Các biện pháp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài bằng phiếu học tập nhằm nâng cao hứng thú khi tìm hiểu truyện ngắn hiện đại việt nam cho học sinh lớp 9 trường THCS đông tiến - Pdf 56

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dạy học theo hướng đổi mới hiện nay với phương châm phát triển năng lực
của học sinh, không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn
chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc
sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành,
thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo
hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng
lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,...), trên
cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể
chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù
của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng
phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận
thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”. Một trong những đặc trưng của
phương pháp này là chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo
khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận
để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới... Định hướng cho học sinh cách tư duy
như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen…
để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Như vậy để dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh giáo
viên đóng vai trò chỉ là người hướng dẫn còn học sinh phải chủ động, tự giác
sáng tạo tìm hiểu nội dung bài học có như vậy tiết học mới thành công. Để tạo
tâm thế chủ động trong giờ học, theo tôi, người học sinh phải có ý thức tốt trong
việc chuẩn bị bài trước ở nhà. Bởi khâu chuẩn bị bài trước khi đến lớp là vô
cùng quan trọng, nó giúp học sinh định hình được kiến thức, nhờ đó các em dễ
dàng tiếp thu hơn, hiểu rõ bài hơn, sâu hơn và lâu hơn.
Trong một giờ dạy học, người giáo viên dù có chuẩn bị công phu và giảng
hay đến đâu chăng nữa mà học sinh không chịu chuẩn bị bài, hoặc các em chuẩn
bị bài không kĩ, thì giờ dạy học đó cũng khó có thể được coi là thành công vì
chắc chắn sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn. Khâu chuẩn bị bài là

8 trường THCS Đông Tiến.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tôi đã sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận và thực nghiệm,
cơ bản gồm một số phương pháp sau:
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp khảo sát thực trạng.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích, so sánh, xử lí số liệu.
- Phương pháp thực nghiệm, tổng hợp.
2


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
1.1. Khái niệm Chuẩn bị bài
Trong các công trình Lý luận dạy học nói chung hay các công trình
Phương pháp dạy học văn nói riêng, các tác giả thường thống nhất quan
điểm: Một giờ dạy (giờ lên lớp) được chia làm bốn giai đoạn :
- Giai đoạn mở đầu tiết học;
- Giai đoạn nghiên cứu tài liệu mới;
- Giai đoạn củng cố kiến thức;
- Giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà.
Vậy xét về mặt lí luận dạy học, giai đoạn giao nhiệm về nhà có tầm quan
trọng trong quá trình dạy học. Trong đó sự chỉ đạo của thầy có ý nghĩa quan
trọng và được thực hiện theo nguyên tắc dạy học đảm bảo tính vừa sức chung
vừa sức riêng (ra nhiệm vụ cho phù hợp từng đối tượng học sinh). Trong giáo án
Ngữ văn hoạt động này được gọi là Hướng dẫn HS học bài ở nhà hay còn gọi là
“Dặn dò”.
Khâu dặn dò chuẩn bị bài gồm hai nội dung:
- Dặn HS học bài, làm bài tập nội dung kiến thức vừa được triển khai. Câu

- Giúp học sinh chuẩn bị tốt tư liệu để tham gia hoạt động học tập.
- Giúp học sinh hình thành kiến thức mới.
- Giúp giáo viên chủ động thời gian, chủ động thời gian hoàn thành tốt tiết
học.
1.2.3. Vai trò của PHT
- PHT kích thích học sinh chuẩn bị bài mới ở nhà một cách hiệu quả bằng
những định hướng cụ thể, hỗ trợ học sinh tìm kiếm và khai thác thông tin sự
kiện...nhờ đó mà tiết kiệm thời gian trên lớp, đặc biệt khi dạy các truyện ngắn
hiện đại.
- PHT là phương tiện tích cực rèn luyện kĩ năng cho học sinh. Để hoàn
thành nhiệm vụ trên phiếu học tập, học sinh phải rèn luyện kĩ năng hoạt động,
thao tác tư duy, so sánh, tổng hợp, phân tích, đánh giá, suy luận, khái quát, hệ
thống hóa.
- PHT phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện năng lực tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh. GV có thể sử dụng PHT giao cho mỗi cá nhân
hoặc nhóm học sinh, yêu cầu học sinh chủ động, tìm kiếm để hoàn thành nhiệm
vụ học tập được giao. Do đó PHT phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của
học sinh.
- PHT là phương tiện để tổ chức hoạt động học tập của học sinh nhằm lĩnh
hội, củng cố kiến thức đồng thời để duy trì sự hưng phấn, thích thú của học
sinh trong giờ học.
4


1.2.4. Cấu trúc và quy trình sử dụng PHT
* Cầu trúc:
- Mỗi PHT gồm có 2 phần chính: Yêu cầu của GV và kết quả học tập của
HS. Hai phần này thể hiện vai trò chủ đạo cảu GV và sự chủ động của HS.
- Yêu cầu trên PHT : vấn đề, kiến thức trọng tâm trên PHT, có thể dưới
dạng câu hỏi, sơ đồ, biểu bảng..yêu cầu HS thực hiện.


em đã không có sự hợp tác làm việc, không có sự phân công cụ thể từ giai đoạn
đoạn cuối của hoạt động này để bắt nguồn cho giai đoạn tiếp theo của bài học
mới. Vì vậy trong giờ học, GV khó phát huy hết được khả năng phát hiện và giải
quyết vấn đề giúp HS xử lí linh hoạt nhữnng tình huống, những yêu cầu khác
nhau.
Qua khảo sát thực tế (dự giờ thăm lớp) và thực tế giảng dạy của bản thân
nhều năm qua ở trường THCS Đông Tiến, tôi thấy:
2.1.1. Về phía giáo viên
- Đa số thầy cô giáo chọn cách hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà bằng
cách trả lời các câu hỏi ở phần cuối bài đọc hiểu văn bản vào một cuốn vở riêng
(Gọi là vở Soạn văn). Phương pháp này còn nặng về hình thức, HS sử dụng câu
hỏi SGK có suy nghĩ trả lời nhưng chưa thật hứng thú, đôi khi suy nghĩ áp đặt
tài liệu làm mất đi tính sáng tạo trong khi tiếp cận tác phẩm văn học.
- Trong giáo án Ngữ văn hiện nay cụm từ Hướng dẫn HS học bài ở nhà
(hoặc là cụm từ “dặn dò”) thường được thể hiện bằng một dòng ngắn ngủi: Về
nhà học bài và soạn bài tiếp theo. Thời lượng GV dành cho hoạt động ấy cũng
rất ít, thậm chí có giáo viên còn không kịp dặn dò HS vì hết thời gian tiết học.
- Khi giảng dạy các giờ đọc - hiểu văn bản, nhất là các văn bản truyện hiện
đại Việt Nam ở lớp 8, GV thường ít chủ động về mặt thời gian, xảy ra hiện
tượng “Cháy giáo án”. GV thật sự lúng túng trong việc phân phối thời gian
giữa các khâu, các phần. (Chẳng hạn như: Các phần tìm hiểu về tác giả, tác
phẩm; đọc văn bản; giải thích từ khó; tóm tắt văn bản…trong giờ còn nặng về
hình thức rất mất thời gian.) Dẫn đến phần tìm hiểu chi tiết văn bản chưa kĩ,
chưa phát huy hết tính sáng tạo cho HS trong giờ học. Giờ học ở các tiết này, vì
vậy thiếu chiều sâu, ít có liên hệ, so sánh.
2.1.2. Về phía học sinh
- HS có soạn bài, song đa số các em soạn theo cảm tính, thậm chí sơ sài.
Do đó, giờ học Ngữ văn HS càng ngày càng ít xung phong phát biểu xây dựng
bài. Đặc biệt là ở các lớp 8, 9. HS ngại trình bày ý kiến cá nhân dẫn đến giờ học

được phân phối học ở ngay đầu học kì I (Chương trình Ngữ văn 8) gồm 7 tiết:
- Tiết 1, 2: Tôi đi học
- Tiết 5, 6: Trong lòng mẹ
- Tiết 9: Tức nước vỡ bờ
- Tiết 13, 14: Lão Hạc
b. Nghiên cứu kĩ và nắm vững các kiến thức cần cung cấp cho HS ở các tiết
học nêu trên.
c. Nghiên cứu kí hệ thống câu hỏi Đọc - hiểu văn bản sau các văn bản học.
3.1.2. Biện pháp 2. Giáo viên nắm vững quy trình thiết kế PHT giao nhiệm
vụ về nhà cho học sinh
a. Xác định ý tưởng
7


Điều này thể hiện định hướng của GV về phương pháp dạy học, cách thiết
kế bài dạy trên lớp cho HS. Việc các định ý tưởng tiến hành bài học phải bao
quát những thao tác: Phân tích nội dung học tập, định hướng phương pháp, kĩ
thuật, biện pháp và hình thức dạy học, nhận thức môi trường và các điều kiện
hộc tập, cách thức tổ chức các PHT thành hệ thống như thế nào cho phù hợp. Nó
cũng phải cho thấy rõ vấn đề hay nhiệm vụ học tập chủ yếu của bài học.
b. Xác định cách trình bày nội dung học tập và hình thức thể hiện trong
PHT
Việc xác định vấn đề hay nhiệm vụ của bài học đã phải làm từ khi xây dựng
ý tưởng. Ở bước này cần cụ thể hóa và làm cho ý tưởng đó được chính xác hơn
trong nội dung các PHT. Tương ứng với các yêu cầu cần giải quyết vấn đề thì
HS cần thực hiện những thao tác nào, lựa chọn kiến thức ra sao…Từ đó xây
dựng bộ phiếu sao cho thích hợp với nội dung hệ thống câu hỏi Đọc – hiểu văn
bản của bài học, phù hợp về logic, cấu trúc và kĩ thuật.
Dưới đây là các dạng PHT áp dụng khi chuẩn bị bài trước khi học truyện
ngắn hiện đại Việt Nam từ 1930 -1945:

hệ giữa tác phẩm này và những tác phẩm khác cùng chủ đề mà em đã học, đã
đọc...
Dạng 2: Dạng vẽ sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh:
- Sơ đồ tóm tắt cốt truyện:
Nhân vật chính là ai?...............................................

Câu chuyện xảy ra ở đâu ?......................................
Nhân vật chính gặp phải vấn đề gì ?
…………………………………………………………
Điều gì xảy ra khi bắt đầu câu chuyện ?...............
Nhân vật chính đã phản ứng thế nào ?
…………………………………………………
Nhân vật chính đã giải quyết vấn đề như thế
nào ?...........................................................................
Vấn đề đã được giải quyết như thế nào …………………
- Sơ đồ thông tin cơ bản về nhà văn hoặc sơ đồ tính cách nhân vật:
Ví dụ :

9


Dạng 3: Dạng hình vẽ....
- Vẽ tranh theo tưởng tượng chân dung nhân vật trong tác phẩm (vận
dụng)
Đối với các dạng này, GV cho HS hoạt động ở nhà độc lập (cá nhân) như
một nhật kí đọc sách. Sau đó, HS trao đổi với bạn học (cặp hoặc nhóm nhỏ) để
làm phong phú hơn việc tìm tác phẩm trước ở nhà.
c. Tập hợp thông tin, dữ liệu
Các nguồn thông tin, dữ liệu có thể là có trong các tài liệu hướng dẫn
giảng dạy, sách hướng dẫn học tập, báo chí chuyên ngành, các tạp chí văn học…

3.2.2. Bước 2: Lựa chọn đối tượng HS để phát PHT yêu cầu các em
hoàn thành trước khi học các văn bản mới
Đây là bước rất quan trọng, GV cần có sự phân hóa các đối tượng HS để
phát PHT cho phù hợp. Ví dụ:
- Đối với HS yếu và trung bình trở lên: Phát PHT dạng 1.a, 1.b và dạng 2
- Đối với HS khá giỏi: Phát thêm PHT dạng 1.c.
- Đối với HS có năng khiếu: Phát PHT dạng 3.
3.2.3. Bước 3 : Tổ chức thảo luận, báo cáo nhóm hoặc cá nhân để xử lí
công khai trước lớp
Đây là hoạt động phát triển các kĩ năng học tập hợp tác, giúp HS thực hiện
nhiệm vụ chia sẻ và tương tác. Từ đó, các em nảy sinh nhiều ý tưởng hơn, nhiều
giải pháp hơn để việc học tập đạt hiệu quả cao nhất.
Đây cũng là hoạt động có ý nghĩa quyết định cho việc khai thác, khám phá
kiến thức cho giờ lên lớp tiếp theo. Nếu HS có sự chuẩn bị tốt sẽ có nhiều vấn
đề để các em trình bày quan điểm, chia sẻ kiến thức hoặc tranh luận, mở rộng
hay thậm chí có thể đặt lại CH đối với những vấn đề còn chưa rõ hoặc muốn sự
giải thích ở GV, người mà các em tin cậy.
GV cần có cách nhận xét, động viên khuyến khích các em chuẩn bị PHT
chất lượng, sáng tạo. Việc làm này thực sự đã khơi nguồn cảm hứng học tập cho
học sinh, kích thích sự chủ động tìm tòi, đào sâu suy nghĩ khi học Ngữ văn nói
chung, các văn bản truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói riêng.
Như tôi đã nói ở phần đặt vấn đề, các văn bản văn học Việt Nam nói chung
và văn bản truyện hiện đại nói riêng nếu người học không có sự chuẩn bị chu
đáo thì sẽ rất khó khăn trong việc tiếp nhận kiến thức mới. Qua các phiếu HT,
GV hướng dẫn và tổ chức cho HS chuẩn bị bài bằng cách làm việc, từ những
công việc cụ thể, vừa sức đến khám phá, phân tích, … hiệu quả giờ dạy - học
truyện ngắn hiện đại Việt Nam ở lớp 8 đạt hiệu quả hơn
4. Thiết kế PHT để giao nhiệm vụ về nhà qua một bài cụ thể
Ví dụ: Cuối tiết học văn bản “Tức nước vỡ bờ”(Trích “Tắt đèn” - Ngô Tất
Tố) - tiết 9, Ngữ văn 8, học kì I.

Tâm trạng lão
Hạc

Suy nghĩ
của ông giáo

.............................
.............................

............................
............................
..
............................
............................
............................
...
............................
............................

..........................
..........................

Sau khi
bán chó

.............................
.............................
.............................

Nhờ vả


............................
...
............................
............................
............................
...

..........................

.........................

..........................
..........................
..........................

.........................
.........................
.........................

PHT (4): Sơ đồ tính cách nhân vật lão Hạc

PHT (5) Tìm những câu văn thể hiện sự nhận thức của nhân vật ông giáo
về lão Hạc?
Từ đó nêu lên quan niệm của nhà văn Nam Cao về con người, về cuộc đời.
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………..........

PHT (6) Qua các nhân vật Chị Dậu trong văn bản “Tức nước vỡ bờ”, bé

- Thời gian tiến hành thực nghiệm: Tuân theo kế hoạch dạy học của nhà
trường và Thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan .
- Thực hiện dạy- học và quan sát học sinh trên lớp để thấy khả năng thực
hiện giáo án của giáo viên và hứng thú của học sinh.
Bước 5: Trao đổi – rút kinh nghiệm:
- Gặp gỡ, trao đổi với học sinh sau mỗi lần tiến hành thực nghiệm để đo
được mức độ hứng thú của các em trong mỗi giờ học.
- Gặp gỡ, trao đổi rút kinh nghiệm trong tổ chuyên môn.
5.2. Kêt quả thu được như sau:
5.2.1.Lớp không sử dụng PHT trong việc chuẩn bị bài
Lớp Sĩ số

8C

31

Số HS có
thái độ bình thường
với môn học.
SL Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %

Số HS hứng thú
với môn học
8

25,9

12

với môn học
20

55,5

10

27,7

Số HS
không hứng thú
với môn học
SL
Tỉ lệ %
6

16,8

Tóm lại, sử dụng PHT trong việc giao nhiệm vụ về nhà cho HS lớp 8A
chuẩn bị bài trước khi học các văn bản thuộc truyện ngắn hiện đại Việt Nam là
một trong những phương tiện giảng dạy hiệu quả chương trình Ngữ văn bậc
THCS. Cụ thể là:
a) Về phía GV:
- Tránh được tình trạng “cháy giáo án” khi giảng dạy các tiết thuộc truyện
ngắn hiện đại, tức là HS hoàn toàn chủ động về thời gian trong giảng dạy.
- Kiến thức truyền thụ sâu sắc hơn.
- Thực hiện tốt việc tương tác giữa thầy và trò trong tiết học. Đã chuyển
trọng tâm từ hoạt động của thầy sang hoạt động của trò.
- Phát huy tính chủ động sáng tạo cho HS trong giờ dạy học.
b) Về phía HS:

diễn.
Như vậy, có thể thấy được tính khả thi của sáng kiến kinh nghiệm này. Đề
tài đã thực sự phát huy được tính tích cực tự giác, tính sáng tạo, hứng thú học
tập của HS trong giờ học Ngữ văn, tư duy các em cũng phát triển hơn. Nhờ đó,
kết quả học tập bộ môn cũng được nâng cao.

16


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trong một giờ lên lớp giai đoạn nào cũng có những mục đích, chức năng
riêng. Khi định hướng thiết kế hoạt động dạy – học, GV phải chú ý phân bố
lượng thời gian hợp lí. Công việc cho từng giai đoạn phải được chú tâm thực
hiện trọn vẹn. Sự linh động, sáng tạo là điều cần thiết, nhưng thực hiện như thế
nào cũng phải bám sát nguyên tắc dạy học, không được xem nhẹ thậm chí bỏ
qua một giai đoạn nào (cụ thể là giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà) như chúng tôi
đã đề cập trong bài viết GV không nên chủ quan và “đổ” lỗi cho HS không thực
hiện các yêu cầu của mình khi chuẩn bị bài dạy trong khi chính mình lại thực
hiện một cách qua loa trước. Chuẩn bị bài bằng PHT là một cách làm hữu ích,
hỗ trợ học tập của học sinh có hiệu quả, kích thích được sự hứng thú học tập của
học sinh và góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Song, việc sử dụng phiếu
học tập trong nhà trường chưa nhiều. Do đó, chưa rút ra nhiều bài học kinh
nghiệm cần thiết.
3.2. Kiến nghị
Qua tổ chức thực hiện cũng như qua kết quả nghiên cứu bước đầu từ thực
tế giảng dạy, tôi có một vài kiến nghị, đề xuất như sau:
* Đối với giáo viên:
- Nghiên cứu này thực hiện trong giờ học Ngữ văn 8 là một giải pháp tốt
nhưng để sử dụng hiệu quả, đòi hỏi người GV phải biết thiết kế, sáng tạo những

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 03
năm 2019
Tôi cam đoan SKKN này là của bản
thân, không sao chép nội dung của
người khác.
Người thực hiện

Doãn Thị Thủy

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cùng học sinh khám phá qua mỗi giờ văn, Đặng Thiêm, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2005
2. Dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn THCS,
Nguyễn Xuân Nam (Luận văn- Đại học Vinh), 2012
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 8(Tập 1), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2005
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên phổ thông, chu kì 3,
Nguyễn Đức Thành, Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
5. Sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp tác (Nguyễn Thành Hưng)

19



Cấp huyện
Cấp huyện (Quyết định số
242/ QĐ- PGD ngày
10/05/2016 của trưởng
phòng GD&ĐT về việc
công nhận đề tài khoa học,
SKKN nghành giáo dục
năm 2018 – 2019.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status