cho cả nhóm.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 1, Tuần 4 – TV2, tập 1- trang 35, Mở rộng vốn từ: Từ chỉ
sự vật, GV sử dụng phiếu thảo luận:
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, nói cho bạn nghe và nghe bạn nói các từ theo mẫu trong
bảng sau rồi ghi vào bảng trong thời gian 2 phút:
Chỉ người
Chỉ đồ vật
Chỉ con vật
Chỉ cây cối
M: học sinh
M: ghế
M: Chim sẻ
M: Xoài
8
Ví dụ 2: Ở bài tập 1, Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về Bác Hồ, Tuần 30, TV2 – Tập
2- Trang 104, ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu học tập
sau:
Biện pháp 3: Tổ chức các trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủ yếu
là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Nhưng qua
trò chơi, người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi
người cùng hợp tác với mọi người, cùng hợp tác với đồng đội trong nhóm, tổ.
Ở bậc tiểu học cũng như các bậc học khác, sử dụng trò chơi trong quá trình
học tập làm cho việc tiếp thu tri thức bớt đi sự khô khan, có thêm sự sinh động,
hấp dẫn. Từ đó hiệu quả học tập của học sinh tăng lên.
Trong giờ mở rộng vốn từ, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để làm giàu
vốn từ cho mình. Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết dạy thì
hiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ. Sử dụng trò chơi
học tập là phương pháp dạy học tích cực. Từ đó làm thay đổi không khí trong
lớp học, tạo ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệt
tình của các bạn trong lớp. Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn với
việc học từ ngữ trong các bài mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự khô khan của
bài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại, quản lí vốn từ
đúng, sử dụng từ chính xác , linh hoạt.
Thứ nhất: Trò chơi ghép nhanh tên sự vật
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật ( người, đồ vật, con vật, cây cối,..) được vẽ
dưới đây. ( bài tập 1 tuần 3, TV2- tập 1. Trang 26)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người. Hãy tìm từ chỉ
mỗi hoạt động đó. ( bài tập 2 tuần 7, trang 59, TV2- Tập 1)
Ví dụ 3: Hãy nêu tên các con vật có trong hình ( bài tập 3 tuần 16 trang 134,
TV2, Tập 1).
10
a. Đối với dạng bài này, giáo viên chuẩn bị 2 bộ đồ dùng để chơi: mỗi bộ gồm
1 số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại diện cho nghĩa của từ được nêu trong sách
giáo khoa Tiếng Việt 2, các thẻ từ ( bìa giấy) ghi tên các đồ vật ( tranh ảnh).
bài của người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng ghĩa với từ được
ghi trên quân bài của người chơi.
- Mỗi quân bài đều được ghi ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm bài
trên tay.
b.Cách tiến hành
Để thực hiện trò chơi cần thực hiện qua 4 bước sau:
Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi: Mục đích của trò chơi là
học sinh thi tìm từ đồng nghĩa.
Bước 2: Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 2- 4 học sinh. Quản trò là
giáo viên và hai học sinh giúp giáo viên làm trọng tài.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi:
11
- Từ 2 đến 4 người chơi. Mỗi người có một bộ quân bài như nhau ( 10, 12
quân)
- Trọng tài lật 1 quân bài chính của mình ( có từ đồng nghĩa với từ trong bộ bài
của người chơi). Những người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có
từ đồng nghĩa với quân bài của trọng tài để đânh ra.
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được” ăn” nhiều nhất sẽ thắng
cuộc. Như vậy, người thắng cuộc nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.
Bước 3: Học sinh thực hiện trò chơi.
Bước 4: Giáo viên thay mặt cho tổ trọng tài công bố nhóm tìm được nhiều từ
đúng và chính xác nhất, rồi tuyên dương nhóm tìm được nhiều từ đúng và
nhanh.
Các cặp từ dồng nghĩa nói về chủ đề học tập dùng làm bộ bài để chơi và bộ
bài để cầm cái: học tập- học hành, siêng năng- chăm chỉ, vui vẻ- phấn khởi,
giảng dạy – dạy dỗ, bài tập – bài vở, chăm chú – chú ý, lễ phép – lễ độ, thông
minh – sáng dạ, vâng lời - nghe lời, kiên nhãn – kiên trì…
12
3.Tờ gì mỏng dùng để viết chữ lên. ( là gì ?)
4 .Cột gì cao trước sân trường
Chỉ mang một lá huy hoàng tung bay
Đầu tuần buổi sáng thứ hai
Cả trường, cả lớp ai ai cũng chào ?
( là gì ?)
Thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển cả về trí tuệ, thể lực,
nhân cách giúp học sinh phát triển về ngôn ngữ, mở rộng được nhiều vốn từ, rèn
cho học sinh tính nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh, làm
giảm tính chất căng thẳng của giờ học. Tạo hứng thú thú học tập cho học sinh.
Trò chơi học tập rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không nên
lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàm chán đối với
học sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ về điều kiện vật chất và cách
thức thể lệ chơi. Trong lúc chơi, giáo viên cần hướng dẫn, động viên hoàn thành
tốt bài tập, tạo sự hưng phấn, thích thú trong tiết học. Tổ chức trò chơi trong giờ
mở rộng vốn từ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời gian ngắn, nội dung kiến
thức thay đổi theo từng bài học… Vì vậy, tổ chức trò chơi phải linh hoạt, khéo
léo, không làm ảnh hưởng đến thời gian và đảm bảo chất lượng dạy học.
Trò chơi: “ Em biết tuốt” Mở rộng vốn từ về..( Bài tập 2, TV2, tập1. Trang
137)
Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để mở rộng vốn từ:
Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ kích thích sự sáng tạo, sự chủ
động của học sinh trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ giúp học sinh hiểu cặn kẽ
hơn về hiện tượng ngôn ngữ cần nhận thức và nhớ kĩ bài học hơn.
13
Khi sử dụng phương pháp trên vào dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ, tôi
thấy kích thích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ, rèn
luyện tư duy cho học sinh trong quá trình phân tích ngôn ngữ. Học sinh tìm
được nhiều từ mới hơn khi kết hợp với phương pháp gợi mở của giáo viên.
Biện pháp 5: Vận dụng phương pháp quan sát để mở rộng vốn từ
Dùng phương pháp quan sát giúp học sinh phối hợp nhiều giác quan để
quan sát
sự vật, hiện tượng, hình thành các biểu tượng, các khái niệm cụ thể. giúp các em
hứng thú học tập, phát triển khả năng tập trung, chú ý, óc tò mò, khám phá. phát
triển tư duy nâng cao tính tự lực, tích cực của học sinh.
Kỹ năng quan sát rất cần cho học sinh khi mở rộng vốn từ: Quan sát trên
lớp theo gợi ý, hướng dẫn của giáo viên hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên cần khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi
bật của đối tượng, mục đích là giúp HS tránh được kiểu kể theo liệt kê. Bên cạnh
đó, tôi cũng hướng dẫn HS cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một
cách có cảm xúc về sự vật.
14
Ví dụ: dạy bài 29 Mở rộng vốn từ về cây cối - Luyện từ và câu lớp 2 có
bài tập 1 yêu cầu học sinh kể tên các bộ phận của cây ăn quả[2].
Bước 1:Lựa chọn đối tượng quan sát:
- Để học sinh tìm được các bộ phận của cây ăn quả, tôi cho học sinh quan
sát tranh vẽ các cây ăn quả để thấy được các đặc điểm chung của cây ăn quả.
Sau đó, tôi cho học sinh quan sát kĩ 1 cây ăn quả có đủ các bộ phận của cây.
Bước 2:Xác định mục đích quan sát:
Hướng dẫn quan sát từ trên xuống dưới hoặc từ dười lên trên của cây để
tìm các bộ phận của cây.
Bước 3: Báo cáo kết quả quan sát:
Sau khi học sinh quan sát xong, tôi yêu cầu học sinh kể tên các bộ phận
Học sinh tự tin trong giao tiếp
Thông qua phương pháp quan sát, giáo viên rèn cho học sinh kỹ năng sử
dụng từ ngữ để đặt câu, kĩ năng nói, trước khi làm bài viết. Trên cơ sở đó, giáo
viên điều chỉnh giúp học sinh hoàn thiện bài viết. Với phương pháp này, tôi
thường tổ chức cho học sinh luyện nói cá nhân, luyện nói trong nhóm. ( HS có
thể kết nhóm theo ý thích, để có sự thoải mái tự nhiên, tự tin khi tham gia làm
việc trong nhóm ).
Chẳng hạn: sau khi học sinh tìm được các từ tả các bộ phận của cây tôi
cho học sinh nối tiếp nhau mỗi em đặt một câu tả về một bộ phận của cây tạo
thành một đoạn văn tả cây cối.Ví dụ: Rễ cây ngoằn ngoèo nằm trên mặt đất./
Thân cây to như cái cột đình./ Cành lá sum suê …
Trong quá trình học sinh đặt câu, nếu em nào dùng từ chưa đúng, giáo
viên chỉnh sửa giúp các em hoàn thiện câu văn đúng và hay.
Khi sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp trong việc mở rộng vốn từ
và rèn kĩ năng sử dụng từ đúng, tôi thấy các em rất hứng thú học tập, bởi các em
được nói ra những điều mình khám phá, được cô giáo trau chuốt cho từng câu,
từng lời, được cô khen biết đặt những câu đúng và hay vì thế hiệu quả học tập
của các em ngày càng cao.[4]
Biện pháp 7: Khuyến khích sự hứng thú học tập của học sinh qua việc
thi đua, khen thưởng:
Thi đua gắn với khen thưởng là một động lực không thể thiếu được trong quá
trình học của học sinh. Hình thức thi đua, khen thưởng rất phù hợp với đặc điểm
tâm lí của học sinh tiểu học. Các em phấn đấu vì động cơ rất đơn giản: Cố gắng
để được tích sao, được cô giáo khen, được bạn bè mến phục, cố gắng để làm vui
lòng
ông bà, bố mẹ… Trong giờ học mở rộng vốn từ, nhờ không khí thi đua, học sinh
sôi nổi hơn, hăng say hơn, khen thưởng giờ mở rộng vốn từ là sự công nhận kết
quả mà học sinh đạt được ( Học sinh tìm ra từ mới, phát hiện ra nghĩa mới câu
từ, đặt câu hỏi, đoạn văn hay…). Nếu được khen đúng lúc, học sinh sẽ cảm thấy
tự
động viên các em. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, giáo viên không lạm dụng
quá nhiều gây nhàm chán đối với học sinh.
Biện pháp 8: Hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho
học sinh.
Theo quan điểm của giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt động
lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn
của cơ sở giáo dục. Tự học có thể bằng cách đọc tài liệu, sách giáo khoa, nghe
đài, xem truyền hình, thăm bảo tàng, triển lãm…
Tự học gắn liền với tự ý thức và tự giáo dục. Ở học sinh tiểu học, tự ý
thức và tự giáo dục của các em đang hình thành và phát triển. Do vậy, tự học của
học sinh tiểu học khác với tự học của các cấp học trên( THCS, THPT) về yêu
cầu, mức độ, phạm vi…Tự học của học sinh tiểu học chỉ giới hạn trẻ tự giác
hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao ( làm bài tập về nhà, chuẩn bị để học
bài mới…).Dù trực tiếp hay gián tiếp, hoạt động tự học của học sinh tiểu học
đều có sự hướng dẫn của giáo viên. Tự học của học sinh tiểu học không những
diễn ra ở nhà mà diễn ra ngay trong lớp học với hình thức dạy học cá nhân trên
lớp. Ở hình thức dạy học này, học sinh thực hiện theo nội dung, cách thức và
tiến độ khác nhau tùy thuộc vào năng lực cá nhân, dưới sự hướng dẫn của giáo
viên.
Trên cơ sở đó, tự làm giàu vốn từ có thể hiểu là quá trình học sinh tự mình
lĩnh hội vốn từ, tự mình tìm hiểu nghĩa của từ, phân loại quản lí vốn từ và vận
dụng từ vào trong hoàn cảnh giao tiếp.
17
Đối với học sinh lớp 2, tự làm giàu vốn từ có thể bao gồm các công việc
sau: Học sinh tự giác hoàn thành các bài tập trong giờ mở rộng vốn từ, hoàn
thành các nhiệm vụ giáo viên giao, có thắc mắc và có ham muốn tìm hiểu từ
mình chưa rõ nghĩa, chưa biết sử dụng, thường xuyên đọc và tra từ điển để tăng
thêm vốn từ và hiểu nghĩa của từ…
pháp để làm giàu vốn từ cho học sinh. Các biện pháp này có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Để tìm được các từ theo chủ điểm, phát huy khả năng giao tiếp và
vốn từ sống của học sinh, tôi dùng biện pháp thảo luận nhóm. Để học sinh hứng
thú hơn trong việc học, tôi sử dụng hình thức thi đua, khen thưởng. Để thay đổi
hình thức dạy học, tôi dùng trò chơi trong dạy học. Đồng thời, không phải khi
nào giáo viên cũng tổ chức thảo luận nhóm hoặc trò chơi học tập, sẽ có thời gian
học sinh phải độc lập làm bài tập cá nhân nên giáo viên luôn phải nhắc nhở học
sinh ý thức tự học và hướng dẫn học sinh phương pháp tự làm giàu vốn từ.
Kết quả khảo sát cuối tháng 3 của lớp 2A ( Sử dụng biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh ) và lớp 2B
( không sử dụng biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh):
18
HTT
HT
CHT
Tổng số
HS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2A
30
19
63.7
10
tiểu học, không phải chủ yếu là dạy “ Kĩ thuật “ ngôn ngữ mà dạy “ kĩ thuật”
giao tiếp.Vậy dạy Tiếng gắn liền với hoạt động giao tiếp là con đường ngắn
nhất, có hiệu quả nhất giúp HS nắm vững các quy tắc sử dụng ấy.Vì thế, có thể
dạy Tiếng chính là việc dạy cho các em cách tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Mỗi một câu học sinh biết sử dụng từ ngữ thành thạo là một dịp để các em có
thêm kiến thức và kĩ năng chủ động tham dự vào cuộc sống văn hóa thường
ngày.Vì vậy, giáo viên cần hết sức linh hoạt trong việc giảng dạy truyền kiến
thức cho các em, để các em lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo, thoải mái mà
không bị nhồi nhét, áp đặt. Để làm được điều này giáo viên phải linh hoạt trong
mọi tiết dạy mà lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức lớp học sao cho
đảm bảo tính vừa sức của học sinh tạo tiết học hứng thú và bổ ích.
Qua nghiên cứu thực trạng dạy học mở rộng vốn từ ngữ trong phân môn
Luyện từ và câu ở lớp 2, tôi thấy việc rèn kĩ năng mở rộng vốn từ là vô cùng
quan trọng. công việc này đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo song
cũng cần kiên trì, chịu khó trong suốt quá trình giảng dạy Luyện từ và câu nói
chung và dạy học sinh các môn học khác nói riêng. Việc dạy học sinh theo
hướng nêu trên đã đem tới sự tiến bộ vượt bậc không chỉ riêng ở môn Luyện từ
và câu mà trong giờ tập làm văn hay giờ kể chuyện thì ngôn ngữ của các em
cũng sát thực và giàu hình ảnh hơn.
Khi áp dụng các biện pháp trên vào dạy mở rộng vốn từ trong phân môn
Luyện từ và câu, tôi nhận thấy các em không sợ học phân môn Luyện từ và câu
nữa vì bản thân các em đã được đóng vai trò chủ đạo trong tiết học.Tôi nghĩ
TT
19
rằng với biện pháp trên, không chỉ áp dụng ở lớp 2 mà các khối khác đều áp
dụng được. Nếu người giáo viên biết vận dụng các biện pháp trên để tiến hành
dạy trong giờ học, tôi nghĩ chất lượng giáo dục, hiệu quả quả giáo dục của môn
4. Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học – Nguyễn Hữu Châu - NXBGD
- Bộ GD& ĐT.
5. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học – Nhà
xuất bản Giáo dục ( tập 33,35).
6. Sử dụng các tư liệu, hình ảnh trên Intemet.
20
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Phượng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Nga Điền 1 -Nga Sơn
STT
4
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá xếp
loại ( Phòng, sở,
Tỉnh)
Một số biện pháp rèn chữ - Phòng GD & ĐT
viết cho học sinh lớp 2
Nga Sơn.