Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới công tác sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học nga điền 2, huyện nga sơn - Pdf 56

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý
của nhà trường [1] . Các tổ chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối
hợp với các bộ phận nghiệp vụ và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các
nhiệm vụ của tổ và các nhiệm vụ khác trong chiến lược phát triển nhà trường.
Tổ chuyên môn là nơi triển khai các mặt hoạt động của nhà trường, trong
đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học. Nó là đầu mối quản lý mà Hiệu
trưởng nhất thiết phải tập trung dựa vào để quản lý nhà trường trên nhiều phương
diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động giáo dục dạy học. Ngoài ra, tổ chuyên môn
còn là nơi tập hợp, đoàn kết, tìm hiểu tâm tư tình cảm của giáo viên, giúp đỡ
giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở trực tiếp nhất đối với các hoạt động của
giáo viên, là nền tảng để tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động chuyên
môn một cách cụ thể và hiệu quả. Tổ chuyên môn có vai trò quan trọng trong
quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, là “trung
tâm” bồi dưỡng giáo viên nhằm giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn
nói chung và thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh
giá nói riêng. Đồng thời, tổ chuyên môn là nơi quản lý trực tiếp bồi dưỡng giáo
viên về nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ; phát hiện ra những điểm mạnh, điểm
yếu, thuận lợi và khó khăn của từng giáo viên trong quá trình giảng dạy và giáo
dục. Chỉ có ở tổ chuyên môn, giáo viên mới có điều kiện trực tiếp và thuận lợi
nhất để rèn luyện và từng bước nâng cao trình độ tay nghề của mình. Bởi vì, sinh
hoạt tổ chuyên môn có tính tổ chức, chủ động và mang tính tập thể cao.
Sinh hoạt tổ chuyên môn là các hoạt động chia sẻ với đồng nghiệp về
chuyên môn, là môi trường tốt nhất cho những giáo viên còn hạn chế về năng lực
và chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhất là giáo viên tập sự có dịp để trao
đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tay nghề.
Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều nhà trường, hoạt động của tổ chuyên môn
thông thường là xây dựng kế hoạch, quy định chế độ sinh hoạt, ký duyệt giáo án
và đăng kí giảng dạy, tổ chức dự giờ, thao giảng, tổ chức hội thảo, hội thi giáo

- Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu sau khi điều tra thực
trạng, số liệu của quá trình thực nghiệm sư phạm.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
2.1.1. Quan niệm về đổi mới.
Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã
hội cũng như trong tư duy. Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự đổi mới để
thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống. Đối với xã hội, đổi mới là
một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó
trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để thích ứng với
tình thế. Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tượng xã hội. [ 2]
2.1.2. Quan niệm về sinh hoạt chuyên môn.
Sinh hoạt chuyên môn là một hoạt động nằm trong tổ chức giáo dục của
các nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đảm bảo cho giáo viên được
trao đổi, chia sẻ và học tập kinh nghiệm lẫn nhau. Sinh hoạt chuyên môn nhằm
nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cũng như đổi mới công
tác dạy học. [ 2]
2.1.3. Quan niệm về đổi mới sinh hoạt chuyên môn
Đổi mới sinh hoạt chuyên môn là một sự vận động, một sự sàng lọc trong
sinh hoạt chuyên môn để đưa ra một cách sinh hoạt chuyên môn có hiệu quả hơn
trong công tác bồi dưỡng giáo viên. [ 2]
Đổi mới phương pháp sinh hoạt chuyên môn thực chất không phải là sự
2


thay thế phương pháp sinh hoạt chuyên môn cũ bằng một loạt các phương pháp
sinh hoạt chuyên môn mới. Về mặt bản chất, đổi mới sinh hoạt chuyên môn là
đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức
triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương
pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa

- Các tổ chuyên môn cơ bản đã hoạt động đúng chức năng nhiệm vụ của
mình theo điều lệ trường Tiểu học. Biết lựa chọn các nội dung thiết yếu để sinh
hoạt chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn trong nhà trường.
- Các đồng chí tổ trưởng, tổ phó đều là các đồng chí có năng lực chuyên
môn cao, có uy tín trong tổ chuyên môn nên thuận lợi trong công tác điều hành.
* Tồn tại
3


- Tổ trưởng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lí; tổ chức các
buổi sinh hoạt chuyên môn còn có nhiều hạn chế.
- Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn chưa phong phú, hình thức còn đơn
điệu, gò bó, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm đổi mới phương pháp dạy học
và tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên trong tổ. Trong các buổi sinh hoạt,
không khí thường trầm lắng, giáo viên ít phát biểu ý kiến; những vấn đề mới và
khó ít được mang ra bàn bạc, thảo luận.
- Một số ít giáo viên còn coi nhẹ, chưa thực sự say mê với chuyên môn,
trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ít phát biểu hoặc ít quan tâm đến nội dung
sinh hoạt.
- Các hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn còn đơn điệu, chưa được cải
tiến. Hầu như là làm theo một tiến trình người được phân công trình bày báo cáo
đã chuẩn bị, các thành viên trong tổ góp ý, sau đó lấy ý kiến của tập thể . Chưa
có sự đổi mới và đột phá nên hiệu quả còn thấp.
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về cách thức sinh hoạt chuyên môn
của nhà trường, tôi thấy nổi bật lên các nguyên nhân sau:
Một là, Tổ trưởng chuyên môn chưa thấy được tầm quan trọng của việc
lập kế hoạch chuyên môn, chưa có kĩ năng lập kế hoạch chuyên môn. Các đồng
chí lập kế hoạch còn mang tính định tính và tự phát.
Hai là, Năng lực chủ trì, điều hành hội nghị của tổ trưởng chuyên môn
còn hạn chế. Các đồng chí còn thực hiện theo cảm tính và theo sự hiểu biết của

động của tổ chuyên môn và mọi thành viên của tổ chuyên môn đó phải tuân theo.
Lập kế hoạch chuyên môn có nghĩa là xác định trước xem tổ chuyên môn đó
phải làm gì, làm như thế nào, làm vào khi nào và ai sẽ trực tiếp làm. Việc lập kế
hoạch là bắc một nhịp cầu từ trạng thái hiện tại của ta tới chỗ mà chúng ta muốn
có trong tương lai.
Lập kế hoạch chuyên môn có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của tổ
chuyên môn. Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công tác lập kế
hoạch trở thành điều tất yếu và rất cần thiết của các đồng chí tổ trưởng. Lập kế
hoạch buộc người tổ trưởng phải nhìn về phía trước, dự đoán được những thay
đổi trong nội bộ nhà trường, trong tổ chuyên môn của mình quản lý cũng như
môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra các giải
pháp ứng phó thích hợp.
Lập kế hoạch chuyên môn làm giảm được sự chồng chéo trong chuyên
môn. Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu, chỉ tiêu đã được xác định, những
phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu đã được lựa chọn nên tổ trưởng sẽ dễ
dàng sử dụng nguồn nhân lực của tổ một cách tối ưu.
Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác
kiểm tra đạt được hiệu quả cao. Do vậy, nếu không có kế hoạch thì cũng không
có cả kiểm tra.
Như vậy, lập kế hoạch là việc làm tất yếu của quá trình quản lý. Muốn
quản lý tổ chuyên môn có hiệu quả thì tổ trưởng chuyên môn phải lập kế hoạch
chuyên môn sát với tình hình thực tế của tổ mình. Từ đó triển khai tổ chức thực
hiện một cách có hiệu quả nhất.
1.2: Giúp tổ trưởng chuyên môn nắm được một số yêu cầu của kế
hoạch tổ chuyên môn.
Để một bản kế hoạch chuyên môn thật sự có chất lượng thì bản kế hoạch
đó phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn phải bám sát kế hoạch nhiệm vụ của
nhà trường và phù hợp tình hình thực tế, đặc thù riêng của từng tổ.
- Các hoạt động chuyên môn của tổ phải đảm bảo mục tiêu, nhiệm vụ chất

- Phần kế hoạch chung (kế hoạch năm) được thực hiện vào đầu năm, trong
đó có thể hiện đầy đủ các chỉ tiêu số lượng, chất lượng của giáo viên và học sinh
trong tổ, dự kiến giải pháp thực hiện kế hoạch trong suốt cả năm học.
6


- Phần kế hoạch tháng có thể lập theo từng tháng trong năm học hoặc có
thể dự kiến ngay từ đầu năm cho tất cả các tháng, trong đó có phần bổ sung kế
hoạch phát sinh. Phần kế hoạch bổ sung này được cập nhật theo tháng nhằm đưa
ra các công việc sát với thực tiễn của nhà trường.
* Kế hoạch chuyên đề.
Đây là các kế hoạch được xác lập trước khi tiến hành một hoạt động hoặc
một phạm vi hoạt động mang tính chuyên đề để triển khai nhiệm vụ theo kế
hoạch năm học: Ví dụ: Kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;
kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo
viên; Kế hoạch tổ chức hội thi đồ dùng dạy học; Kế hoạch tổ chức hội thi Chúng
em với An toàn giao thông,… Khi tổ chức hoạt động nào thì sẽ có kế hoạch tổ
chức hoạt động đó.
1.4: Một số kĩ thuật thực hiện trong khi lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn.
Trong khi lập kế hoạch, tôi thường tổ chức cho các tổ chuyên môn nắm vững
một số kĩ thuật phân tích tình hình thực tiễn của tổ, của nhà trường. Kĩ thuật
phân tích này như sau:
1. Lập một bảng gồm bốn ô, tương ứng với bốn yếu tố:
Nội lực bên trong
nhà trường.

Điểm mạnh

Điểm yếu


5. Phân tích ý nghĩa của chúng.
6. Vạch rõ những hành động cần làm như củng cố các kĩ năng quan trọng,
loại bỏ những hạn chế, khai thác các cơ hội, bảo vệ và phòng tránh các rủi ro có
thể mắc phải.
7. Định kì cập nhật để làm tăng thêm tính hoàn thiện và hiệu quả cho kế
hoạch sinh hoạt chuyên môn. Tìm ra con đường chắc chắn và ngắn nhất đi đến
thành công của tổ chức.
1.5: Các bước cần làm khi lập kế hoạch chuyên môn.
Trong quá trình lập kế hoạch, tôi thường hướng dẫn cho các tổ trưởng lập
kế hoạch theo các bước sau:
Bước 1: Lập dự thảo kế hoạch sinh hoạt chuyên môn
- Thu thập và xử lí thông tin
7


Các thông tin cần thu thập đó là các thông tin về định hướng lớn của nhà
trường. Đó là các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng được Hiệu trưởng cung cấp
trong kế hoạch năm học của nhà trường (Hội nghị cán bộ giáo viên đầu năm).
Thông tin về những quy định, quy chế mới của nghành. Thông tin về quản lí dạy
học. Thông tin về đội ngũ giáo viên hoặc các thông tin về học sinh, về cơ sở vật
chất,… Các thông tin đều phải được sàng lọc và phải có sự thống nhất từ Hiệu
trưởng đến các tổ khối.
- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ cho năm học mới:
Từ các thông tin trên, tổ trưởng chuyên môn tự đặt mục tiêu riêng cho tổ
của mình trong các lĩnh vực của năm học. Xác định thứ tự ưu tiên theo trình tự
thời gian và tính cấp bách của công việc. Khi thiết kế các nhiệm vụ, tổ trưởng
cần làm rõ một số vấn đề: Tại sao chọn đó là nhiệm vụ trọng tâm? Khi thực hiện
thì gặp phải khó khăn vướng mắc gì?...
- Xây dựng yêu cầu và các chỉ tiêu.
Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ của năm học, tổ trưởng chuyên môn xây

trả lời được các câu hỏi sau:
+ Những hoạt động cần được thực hiện là gì?
+ Những hoạt động nào cần được ưu tiên, thời gian nào là phù hợp nhất?
+ Sử dụng nguồn lực nào? Ai phụ trách?
+ Nếu vì lí do chủ quan hoặc khách quan công việc tạm hoãn thì sẽ bố trí
thực hiện như thế nào?
Bước 2: Thông qua tập thể và lấy ý kiến đóng góp từ tập thể.
Sau khi hoàn thành dự thảo kế hoạch, tổ trưởng chuyên môn có thể gửi dự
thảo cho các thành viên trong tổ, các thành viên nghiên cứu, phát hiện những
khiếm khuyết cần khắc phục. Sau đó tổ trưởng chuyên môn tổ chức cuộc họp
trưng cầu ý kiến của các thành viên để có những điều chỉnh cho phù hợp.
Bước 3: Điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch.
Dựa vào ý kiến đóng góp của các thành viên và kế hoạch năm học của nhà
trường đã ban hành, tổ trưởng chuyên môn hoàn thiện kế hoạch trước khi trình
Hiệu trưởng kí duyệt.
Bước 4: Gửi dự thảo kế hoạch cho Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phê
duyệt.
Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường, hiệu trưởng sẽ xem xét, đối
chiếu kế hoạch của tổ với các chỉ tiêu, giải pháp của nhà trường. Nhận xét góp ý
để tổ trưởng tiếp tục hoàn thiện kế hoạch. Đồng thời kí duyệt kế hoạch. Tổ
trưởng chuyên môn tiếp tục hoàn thiện kế hoạch theo ý kiến chỉ đạo của Hiệu
trưởng.
Bước 5: Công bố và thực hiện kế hoạch.
Khi đã có một kế hoạch tương đối phù hợp với đặc điểm của tổ, tổ trưởng
công bố kế hoạch cho toàn thể cán bộ giáo viên trong tổ chuyên môn và bắt đầu
triển khai thực hiện theo lộ trình đã xác định. Tổ trưởng phải giám sát và kiểm
tra thường xuyên để có thể chắc chắn hoàn thành kế hoạch.
Tóm lại: Khi thực hiện lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn, nếu tổ trưởng
chuyên môn nắm được tiến trình và thực hiện theo tiến trình trên thì chắc chắn tổ
trưởng sẽ có một kế hoạch phù hợp với thực tiễn nhà trường, phù hợp với đặc

Đ/c Nguyễn Trung Tiến- GV tập sự đang phát biểu trong hội nghị chuyên môn

Trường hợp có giáo viên ngại phát biểu, tự cho rằng ý kiến của mình cũng
giống như ý kiến của đồng nghiệp trước đó, người chủ trì có thể yêu cầu giáo
viên đó nhắc lại các điểm chính trong lời phát biểu của đồng nghiệp.
- Nếu có một giáo viên nào đó phát biểu lan man, dài dòng, không đúng
trọng tâm, bằng sự khéo léo của mình, người chủ trì phải hướng được người đó
phát biểu ngắn gọn, đúng hướng nhưng không làm mất lòng của người đồng
nghiệp đó.
- Kiểm soát cuộc họp cả về nội dung và thời gian. Không nên có quá nhiều
nội dung trong một cuộc họp và bố trí thời gian không hợp lý.
10


2.2: Kĩ năng ra quyết định là một trong những kĩ năng quan trọng của
người chủ trì, điều hành sinh hoạt chuyên môn.
- Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, dựa vào tình hình thực tế diễn ra
mà người chủ trì có thể đưa ra các quyết định cho cuộc hợp.

Đồng chí Nguyễn Thị Tuyển- TTCM tổ 4, 5 đang chủ trì hội nghị chuyên môn của tổ.

+ Nếu trong cuộc họp có ý kiến trái chiều, có thể xảy ra xung đột. Khi đó
vai trò ra quyết định hóa giải của người chủ trì hết sức quan trọng. Nếu một ý
kiến đúng, một ý kiến sai thì người chủ trì có thể phân tích để làm rõ phần đúng,
phần sai trong ý kiến của đồng nghiệp. Từ đó khẳng định chân lí.
+ Nếu có những ý kiến chung chung, không rõ ý thì người chủ trì cần có
những gợi ý, những câu hỏi phù hợp để tìm hiểu rõ ý nghĩa của ý kiến nhằm làm
sáng tỏ những gì giáo viên muốn phát biểu.
+ Nếu trong buổi sinh hoạt chuyên môn có nhiều ý kiến khác biệt, đa
chiều nhưng các ý kiến đều mang tính chất xây dựng và phù hợp, người chủ trì

- Bài học kinh nghiệm của bản thân sau khi đã dự giờ.
Khi thảo luận, cần tập trung xem xét các hoạt động học của học sinh. Hoạt
động nào có hiệu quả, hoạt động nào chưa hiệu quả, tình huống học tập nào đáng
lưu ý. Nhóm nào, học sinh nào chưa tập trung chú ý vào việc học… Người dự
giờ cũng cần phải trao đổi về khả năng học sinh đạt được trong thực tế giờ học
rồi đem đối chiếu với ý định dạy của giáo viên. Trong thảo luận nên tránh cách
nói “ Theo tôi phải như thế này. Nếu tôi dạy bài này tôi sẽ làm như thế này…”
Bởi vì mỗi bài học có nhiều cách dạy khác nhau. Khi chia sẻ, các ý kiến phải sát
thực, tỉ mỉ, càng cụ thể càng tốt, tránh cách nói chung chung.
Kĩ năng lắng nghe tích cực là một kĩ năng quan trọng. Các thành viên thảo
luận phải tôn trọng ý kiến của nhau. Phải đồng cảm với khó khăn và chia sẻ
thành công với người dạy. Nếu có sự khác biệt trong góc nhìn về bài dạy thì phải
thoải mái, thẳng thắn trao đổi trong buổi sinh hoạt để không còn những bức xúc
bên lề cuộc họp.
Trong quá trình thảo luận, nên giảm nhẹ các yếu tố truyền thống như thời
gian, tiến trình mà nên quan tâm đến thái độ học tập, hành vi học tập, sản phẩm
học tập và mối quan hệ của chúng với tác động sư phạm của giáo viên.
Cuối buổi thảo luận không thống nhất chung phương pháp dạy cho bài
học. Tuy nhiên có thể nhấn mạnh lại các vấn để nổi bật đáng quan tâm và đáng
chú ý của buổi sinh hoạt chuyên môn.
Nếu mỗi giáo viên đều tích lũy được khả năng suy ngẫm, chia sẻ là lắng
nghe tích cực thì chắc chắn buổi sinh hoạt chuyên môn luôn diễn ra trong không
khí nhẹ nhàng, thoải mái mà lại đạt hiệu quả cao, góp phần bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ cho mỗi giáo viên.
Biện pháp 4: Chỉ đạo công tác sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài
học.
12


Trong hoạt động thao giảng, dự giờ và rút kinh nghiệm tiết dạy, thông

- Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: cải thiện mối
quan hệ giữa Ban giám hiệu với giáo viên, giáo viên với giáo viên, giáo viên với
học sinh và học sinh với học sinh; tạo môi trường làm việc, dạy và học dân chủ,
thân thiện cho tất cả mọi người.
4.2: Xác định thời gian và số lần sinh hoạt chuyên môn trong một tháng.
Sinh hoạt chuyên môn 3 lần/tháng vào ngày thứ 7 hàng tuần. ( Bao gồm
sinh hoạt chuyên môn tổ 2 lần và sinh hoạt chuyên môn trường 1 lần)
* Sinh hoạt chuyên môn tổ: 2 lần/ tháng. ( 2 tuần một lần)
13


Ví dụ về nội dung của một lần sinh hoạt chuyên môn tổ.
- Buổi sáng:
+ Dạy minh họa, dự giờ 1 tiết, rút kinh nghiệm tiết dạy.
+ Cử giáo viên dạy minh họa cho tuần sau. Toàn tổ khai thác bài dạy tuần
sau…
- Buổi chiều:
+ Bàn các vấn để cấp thiết có liên quan đến việc dạy học trong giai đoạn.
Ví dụ: Công tác kiểm tra đánh giá sao cho có hiệu quả.
Công tác huy động cộng đồng trong việc trang trí lớp học.
+ Sơ kết hoạt động chuyên môn của 2 tuần trước, đề xuất kế hoạch 2 tuần
tiếp theo.
* Sinh hoạt chuyên môn trường ( Thực hiện vào tuần 4 của tháng)
- Buổi sáng:
+ Dạy minh họa 2 tiết, dự giờ và rút kinh nghiệm tiết dạy.
+ Cử giáo viên dạy minh họa cho tháng sau, khai thác 2 tiết dạy của tháng
sau.
- Buổi chiều:
+ Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong 2 buổi sinh hoạt chuyên môn
tổ.

để đánh giá xếp loại tiết dạy mà thông qua tiết dạy để cùng nhau rút kinh nghiệm
và trải nghiệm thực tế.
Nhà trường, tổ chuyên môn nên lựa chọn luân phiên để đảm bảo tất cả giáo
viên trong trường đều được dạy minh họa trong năm học. Không nên liên tục
chọn những giáo viên có nhiều kinh nghiệm mà lãng quên những giáo viên trẻ, ít
kinh nghiệm và còn non về chuyên môn nghiệp vụ. Giúp họ có nhiều cơ hội trải
nghiệm.
4.3.4: Dự giờ.
Người dự giờ là ban giám hiệu, giáo viên trong trường hay giáo viên
trong tổ đã tham gia thiết kế bài dạy. Số lượng GV dự giờ không nên quá đông,
đảm bảo cho HS có thể học bình thường. Dự giờ để tìm ra những ưu điểm và
những tồn tại để cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trên thực tế học tập của học
sinh.
- GV dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Không làm ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh; không gây khó
khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ phải tập trung vào việc học của học
sinh, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách làm việc nhóm HS, những
khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm của học sinh... Quan sát tất cả đối tượng
học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào.
+ GV cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự
cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí
15


của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách
giải quyết.
+ Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học, có
khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc
học của HS.
+ Thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của GV về HS trong từng

như thế nào?
– Khi thảo luận cần lưu ý 3 vấn đề sau:
+ Mối quan hệ giữa GV – HS; giữa HS – HS trong tình huống đó như thế
nào?
+ HS học được gì qua hoạt động đó
+ Hoạt động đó có tác động đến quá trình lĩnh hội kiến thức, sự tham gia
của học sinh như thế nào?
4.3.6: Áp dụng
Trên cơ sở bài giảng minh họa, giáo viên nghiên cứu vận dụng, kiểm
nghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, suy ngẫm áp dụng vào bài
học hàng ngày cho phù hợp, đạt hiệu quả tốt.
* Kết luận: Qua việc nghiên cứu bài học chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt của
nghiên cứu bài học so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. Nghiên cứu
bài học xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp
học của giáo viên. Thông qua nghiên cứu bài học giáo viên được hợp tác cùng
nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh.
Thực tế trong những năm vừa qua trường TH Nga Điền 2 đã triển khai
nhiều chuyên đề đổi mới PPDH trong đó dạy theo hướng nghiên cứu bài học đã
được nhiều đồng chí thể hiện rất thành công. Qua nghiên cứu bài học GV có
thêm định hướng để nâng cao chất lượng soạn giảng, nâng cao hiệu quả trong
hoạt động giáo dục của bản thân. Từ đó có thể khẳng định nghiên cứu bài học là
một hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên đạt hiệu quả và
hoàn toàn có thể áp dụng trong các nhà trường.
Biện pháp 5: Chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề.
5.1: Mục đích, ý nghĩa
- Xây dựng tổ chuyên môn thành tổ chức học tập, chia sẻ, trao đổi thông tin
giữa các giáo viên để mọi người có cơ hội lựa chọn những thông tin cần thiết cho
công việc của mình; tạo động lực làm việc cho giáo viên , phát huy vai trò tự chủ
của giáo viên trong chuyên môn.
- Phát huy tốt vai trò của Tổ trưởng chuyên môn , phân công nhiệm vụ hợp

Kế hoạch sinh hoạt chuyên đề phải được trình bày rõ ràng về thời gian
(tháng, ngày, giờ), nội dung (mục tiêu, chủ đề, hình thức, tài liệu), nhân lực
(người phụ trách, người thực hiện, người hỗ trợ), địa điểm, thành phần tham dự,

- Để tổ chức một hoạt động sinh hoạt chuyên đề có hiệu quả, yêu cầu bắt
buộc phải thiết kế được các hoạt động một cách khoa học theo các bước sau:
Bước 1: Công tác chuẩn bị
+ Dự kiến nội dung công việc, tiến trình hoạt động.
+ Dự kiến những phương tiện, thiết bị cần cho hoạt động.
+ Dự kiến nhiệm vụ của từng thành viên và thời gian hoàn thành công
việc.
Bước 2: Điều hành buổi sinh hoạt chuyên đề
+ Lựa chọn thời gian và tiến hành đúng theo thời gian đã chọn.
+ Tổ trưởng chuyên môn điều hành buổi sinh hoạt chuyên đề: Xác định rõ
mục tiêu buổi sinh hoạt, công bố chương trình, cách triển khai, định hướng thảo
luận rõ ràng; nêu rõ nguyên tắc làm việc; khêu gợi các ý kiến phát biểu của đồng
nghiệp; biết chẻ nhỏ vấn đề thảo luận bằng những câu hỏi dẫn dắt hợp lý; lắng
nghe, tôn trọng các ý kiến phát biểu.
+ Các thành viên được phân công viết các chuyên đề báo cáo nội dung.
Bước 3. Kết thúc buổi sinh hoạt chuyên đề
+ Tổ trưởng chuyên môn đánh giá những ưu điểm và tồn tại của chuyên
18


đề, phương hướng triển khai vận dụng kết quả của chuyên đề trong giảng dạy.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi sử dụng các biện pháp trên trong chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn,
tôi nhận thấy chất lượng sinh hoạt chuyên môn của nhà trường đã có chuyển biến
rõ rệt. Cả hai tổ chuyên môn đèu chủ động trong việc xây dựng kế hoạch. Kĩ

giáo viên, yêu cầu tất cả giáo viên trong tổ phải tham gia sinh hoạt chuyên môn,
phối hợp với nhau khi soạn bài, thực hiện dạy bài học nghiên cứu và báo cáo
19


chuyên đề; xây dựng, phát huy vai trò của giáo viên, từ đó xây dựng tổ chuyên
môn thành tổ chức học tập.
2. KIẾN NGHỊ:
- Bổ sung tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học và hướng dẫn nội
dung sinh hoạt chuyên môn để giáo viên có tài liệu sinh hoạt chuyên môn thiết
thực hơn
- Trang bị thêm một số đồ dùng trực quan có thẩm mỹ cao để tiết dạy
minh họa được sinh động hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nga Điền, ngày 16 tháng 4 năm
2019
Cam kết không coppi
Người viết

Mai Xuân Thống
Mai Xuân Thống

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liêu bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho tổ trưởng chuyên môn trường
Tiểu học- Tháng 10 năm 2018.

Nâng cao hiệu quả tiết dạy
học kể chuyện lớp 2

2.

Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)
Cấp Tỉnh

B

2008-2009

Cấp Tỉnh

B

2011-2012

Giáo dục và bảo vệ sức khỏe
học sinh ở trường Tiểu học
Nga Lĩnh

3.

Chỉ đạo giáo viên làm giàu
vốn từ, nâng cao hiệu quả tiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status