Một số giải pháp rèn chữ, giữ vở cho học sinh lớp 2 ở trường tiểu học na mèo - Pdf 44

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống con người luôn có nhu cầu giao lưu về tình cảm với nhau,
nhằm truyền đạt những khái niệm, tri thức,…cho nhau, chính vì vậy mà ngôn
ngữ xuất hiện.
Đọc một văn bản viết, điều đầu tiên gây cho người đọc khó chịu nhất là nét
chữ xấu và viết sai chính tả. Vấn đề này không phải chỉ xảy ra ở học sinh mà đôi
lúc vẫn còn xảy ra ở người lớn ( đặc biệt là giáo viên dạy tiểu học chúng ta). Nói
thế có nghĩa là vấn đề viết sai chính tả có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi và ở mọi
đối tượng.
Năm học 2016-2017, tôi được phân công dạy lớp 2 khu Na Mèo –
trường Tiểu học Na Mèo. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm, phát hiện
ra các em đa số yếu về phần viết chính tả và không biết giữ gìn sách vở cẩn
thận . Không chỉ ở lớp tôi mà nó còn rải đều ở các lớp khác. Trước tình
trạng đó, tôi vô cùng lo lắng. Làm cách nào để giảm bớt lỗi chính tả cho
các em? Và giúp các em biết giữ gìn sách vở sạch sẽ, cẩn thận.Tìm hiểu,
học hỏi ở rất nhiều đồng nghiệp với nhiều hình thức khác nhau xoay quanh
nội dung “Kinh nghiệm giảm thiểu lỗi chính tả ở học sinh lớp 2”. Sau
những năm tích lũy kinh nghiệm, tôi đã tìm ra cho bản thân một số giải
pháp riêng, vận dụng vào đặc thù học sinh vùng miền núi - một trong
những đơn vị vùng sâu xa của Huyện với một chuyên đề không mới nhưng
nhằm góp một phần công sức nhỏ bé trong việc luyện viết cho học sinh
huyện nhà.
Là giáo viên dạy Tiểu học, tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi: Làm thế
nào dạy các em viết đẹp? Sau nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng đối với
học sinh nếu cùng một lúc đòi hỏi các em viết đúng, viết đẹp ngay là một điều
không thực tế, khó có thể thực hiện được. Do vây đối với từng lớp, giáo viên cần
lựa chọn mục tiêu trọng tâm của môn học phù hợp với lứa tuổi để học sinh tiếp
thu bài một cách vững chắc. Tôi đã xác định muốn viết chữ đẹp thì việc đầu tiên
cần làm là rèn cho trẻ có nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng thì mới có cơ sở để
viết chữ đẹp. Đây chính là yêu cầu có tính quyết định trong việc rèn viết chữ đẹp

SINH LỚP 2
Truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt Nam là đào tạo nên những con
người có trí tuệ và nhân cách. Văn hóa ấy để lại bằng chữ viết (bút tích). Ở Việt
Nam có hai loại chữ ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt của dân tộc là chữ Nôm
và chữ Quốc ngữ. Sự đô hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc đã để lại cho
dân tộc ta một thứ văn tự mà nhiều thế hệ sau vẫn còn sử dụng. Đó là chữ Hán, để
phản bác lại sự đồng hóa của ngoại bang, chữ Nôm đã ra đời. Nhờ có chữ Nôm
mà nhiều tác phẩm sáng tác bằng Tiếng Việt có giá trị lưu truyền đến ngày nay.
Tuy nhiên do khó đọc, khó viết, không thống nhất cao,….nên khi chữ Quốc ngữ
ra đời và thịnh hành thì chữ Nôm đã dần dần không được sử dụng.
Những cụ đồ, nhà nho, nhà giáo ngày xưa đã để lại những nét chữ chân
phương trong kho tàng thư tịch và những nét chữ rồng bay phượng múa trong
nghệ thuật thư pháp độc đáo. Tuy nhiên, những năm gần đây trước sự phát triển
nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, của công nghệ thông tin, chữ viết tuy ít được
sử dụng trong các văn bản, đơn từ. Vì vậy dần dần chữ viết ít được gia đình và
nhà trường quan tâm, mặc dù cũng có phong trào thi “Vở sạch, chữ đẹp” nhưng
thường chọn những em nổi trội trong lớp chứ chưa quan tâm rèn chữ cho học
sinh trong cả lớp. Chính vì thế câu nói : “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết
người, dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp, viết cẩn thận, là góp phần rèn luyện
cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với mình và bạn đọc bài
của mình”của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu cũng rất chính xác và là
nền tảng trong công tác rèn chữ viết cho học sinh.
Là một giáo viên giảng dạy ở khối lớp 2, trong quá trình công tác, tôi luôn
tập trung nghiêm cứu nhằm rèn luyện chữ viết và giữ vở cho học sinh lớp mình
ngày càng phát triển tốt về “Chữ viết đẹp - giữ vở sạch ” để góp phần vào việc
nâng cao kết quả học tập của các em ngày càng tốt hơn.
Muốn học sinh viết đúng đẹp, giữ gìn sách vở cẩn thận, trước hết và chủ
yếu có sự dạy dỗ công phu của các thầy cô theo phương pháp khoa học và kinh
nghiệm đã được đúc kết cùng với sự kèm cặp thường xuyên, sâu sát của các bậc
phụ huynh, sự nổ lực kiên trì của mỗi học sinh

nghỉ học.
+ Các em ở lứa tuổi nhỏ, mải chơi nên còn rất hiếu động, viết chưa cẩn
thận.
+ Do gia đình thuộc diện nghèo, còn khó khăn về kinh tế nên ít quan tâm
đến việc học ở nhà của con em mình.
+ Các em chưa có ý thức trong học tập, nhất là trong việc rèn luyện chữ viết.
b. Về phía giáo viên
+ Phụ trách lớp gồm nhiều đối tượng khác nhau, việc phân chia kiến thức
trong một tiết học còn nhiều khó khăn và hạn chế.
+ Ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể ở trường và hoạt động xã hội, thời
gian phụ đạo học sinh còn ít.
c. Về phía nhà trường
+ Đồ dùng và trang thiết bị phục vụ cho môn tập viết còn hạn chế.
Đầu năm học nhà trường tiến hành kiểm tra khảo sát đầu năm kết quả lớp
tôi đạt được như sau:
2 Kết quả về vở sạch, chữ đẹp
a . Kết quả về vở sạch:
Loại A
Loại B
Loại C
Tổng số HS
SL
TL (%)
SL
TL (%)
SL
TL (%)
17
0
0

em khắc phục tình trạng này. Chính vì vậy mà tôi đã nghiên cứu, tìm ra
các giải pháp để nâng cao chất lượng “Vở sạch, chữ đẹp” cho học sinh.
III . CÁC GIẢI PHÁP “RÈN CHỮ - GIỮ VỞ ” CHO HỌC HỌC SINH
LỚP 2 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NA MÈO.
Để tìm ra cách dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh lớp mình
phụ trách, năm học này tôi vẫn tiếp tục sử dụng các phương pháp: đàm
thoại, trực quan, thực hành, luyện tập. Nhưng tôi đã mạnh dạn đưa thêm
phương pháp: “ So sánh, kiểm tra lẫn nhau” vào giờ Tập viết. Bên cạnh đó
tôi có chú trọng hơn đến phương pháp hướng dẫn học sinh luyện tập và
thực hành đối với tất cả học sinh trong lớp. Đặc biệt, tôi quan tâm và hướng
dẫn tỉ mỉ hơn với những em viết yếu. Sau khi kết hợp các phương pháp
giảng dạy như trên trong một tiết học, tôi thấy kết quả bài viết của các em
có tiến bộ hơn, điểm đạt cao hơn.
Học sinh lớp 2 tư duy của các em có phát triển so với lớp 1, song khi
hướng dẫn viết vẫn đòi hỏi phải thật tỉ mỉ và chuẩn xác. Chính vì thế
tôi tiến hành qua từng bước cụ thể như sau:
1. Khắc phục về cơ sở vật chất
Để đảm bảo chất lượng về bàn ghế cho học sinh ngồi học, phù hợp với
độ tuổi, ngay từ đầu năm học, tôi đề xuất với ban giám hiệu nhà trường đã chỉ
đạo cho các giáo viên chủ nhiệm chọn lọc và sắp xếp các loại bàn ghế cho phù
hợp với đối tượng học sinh ở mỗi khối lớp.
Cụ thể:
Bàn ghế thấp cho học sinh khối 1, 2, 3 ngồi. Những bộ bàn ghế cao hơn
sắp xếp cho học sinh khối 4, 5.
Những phòng học chưa đủ ánh sáng thì được bố trí lắp thêm bóng điện.
2. Rèn ý thức giữ vở sạch cho học sinh
Nhìn chung đa số học sinh chưa có ý thức tự giác giữ vở sạch vì các em
chưa hiểu được ý nghĩa của những cuốn vở sạch là gì? và vì sao phải giữ vở
sạch? Bên cạnh đó, các em chưa biết cách làm thế nào để có được những quyển
vở sạch, nên ngay sau khi tìm ra được nguyên nhân của thực trạng, tôi đã tổ

chữ để trình bày bài cho cân đối trang vở ( tránh trình bày lệch sang một bên của
trang viết).
Cụ thể:
- “ Thứ, ngày, tháng, năm” Giáo viên lưu ý cho học sinh viết lùi vào 2 ô
( kể từ lề kẻ đỏ);
- Tên phân môn: Viết lùi vào 4 hoặc 5 ô (Tuỳ theo số chữ);
- Tên bài học: Viết lùi vào 2 đến 3 ô hoặc 4 ô (Tuỳ theo số lượng chữ);
- Hết mỗi bài phải dùng thước kẻ, gạch dưới đó một dòng;
- Tên môn ( phân môn): Tiêu bài hay lời giải, đáp số phải dùng thước kẻ
để gạch dưới ngay ngắn.
Bên cạnh đó, để mỗi bài viết được sạch, đẹp, giáo viên cũng cần hướng
dẫn các em bỏ câu, chữ viết sai. Cũng dùng thước gạch sát dưới chữ viết sai rồi
viết câu, chữ đúng bên cạnh, chứ không được tẩy xoá hoặc bôi đen.
Ngoài ra giáo viên yêu cầu học sinh không được dùng bút xoá, không vẽ
bậy vào vở hoặc bìa vở.
3. Rèn chữ đẹp cho học sinh
3.1. Về phía giáo viên
a. Chữ viết:
Muốn dạy cho học sinh viết đúng, trước hết giáo viên phải viết đúng và
đẹp. Chữ viết của giáo viên phải chuẩn mực, đúng theo mẫu chữ hiện hành trong
trường Tiểu học khi chấm bài, chữa bài, lời nhận xét, khi viết bảng, trình bày
bảng, khi viết mẫu và luyện nét... Để có được chữ viết chuẩn mực, giáo viên
phải nắm chắc được cấu tạo và quy trình viết các chữ cái, chữ số, chữ hoa theo
mẫu chữ quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cụ thể:
6


Về chữ viết thường (cỡ nhỏ):
Các chữ nét khuyết b, h, l, g cao 2,5 đơn vị;

những em học sinh các trường trong huyện khác cho học sinh quan sát tham
khảo.
Từ những cảm nhận và hiểu biết được ý nghĩa về vở sạch chữ đẹp của học
sinh, giáo viên hình thành ý thức tự giác, tích cực rèn luyện chữ viết, lòng ham
mê và tinh thần quyết tâm “rèn chữ - giữ vở” cho các em.
Các em có hiểu được ý nghĩa, tác dụng của việc “rèn chữ - giữ vở” thì các
em mới chăm chỉ tự giác và hứng thú rèn chữ sao cho đẹp, giữ vở sao cho sạch.
Một yếu tố cũng hết sức quan trọng để góp phần tạo nên sự thành công của
giáo viên khi rèn chữ cho học sinh. đó là lòng nhiệt tình uốn nắn cho các em
từng nét chữ, từng tư thế ngồi, cầm bút, đưa bút, kĩ thuật viết liền mạch và theo
7


dõi sự tiến bộ của học sinh, để có biện pháp phù hợp. Giáo viên khen khích lệ
những em có sự tiến bộ nhanh, ý thức rèn chữ tốt, động viên kịp thời những em
chậm tiến bộ để các em tự tin hơn mà không chán nản khi rèn luyện.
c. Giúp học sinh hiểu được đặc điểm của chữ đẹp:
Để giúp các em viết chữ đẹp, giáo viên cần cho học sinh hiểu chữ đẹp
phải là chữ viết đúng cỡ chữ theo mẫu chữ quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Chữ phải đều, các nét phải rõ ràng. Đồng thời các nét nối giữa các con chữ
phải gọn, không được rườm rà. Khoảng cách giữa các chữ phải đều, đúng quy
định. Chữ viết phải mềm mại, đặt dấu thanh, dấu phụ đúng vị trí,. . .
d. Tổ chức phong trào thi đua giữa các tổ, nhóm:
Để học sinh trong lớp có khí thế rèn luyện chữ viết sôi nổi, tôi đã phát
động phong trào thi đua " Vở sạch- chữ đẹp" giữa các tổ, nhóm trong lớp, nhằm
kích thích tinh thần đoàn kết, tính tự giác cho các em.
Giáo viên kết hợp với các nhóm trưởng trong lớp chấm “vở sạch- chữ đẹp”
của lớp 2 khu Na Mèo vào giờ sinh hoạt hàng tuần. Biểu dương nhóm có số
lượng vở xếp loại A cao. Nhắc nhở, động viên nhóm có số lượng vở chưa đạt
cần tiến bộ. Sau đó xếp loại kết quả đánh giá chất lượng về “vở sạch- chữ đẹp”

Cụ thể:
Nét khuyết trên lượn ở đường kẻ li 3, tròn đều và cắt nhau tại đường kẻ li 2,
cao 2,5 đơn vị.
Khi luyện tập, củng cố, giáo viên nên chú ý chỉnh sửa từng nét chữ, từng
dòng cho học sinh. Cần lưu tâm nhất là điểm cắt và điểm lượn của nét khuyết.
Đặc biệt là bụng của nét khuyết phải tròn, đều và rộng 1/2 li kẻ. Nếu giáo viên
phát hiện thấy em nào viết sai, viết chưa đúng về cấu tạo, kích thước, tỉ lệ chữ,. .
. cần chỉnh sửa kịp thời cho các em.
*Nhóm 3: Gồm các chữ cái o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, c, x, e, ê.
Nét cơ bản cần rèn luyện trong nhóm chữ này là nét cong (cong trái, cong
phải, cong khép kín), kết hợp củng cố nét móc ngược cho học sinh.
Nhóm chữ này, các em thường viết sai vể tỉ lệ chữ và điểm đặt bút. Bởi vậy
cho nên trong quá trình rèn luyện cho học sinh, giáo viên chú ý điểm đặt bút,
dừng bút sao cho nét cong của chữ phải tròn, đều, nhất là khi các em viết các
chữ cái có nét cong tròn khép kín.
*Nhóm 4: Gồm các chữ cái r, s, v, b, k
Trọng tâm nhóm chữ này là ôn củng cố nét khuyết, nét móc và rèn nét thắt
cho học sinh.
Giáo viên lưu ý kích thước, tỉ lệ và quy trình viết các chữ trong nhóm chữ
này cho các em. Đặc biệt lưu ý cho các em vị trí của nét thắt trong từng con chữ.
Cụ thể:
Chữ " r ": nét thắt nằm trên đường kẻ li 2;
Chữ " k ": nét thắt nằm ở vị trí 1/2 dòng kẻ li 1.
5.2. Loại chữ hoa
Căn cứ vào cấu tạo các nét cơ bản giống nhau của các chữ hoa, tôi cũng đã
chia các chữ hoa thành 8 nhóm nhỏ để dễ dàng trong quá trình ôn luyện, củng cố
và rèn chữ cho học sinh.
Nhóm 1. Gồm các chữ hoa: U, Ư, V.
10


Trong quá trình hướng dẫn, giáo viên lưu ý cho học sinh các trường hợp
sau:
- Khi viết những chữ có dấu thanh, cần lưu ý đặt dấu thanh phía trên (đối
với thanh huyền, sắc, hỏi, ngã), phía dưới (đối với thanh nặng) âm chính của
chữ ghi tiếng.
- Con chữ "b" khi viết tạo tiếng với các con chữ khác thì viết nét thắt nhỏ
để nối, nhưng khi viết với con chữ "e" để tạo tiếng thì phải kéo nét thắt to để nối
với con chữ "e". (Ví dụ khi viết tiếng be).
- Khi viết chữ có các con chữ: "ơ, ư", giáo viên nên lưu ý cho học sinh viết
"o" hoặc "u" rồi điền dấu phụ (,) nghiêng về phía bên phải chữ "o, u" (không
viết dấu phụ thẳng, sẽ rất xấu) để được "ơ, ư".
Ngoài ra, khi luyện viết chữ cho học sinh, giáo viên cần phải thường xuyên
chấm bài kèm theo lời nhận xét cụ thể, hoặc chỉ ra những lỗi mà đa số các em
thường mắc phải để hướng dẫn chung cho cả lớp. Hàng tuần, hàng tháng, giáo
11


viên nên có những nhận xét cụ thể về sự tiến bộ của các em trong việc " Rèn chữ
- Giữ vở", nhằm kích thích lòng ham mê rèn luyện cho các em. Đồng thời, giáo
viên cũng chỉ ra những hạn chế mà các em cần phải sửa chữa. Từ đó đưa ra các
biện pháp cụ thể cho các em khắc phục.
Biện pháp nêu gương cũng rất cần thiết trong quá trình rèn giũa cho các
em, nó có tác dụng khích lệ và củng cố niềm tin cho các em trong quá trình học
tập và rèn luyện.
Biểu dương trước lớp những bài viết đẹp, những bài viết tuy chưa độc đáo
lắm nhưng cũng đã có nhiều cố gắng trong rèn luyện.
Trong quá trình kèm cặp, rèn rũa chữ viết cho học sinh, giáo viên có thể
nâng cao hơn kĩ thuật viết nét thanh, nét đậm cho những em có năng khiếu về
chữ viết.
Cụ thể:

%
13
76,4
4
23,6
0
0
- Chất lượng về chữ đẹp:
Loại A
Loại B
Loại C
Tổng số HS
SL
TL (%)
SL
TL (%)
SL
TL (%)
17
7
41,2
10
58,8
0
0
Từ biểu bảng thống kê trên, so với kết quả khảo sát thực trạng của đầu năm
học 2016 - 2017 cho thấy khi áp dụng những biện pháp " Rèn chữ - giữ vở" mà
tôi đã đưa ra thì chất lượng vở sạch, chữ đẹp của học sinh được nâng lên rõ rệt.
12


môn học khác trong nhà trường nói chung được nâng lên rõ rệt, đáp ứng được
chuẩn kiến thức kỹ năng của giáo dục Tiểu học.

13


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Như chúng ta đã biết chữ viết không đơn thuần chỉ dùng để ghi lại âm tiết
Tiếng Việt, mà chữ viết còn thể hiện tính cách của mỗi con người. "Rèn chữ- giữ
vở" cho học sinh chính là rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức tốt
đẹp. Như rèn tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật cao, óc thẩm mĩ, lòng tự tin và tính
tự trọng.
Từ thực tế giảng dạy và những kết quả đạt được qua việc áp dụng các biện
pháp trên vào quá trình "Rèn chữ - giữ vở" cho học sinh, bản thân tôi đã rút ra
được một số kinh nghiệm như sau:
1. Để cho việc làm này đạt hiệu quả cao đòi hỏi người giáo viên ngoài
những hiểu biết về chuyên môn còn phải có tính kiên trì và bền bỉ, cẩn thận, yêu
nghề, mến trẻ và phải hiểu được đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh của mình để
rèn rũa, uốn nắn các em sao cho "Nét chữ " là "Nết người" như cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nhận định.
2. Bên cạnh đó mỗi giáo viên cũng cần chú ý đến các yếu tố sau:
- Phối hợp "Rèn chữ - giữ vở" cho học sinh ở tất cả các môn, phân môn
trong chương trình học.
- Quan tâm chỉnh sửa tư thế ngồi, cầm bút, cách để vở cho toàn thể học sinh
trong lớp.
- Chấm, chữa và nhận xét bài một cách cập nhật, thường xuyên.
- Có biện pháp khen thưởng, động viên, khích lệ học sinh một cách kịp thời.
- Tổ chức phong trào "Vở sạch - chữ đẹp" giữa các tổ, nhóm trong lớp.
- Thường xuyên trao đổi với đại diện phụ huynh của lớp và phối kết hợp chặt



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu “Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học”LêThị Nga-Đặng
Kim Nga. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, 2005.
2. Sách Giáo khoa Tiếng Việt lớp2, tập1-Nguyễn Minh Thuyết-Nhà xuất bản
Giáo dục,Việt Nam, năm 2015.
3. Sách Giáo khoa Tiếng Việt lớp2, tập 2 -Nguyễn Minh Thuyết-Nhà xuất bản
Giáo dục,Việt Nam, năm 2015.
4. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 tập1- Nguyễn Minh Thuyết-Nhà xuất bản
Giáo dục-Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 tập1- Nguyễn Minh Thuyết-Nhà xuất bản
Giáo dục-Bộ Giáo dục và Đào tạo.
6. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 tập2-Nguyễn Minh Thuyết-Nhà xuất bản
Giáo dục-Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7. Sách Tập viết lớp 2 , Tập I & II – Mạc Văn Thiện-Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam , 2016.
8. Vở Thực hành luyện viết,viết đúng, viết đẹp-lớp 2 tập1&2-Nguyễn Bá
Cường- Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm .
9. Mẫu chữ viết trong Trường Tiểu học ( Theo quyết định số 31/2002/QĐBGĐTngày 14/6/2002 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)-Xuất bản 2005

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status