Tích hợp kiến thức liên môn vào dạy văn bản nhật dụng môn ngữ văn lớp 8 cho học sinh trường THCS thị trấn thường xuân - Pdf 56

MỤC LỤC
Nội dung
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
2.
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
3.
3.1.
3.2.

Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị


Trung học cơ sở
Giáo dục công dân
Số thứ tự
Trung bình

2


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Học văn là học cách làm người, học cách giao tiếp, cách sử dụng ngôn ngữ
trong cả nói và viết nhằm đem lại hiệu quả giao tiếp tốt nhất vì văn học có vai trò
quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy, tình cảm của con người.
Mỗi tác phẩm văn học ngoài thể hiện những quan điểm, tư tưởng tình cảm
của con người về cuộc sống xã hội qua lăng kính chủ quan của nhà văn thì nó còn
có tính cập nhật những thông tin mang tính thời sự, gần gũi bức thiết trong đời
sống xã hội. Tuy nhiên để học sinh thấu hiểu được giá trị từ những tác phẩm văn
học cũng như tạo hứng thú học tập đối với học sinh là yếu tố, tâm huyết của mỗi
người giáo viên. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác
và ngược lại các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn. Điều đó đặt
ra yêu cầu cần thay đổi và vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với chương
trình đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS, trong đó phương pháp “Tích hợp liên
môn trong giảng dạy” nhằm phối hợp các tri thức, kĩ năng của một số môn học vào
trong bài dạy thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Ngữ Văn.
Dạy học theo chủ đề tích hợp là một trong những nguyên tắc quan trọng trong
dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng. Đây được coi là một quan niệm dạy
học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng
giáo dục (tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến
thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống). Dạy học tích hợp
làm cho người học nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất,

những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con
người và cộng đồng xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân
số, quyền trẻ em, ma tuý... Bởi thế trong một văn bản Nhật dụng được tìm hiểu ta
thấy sẽ có cả âm nhạc, hội họa, khoa học, sinh hoc, hóa học,…..
Dạy học văn theo hướng tích hợp kiến thức liên môn còn giúp giáo viên chủ
động hơn trong chuẩn bị thiết kế bài giảng; giúp học sinh có thói quen tìm hiểu,
biết vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết một vấn đề. Từ đó bồi dưỡng cho
các em học sinh tinh thần tự học, sáng tạo, bồi dưỡng tư duy, bồi dưỡng tâm hồn…
- Cách hướng dẫn này giúp cho đồng nghiệp:
 Hiểu rõ hơn về cách học sinh học; tác động của phương pháp dạy học
đến việc học của học sinh.
 Nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, chất lượng giảng dạy của
giáo viên.
 Cải tiến việc dạy học của giáo viên thông qua sự hợp tác có hệ thống
với các giáo viên khác trong trường.
 Phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên, kĩ năng sư phạm và
phát huy khả năng sáng tạo áp dụng các phương pháp dạy học tích cực
của giáo viên.
 Quan tâm và giúp đỡ những học sinh như trong ảnh.

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này, tôi nghiên cứu, tổng kết những biện pháp, cách thức
khi vận dụng quan điểm dạy học theo hướng tích hợp văn bản Nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn lớp 8 trường thcs Thị trấn Thường Xuân, Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê sử lý số liệu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

cao hiệu quả giáo dục.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng của việc dạy và học Ngữ văn nói chung và Văn bản Nhật dụng
nói riêng trong trường Trung học cơ sở hiện còn những tồn tại là nội dung của
nhiều bài giảng Ngữ văn chưa thực sự tạo được hứng thú học đối với học sinh,
nhiều bài học còn mang nặng kiến thức lý thuyết. Bên cạnh đó, học sinh còn hiểu
một cách rời rạc, hời hợt về kiến thức Ngữ văn, không nắm được mối liên hệ hữu
cơ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội, về kiến thức liên môn…
Về phía người dạy, vì đây là kiểu tích hợp, chuyên đề dù đã triển khai
nhưng để thực thi trên các tiết dạy thì chưa nhiều nên không phải giáo viên nào
cũng dễ dàng tiếp cận, thấu hiểu khi áp dụng vào thực tiễn giảng dạy. Hơn nữa,
kiểu dạy tích hợp liên môn này cần tỉ mỉ ngay từ khâu chuẩn bị bài nhưng không
phải ai cũng làm được điều này một cách chu đáo.
Soạn một bài theo cách tích hợp liên môn đòi hỏi người giáo viên cần có đủ
điều kiện, năng lực, chuẩn bị kĩ càng, mất rất nhiều thời gian từ sự hiểu biết,
chuẩn bị thiết bị dạy học, đồ dùng trực quan, thao tác máy chiếu cho quen... Rồi
đến quá trình giảng dạy, thực hành ngoại khoá nhiều giáo viên phân vân, lúng
5


túng: Liệu có đủ thời gian để "tích hợp" hay không? Cách lấy tư liệu phục vụ bài
giảng không phải dễ.
Hơn nữa, đây lại là chuyên đề từ nghiên cứu đến thực hành là quá trình lâu
dài không phải ngày một, ngày hai. Và điều quan trọng hơn nữa là hiệu quả của
việc áp dụng kiến thức liên môn chưa thu được kết quả khả thi do những khó khăn
nói trên. Vì vậy, giúp học sinh áp dụng chuyên đề, phương pháp dạy vào giải quyết
tình huống thực tiễn thì không phải dễ dàng gì. Kiến thức tích hợp đa môn học lại
rất khó, yêu cầu người dạy phải trau dồi, tìm hiểu, nghiên cứu bài học kĩ, thậm chí
phải cố gắng " học" lại đồng nghiệp của mình các môn không thuộc chuyên môn
như Toán, Tiếng Anh, Hoá, Lý...Bên cạnh đó, người dạy có thành thạo sử dụng các

giáo viên phải hướng dẫn các em nắm vững bản chất của cách học này:
- Giúp các em hiểu vận dụng kiến thức liên môn trong bộ môn Ngữ văn nói
chung và nhóm bài trên nói riêng là sự kết hợp nhiều môn trong một bài học Ngữ
6


văn, có nghĩa là trong tiết học Văn có cả kiến thức của Lịch sử, Địa lí, Giáo dục
công dân, Công nghệ, thậm chí cả Toán, Lí, Hoá...
- Học sinh sẽ được phát huy khả năng hiểu biết tuỳ năng lực, sở trường để
làm sáng tỏ nội dung, kiến thức của môn Văn, và các kiểu bài nói trên.
- Tuy vậy, cách thức vận dụng là quan trọng hơn vì nếu không khéo thì bài
học sẽ bị chẻ nhỏ, hàn gắn vụn vặt, thiếu chất văn vốn có của môn học.
Để giúp học sinh nắm được bản chất và yêu cầu của cách học tích hợp liên môn
trong bộ môn Ngữ văn, ngoài các bài từ khối 6, 7 gắn với kiến thức lịch sử, học
sinh có thể viết biểu cảm, hay miêu tả để ca ngợi, thể hiện tình yêu quê huơng đất
nước mình. Chương trình SGK lớp 8 có rất nhiều bài học có thể sử dụng phương
pháp dạy tích hợp liên môn nhưng nhóm Văn bản nhật dụng có thể sử dụng cách
dạy học này một cách thiết thực hơn. Tiết 39 lớp 8 - Văn bản Nhật dụng: Thông tin
về ngày trái đất năm 2000, các tiết khác trong cùng chùm bài Nhật dụng cũng có
thể sử dụng như Bài toán dân số, Ôn dịch thuốc lá, khi tổ chức dạy học những tiết
này, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, hiểu căn bản cách tích
hợp nhiều môn trong một bài học đặc biệt là nhóm bài, kiểu bài Nhật dụng.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh thực hiện cách tích hợp kiến thức liên môn trong tiết
học Ngữ văn, trong nhóm bài Văn bản Nhật dụng (Lớp 8).
- Hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài:
Chuẩn bị bài học tiết Ngữ văn có tích hợp các môn học đối với phân môn
Văn, đặc biệt là nhóm văn bản Nhật dụng, ngoài cách thông thường như soạn theo
câu hỏi Đọc- hiểu, các em còn cần tìm hiểu kĩ xem nội dung bài học cần đến những
kiến thức của các môn học nào nữa, nếu chưa hiểu, cần trao đổi với giáo viên dạy
các bộ môn trước khi soạn bài. Ở kiểu bài tích hợp liên môn này, các em còn phải

đoạn clip Phóng sự đặc biệt về tác hại của thuốc lá, kênh truyền hình Nhân dân; bài
“Bài toán dân số”, tôi cho học sinh xem một đoạn clip sự ra tăng dân số.Từ đoạn
phim xem, giáo viên khơi gợi để học sinh cảm nhận nội dung, từ đó vào bài mới.
Cách làm này vừa tăng tính hấp dẫn của bài, đồng thời học sinh cũng nhận thấy sự
gần gũi giữa văn bản Nhật dụng và cuộc sống.
Đưa câu hỏi tích hợp kiến thức liên môn vào phần Đọc- hiểu chú thích: Lần
lựơt giúp các em nắm vững kiển thức ngay ở phần đọc, tìm hiểu chú thích, ngoài
các câu hỏi SGK, người dạy cũng cần đưa ngay những câu hỏi tích hợp để học sinh
làm quen với cách dạy - học mới này:
Ví dụ: Trong phần chú thích trang 106, tiết 39 - bài “Thông tin về ngày trái
đất năm 2000”, và trang 121, tiết 45 - bài “Ôn dịch thuốc lá”, giáo viên nên sử
dụng câu hỏi để giúp học sinh giải thích đúng các từ khó liên quan đến môn Hoá
học như chất Ca-đi mi, hay Đi- ô- xin, Pla-xtic... chất Hắc ín, Ni- cô -tin hay kiến
thức môn Sinh học cho chú thích 2: Niêm mạc, 3: Nang phổi, 5: Vi khuẩn...(Ở tiết
46) phần Đọc - hiểu văn bản tương đối đầy đủ về kiến thức cơ bản nhưng nếu
muốn tích hợp liên môn, người dạy cần đưa thêm một số câu hỏi và chuẩn bị khá
nhiều hình ảnh minh hoạ, đồ dùng trực quan sinh động giúp cho bài học đỡ khô
cứng.
Nhóm câu hỏi chung cho phần này có dạng đơn giản như: "Các chú thích 2,
3, 5 trang 121(SGK), muốn hiểu được cần vận dụng môn học nào?" hay " Ca - đi –
mi” là chất gì? Nó có hại hay lợi cho sức khoẻ? Em hiểu được nhờ kiến thức môn
học nào?...
2.3.3 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản, luyện tập môn Ngữ văn (Nhóm
Văn bản Nhật dụng) có vận dụng kiến thức liên môn:
Thao tác của giáo viên phải hoàn toàn chủ động, sáng tạo, đúng cách từ khâu
kết hợp giảng giải, vận dụng liên môn học, nhận xét, bình luận và kết hợp với đồ
dùng trực quan như tranh ảnh, tư liệu... Làm thế nào để giúp các em tiếp thu một
cách chủ động kiến thức chính của bài học bằng nhiều kiến thức từ những môn học
khác, phối hợp các bộ môn với nhau trong một bài học Ngữ văn với mục đích làm
rõ hơn kiến thức môn chính và còn hiểu biết nhiều môn học khác là việc làm thiết

- Hỏi: Hãy viết bài luận thuyết phục mọi
người hành động vì Môi Trường - ngôi nhà
xanh của chúng ta.

Làm rõ nội dung
Văn bản
Nguyên nhân, tác
hại ni lông với môi
- Hoá, Sinh,trường đất, nước,
Địa
sinh hoạt và đời
sống, sức khoẻ con
người.
Môn học

Hóa
học, Lịch sử

Địa
sinh học

lý,

- Mỹ thuật,
Âm nhạc.
- Địa lí, Sinh
học, Hoá học,
GDCD

Luyện tập

- Sinh học,
Hóa học
- GDCD
- Toán học,
Địa lí
- GDCD
9


- Hỏi: ? Nếu trong gia đình em có một người
là bố (anh, ông…) nghiện thuốc , em sẽ làm
gì?
- Mỹ thuật
- Hỏi: Vẽ tranh tuyên truyền về tác hại của
thuốc thuốc lá

-

Luyện tập

Ví dụ: Khi dạy bài “ Bài toán dân số”, tôi sử dụng hệ thống câu hỏi như
sau:

Lựa chọn kiến thức tích hợp trong tiết học

Môn học

Làm rõ nội dung
Văn bản


- Hỏi: Vẽ tranh tuyên truyền về kế hoạch hóa
gia đình
Từ hệ thống câu hỏi (có sử dụng kiến thức liên môn) minh hoạ một số nội
dung văn bản Nhật dụng, học sinh nhận thức được một số vấn đề cập nhật quan
trọng trong đời sống xã hội, từ đó các em có ý thức khắc phục, giải quyết tình
huống thực tiễn như ngay trong gia đình, trường học hay trong địa bàn sinh sống
của mình.
Trong một tiết học minh họa cho dự án “Dạy học tích hợp liên môn”vào tiết
40 - chương trình Ngữ văn lớp 8, tập I - bài “Thông tin về ngày trái đất năm
2000”, có thể nói, về phía học sinh đã lĩnh hội được nhiều kết quả từ việc tiếp thu
kiến thức bài học nhờ có sự kết hợp nhiều môn học khác. Giáo viên khéo léo, gợi
mở những thông tin cơ bản của bài học, biến giờ Ngữ văn thành giờ học thực tế
10


đúng yêu cầu của một văn bản Nhật dụng trước một vấn đề đang bức xúc trong
toàn xã hội - Môi trường ô nhiễm bởi bao bì ni lông, khi hướng dẫn học sinh tiếp
thu bài, giáo viên lần lượt giúp học sinh từ việc tìm hiểu chung văn bản đến tìm
hiểu chi tiết, nội dung chính của mỗi văn bản sẽ được vận dụng linh hoạt kiến thức
của nhiều môn học. Phần luyện tập học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức đã học
để giải quyết vấn đề thực tiễn.
2.3.4. Tổ chức thực hiện
Là tiến trình thực thi bản kế hoạch phối hợp hữu cơ hoạt động của giáo viên và
học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp lí, khoa học, trong đó giáo viên giữ vai trò, chức
năng tổ chức, hướng dẫn, định hướng chứ không phải truyền thụ áp đặt một chiều. Học
sinh được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ,
nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến hành hoạt động tiếp cận, khám phá, chiếm lĩnh bài
văn, chuyển tác phẩm của nhà văn vào trong tư duy, cảm xúc của mình, biến tác phẩm
thành thế giới tinh thần, tình cảm của riêng mình để tự nhận thức, tự giáo dục và phát
triển theo mục đích, định hướng giáo dục của giáo viên.


- Kỹ năng liên kết các kiến thức giữa các phân môn.
3 Thái độ:
Qua tiết học:
- Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
- Giúp học sinh thêm yêu thiên nhiên và có ý thức bảo vệ thiên nhiên.
- Có những suy nghĩ tích cực về các vấn đề tương tự như vấn đề xử lí rác thải sinh
hoạt, một vấn đề khó giải quyết trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
- Yêu thích môn Ngữ văn cũng như các môn khoa học khác như: Giáo dục công
dân, Toán học, Hóa học, Vật lý, Sinh học, Âm nhac, Mỹ thuật.
II. CHUẨN BỊ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
1. Giáo viên
- Thiết bị dạy học: Máy chiếu + máy tính, phiếu học tập.
- Học liệu:
+ Kiến thức về tin học để soạn bài giảng trình chiếu Powerpoint.
+ Kiến thức Giáo dục công dân nhằm giúp học sinh có ý thức bảo vệ môi
trường, ủng hộ các biện pháp bảo vệ môi trường, phê phán đấu tranh với các hành
vi vi phạm Luật bảo vệ môi trường. Yêu thiên nhiên, tích cực bảo vệ thiên nhiên.
+ Kiến thức Âm nhạc với lời bài hát “Ngôi nhà của chúng ta” sẽ tuyên
truyền mọi người cùng nhau bảo vệ màu xanh trái đất với mặt trời, biển, dòng
sông, cánh rừng xanh.
+ Kiến thức Hóa học giúp học sinh nhận biết và giải thích được một số từ
khó: Phân hủy, Plaxtic, điôxin,…
+ Kiến thức Sinh học giúp học sinh giải thích một số thuật ngữ: Tuyến nội
tiết, dị tật bẩm sinh,....Học sinh hiểu một số hiện tượng bao bì ni lông lẫn vào đất
cản trở sự phát triển của thực vật, của rễ cây, ngăn ngừa sự trao đổi chất và sự hút
nước và muối khoáng của rễ cây.
+ Kiến thức Mĩ thuật giúp học sinh Học sinh vẽ tranh đề tài cuộc sống
quanh em, chủ đề giữ gìn vệ sinh môi trường bảo vệ môi trường sống và tuyên
truyền về việc hạn chế sử dụng bao bì ni lông.

Tích hợp kiến thức Địa lí, Hóa học
b. Thuật ngữ khoa học:
GV cho học sinh giải nghĩa từ khó.
- Phân hủy.
Chú ý chú thích(1) Phân hủy là hiện tượng - Pla-xtic – chất dẻo.
hóa học phân chia thành những chất khác - Ca-đi-mi.
nhau không còn mang tính chất của chất
- Đi-ô-xin.
ban đầu.
- Tuyến nội tiết.
Chú thích (2) Pla-xtíc –chất dẻo: còn gọi - Miễn dịch.
chung là nhựa –là những vật liệu tổng hợp
gồm các phân tử gọi là pô-li-me. Túi nilông chủ yếu được sản xuất từ hạt pô-li-êti-len(PE), Pô-li-prô-pi-len (pp) và nhựa
tái chế. Nó có đặc tính là không thể tự
phân hủy (không biến đi đâu được).
Không giống như chất thải sinh hoạt giấy
và thực vật .Chất dẻo này có thể tồn tại từ
20 đến trên 5000 năm.
? Em hãy cho biết Thông tin về Ngày Trái
Đất năm 2000 thuộc kiểu văn bản nào?
? Nhắc lại văn bản nhật dụng là gì?
c. Kiểu văn bản: Nhật dụng.
- Văn bản nhật dụng: Nêu những vấn đề
thời sự diễn ra trong cuộc sống hàng ngày,
mang ý nghĩa thiết thực đối với nhân loại.
? Thể loại?
d. Thể loại: Nghị luận có sử dụng
yếu tố thuyết minh.
? Đoạn trích có thể chia bố cục ra làm mấy e. Bố cục:
phần?

dùng bao bì ni lông.

II. Đọc - Tìm hiểu văn bản:
1. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến
hạn chế và không dùng bao bì
nilông.

GV cho học sinh xem tranh ảnh về việc
sử dụng bao bì nilông.

? Bằng sự hiểu biết kết hợp với các hình
ảnh trên, em hãy cho biết bao bì nilông có
tác dụng gì?
+ Rẻ, tiện dụng, nhẹ,…
à Liệu bao bì nilông có ích chăng? và Tại
sao Việt Nam lại lấy chủ đề “Một ngày
không dùng bao bì nilông” nói riêng và thế
giới nói chung lại nan giải trước bài toán
xử lí bao bì nilông – rác thải sinh hoạt thì
chúng ta đi vào tìm hiểu đặc tính của nó.
Tích hợp môn Hóa học, Sinh học, Địa lí
14


? Đặc tính cơ bản của bao bì nilông là gì?
? Chất Platic là gì? Chất này khi lẫn vào
môi trường đất nó sẽ như thế nào và tạo ra
tác hại gì?
GV chiếu thông tin, phát phiếu học tập và
cho học sinh thảo luận nhóm (5 phút)

Ÿ Đựng thực phẩm:
P Tác hại cho não.
P Nguyên nhân gây ung thư phổi.
Ÿ Khi đốt:
P Ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra
máu.
P Ảnh hưởng đến các nội tiết tố.

- Tính không phân hủy của platic à
Tác hại:

+ Môi trường:
Ÿ Cản trở quá trình sinh trưởng của
các loài thực vật.
Ÿ Cản trở sự phát triển của cỏ à
hiện tượng xói mòn.
Ÿ Tắc nghẽn các đường nước thải,
làm tăng khả năng ngập lụt ở các đô
thị vào mùa mưa.
Ÿ Làm chết các sinh vật khi chúng
nuốt phải.

+ Sức khỏe của con người:
Ÿ Muỗi phát sinh à lây truyền dịch
bệnh.
Ÿ Đựng thực phẩm:
P Tác hại cho não.
P Nguyên nhân gây ung thư phổi.
Ÿ Khi đốt:
P Ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn


Tích hợp kiến thức Giáo dục công dân
Gv Chiếu hình ảnh nhằm giáo dục học
sinh bỏ rác đúng nơi quy định.

16


Nhóm 2 trình bày nhóm 2 nhận xét –
Học sinh chất vấn – GV nhận xét ghi
bảng.
- Chôn lấp: Túi nilông chủ yếu được sản
xuất từ hạt PE(Pô-li-e-ti-len), PP(Pô-liprô-pli-en) và nhựa tái chế, các loại
nilông, nhựa có một đặc điểm là không tự
phân hủytức không biến đi đâu được
không giống như chất thải, giấy, thực vật
(cuống rau, vỏ các loại quả, bã chè,…)
chất dẻo không thể bị côn trùng các mầm
sống khác phân hủy, nó có thể tồn tại từ 20
đến 500 năm. Mỗi năm có đến hơn
400.000 tấn Po-li-ti-len được chôn lấp tại
miền bác nước Mỹ. Nếu không phải chôn
các loại rác này sẽ có biết bao đất để canh
tác?
- Đốt: Phương pháp đốt rác thải ở Việt
Nam chưa được phổ biến. Tuy nhiên, việc
đốt rác thải nhựa, nilông lại có thể làm
phát sinh các hiện tượng cực kì nguy
hiểm. Do phải đốt rác ở nhiệt độ cao, các
chất dẻo có thể tác dụng với các chất xúc

nhiều hơn lợi, tổn thất, mất mát nhiều hơn
nhiều lần so với lợi.
Chúng ta phải làm gì để hạn chế việc bao
bì nilông thải ra môi trường xin mời nhóm
3.
Nhóm 3 trình bày, GV nhận xét ghi
bảng.
Hạn chế việc dùng bao bì nilông bằng
cách:
- Thay đổi thói quen sử dụng bao bì nilông
(giặt phơi khô dùng lại).
- Không sử dụng bao bì nilông khi không
cần thiết.
- Sử dụng chất liệu khác thay cho túi đựng
bằng nilông.
- Tìm giải pháp hạn chế tác hại của bao bì
nilông.

Biện pháp
- Hạn chế tối đa dùng bao ni lông
- Sử dụng các túi đựng không phải
bằng ni lông.
- Thông báo tác hại của sử dụng bao
ni lông cho mọi người.

2. Kiến nghị về việc bảo vệ môi
? Phần cuối văn bản, người viết đã kiến trường Trái Đất
- Bảo vệ trái đất khỏi nguy cơ ô
nghị gì?
- Nhiệm vụ to lớn của chúng ta là bảo vệ nhiễm.

III. Tổng kết:
1. Ý nghĩa văn bản:
Nhận thức về tác dụng của một hành
động nhỏ, có tính khả thi trong việc
bảo vệ môi trường trái đất.
2. Nghệ thuật:
? Nêu tác dụng của cách thuyết minh này? - Văn bản giải thích rất đơn giản,
- Vừa mang tính khoa học, vừa mang tính sáng tỏ tác hại của việc dùng bao bì
thực tiễn, sáng rõ, ngắn gọn, nên dễ hiểu, ni lông, và lợi ích việc giảm bớt chất
thải ni lông.
dễ nhớ.
- Ngôn ngữ diễn đạt sáng rõ, chính
xác, thuyết phục.
IV. Luyện tập
Hoạt động 4: Luyện tập
Tích hợp Mĩ thuật, Địa lí, Sinh học, Hóa
học, Giáo dục công dân
GV cho học sinh vẽ tranh và viết bài luận
thuyết phục mọi người hành động vì Môi
Trường - ngôi nhà xanh của chúng ta (chia
lớp làm 3 nhóm)
IV. DẶN DÒ, HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ
- Học bài và nắm vững nội dung của bài
- Tập viết đoạn văn ngắn với lời kêu gọi hãy hãy bảo vệ mội trường
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, với đồng nghiệp và nhà trường
19


Sau khi sử dụng phương pháp tích hợp liên môn vào những văn bản Nhật

“ Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”, giáo viên ngoài việc cho học sinh làm sơ
đồ tư duy còn có thể để các em thiết kế “thời trang tái chế” từ bao bì ni lông, hoặc
làm túi đựng đồ từ vật dụng thân thiện với môi trường.
Kết quả chất lượng bộ môn: Sau khi áp dụng đề tài, tôi tiến hành thống kê
kết quả học tập bộ môn trong năm học 2017 - 2018 và so sánh kết quả của lớp có
áp dụng đề tài và lớp không áp dụng, kết quả thu được như sau:
Lớp có áp dụng đề tài:

STT
LỚP
TS HS
Giỏi
1
8A
26
24
2
8B
38
8
Lớp không áp dụng đề tài:

Khá
2
12

TB
0
18


0 20


Đối chiếu kết quả tôi thấy sau khi áp dụng đề tài, chất lượng môn Ngữ văn
tăng lên rõ rệt, số điểm khá (8, 9) có nhiều hơn; tỉ lệ học sinh Giỏi, Khá tăng; số
học sinh Yếu, Kém cũng giảm đi khá rõ. Điều đó chứng tỏ rằng các em đã hiểu
được vai trò vị trí, ý nghĩa cũng như mục đích của việc học Văn bản Nhật dụng,
các em đã biết liên hệ thực tế, biết tích hợp với các phân môn Tập làm văn - Tiếng
Việt, các môn học khác như Hóa, Địa, Sinh, Âm nhạc…nhằm tìm hiểu nội dung
văn bản. Điều đó giúp học sinh nhận thấy việc học cũng như tri thức được cung
cấp trong trường học có tính hệ thống và mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với
nhau.
So sánh đối chứng :

Trước khi áp dụng kinh nghiệm
- Học sinh không cảm thấy thích học
môn Văn.
- Lớp học thụ động ít học sinh tham
gia (chỉ vài em học khá, giỏi )

Sau khi áp dụng kinh nghiệm
- Học sinh có cách nhìn mới hơn, yêu
thích học môn Văn hơn.
- Hoạt động tích cực, tham gia thảo
luận sôi nổi,vui vẻ; thậm chí các nhóm
học sinh có thể tự chuẩn bị và thuyết
trình một vấn đề trong bài học khá
- Việc học đôi khi bó hẹp trong sách thuyết phục.
giáo khoa.
- Giáo viên đưa yêu cầu, học sinh tích

có sự quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất để những tiết dạy học của thầy trò làm
việc có chất lượng và hiệu quả.
Phần trình bày cũng như minh họa được chuẩn bị cẩn thận với lòng trân
trọng và xin được xem như một sự thể nghiệm. Vì thế, có thể do một số tồn tại chủ
quan như thiếu kinh nghiệm thực tế, kiến thức còn giới hạn, khả năng lĩnh hội, khai
thác tư liệu tham khảo có thể chưa sâu, cách trình bày cũng như lí giải vấn đề của
tôi chắc chắn không tránh khỏi một số sơ sót, khiếm khuyết. Vì vậy rất mong nhận
được sự hỗ trợ, sự chia sẻ, lưu tâm chỉ bảo của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp
để việc vận dụng phương pháp “ Tích hợp liên môn trong dạy và học Văn bản Nhật
dụng” của tổ bộ môn được thực hiện một cách hiệu quả và hoàn chỉnh hơn trong
công việc dạy - học ở nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thường Xuân, ngày 02 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến

Quách Thị Loan

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8
2. Sách Giao viên 8
22


3. Tài liệu tích hợp liên trong dạy học THCS
4. Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn THCS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status