SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CẨM THỦY 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN NÂNG CAO
HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY - HỌC
LỊCH SỬ LỚP 10 THPT.
Người thực hiện: Nguyễn Lương Oanh
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Lịch sử
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................. ...... Trang 1
1. Lí do chọn đề tài................................................................... ....... ..... Trang 1
2. Mục đích nghiên cứu............................................................ ....... .... Trang 2
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................... ...... ... Trang 2
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................... Trang 2
PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN......................................................... Trang 3
1.Cơ sở lí luận ..................................... .............................................
Trang 3
2.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu ...............................................
Trang 3
quan trọng giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, góp phần không nhỏ
hình thành nhân cách và lý tưởng sống cho học sinh. C.Mác đánh giá vai trò của
Lịch sử “Là cô giáo của cuộc sống”, “Là bó đuốc soi đường đi đến tương lai”.
Tuy nhiên, hiện nay môn Lịch sử trở thành môn học ít được học sinh quan tâm
lựa chọn dẫn đến lơ là không chú ý. Vì vậy môn Lịch sử vẫn chưa được nhìn
nhận một cách đúng đắn để xứng tầm với vị trí của nó.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng trên, theo tôi có nhiều yếu tố tác
động đến quá trình dạy - học bộ môn Lịch sử ở trường THPT như: yếu tố gia
đình, xã hội, nhà trường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh
chưa thực sự hứng thú trong học tập bộ môn Lịch sử vì: giáo viên còn để giờ học
khô khan, nặng về thuyết trình kiến thức trong SGK, chưa thực sự đổi mới
phương pháp dạy học theo chiều hướng tích cực “lấy học sinh làm trung tâm”.
Việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như: ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học, dạy học theo dự án, dạy học tích hợp liên môn vẫn chưa phát
huy hiệu quả.
Để khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy và học bộ môn Lịch sử ở
trường THPT hiện nay, nhằm gây hứng thú cho học sinh, ngoài việc sử dụng
những phương pháp - kĩ thuật dạy học hiện đại, giáo viên cần khai thác, sử dụng
kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử để bài giảng trở nên sinh động và có
sức hấp dẫn đối với học sinh.
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn nêu trên, qua những năm trực tiếp giảng
dạy ở trường THPT Cẩm Thủy 3, tôi luôn trăn trở, tìm tòi, ứng dụng những
phương pháp - kĩ thuật dạy học hiện đại nhằm thu hút sự chú ý của học sinh
trong giờ học để nâng cao chất lượng bộ môn. Với việc khai thác và sử dụng
kiến thức liên môn trong dạy - học lịch sử, tôi nhận thấy, đây là một phương
pháp dạy học có thể kết hợp sử dụng kiến thức của nhiều môn học bổ sung cho
bài học lịch sử, giúp học sinh hiểu biết một cách toàn diện, đa chiều, sâu sắc hơn
về lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả bài học, gây hứng thú cho
học sinh.
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy
các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
+ Thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh qua giờ học lịch sử có sử
dụng kiến thức liên môn.
+ Dự giờ đồng nghiệp, trao đổi, rút kinh nghiệm trong tổ chuyên môn về
việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy - học lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Nghiên cứu các tài liệu lí luận đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường
THPT .
+ Tham khảo giáo án của đồng nghiệp, thiết kế bài giảng của các chuyên gia.
+ Tham khảo, tìm hiểu kiến thức các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở
trường THCS, THPT, và các loại hình nghệ thuật có liên quan đến bài học lịch sử.
4
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận.
Trong quá trình học tập ở nhà trường, học sinh được trang bị những kiến
thức cơ bản về các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Mỗi môn học đều
có vai trò và tác dụng quan trọng để hình thành và phát triển tri thức, nhân cách
toàn diện cho học sinh. Đặc biệt giữa các môn học trong nhóm có mối quan hệ
bổ trợ kiến thức cho nhau. Để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất
lượng bộ môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay, giáo viên cần phải sử dụng kiến
thức liên môn để bài học được cụ thể và sinh động hơn.
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy - học lịch sử là một phương pháp
dạy học theo hướng hiện đại, giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy học tích
cực này trong dạy - học lịch sử ở trường THPT, nhằm nâng cao hiệu quả bài học.
Theo quy luật khách quan trong giáo dục, giữa các môn học có mối quan hệ với
nhau, tạo cho học sinh một tư duy phong phú, một cách suy nghĩ vận động bằng
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử còn giúp giáo viên luôn
có ý thức tự học để nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm.
2.1.2. Đối với học sinh
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử sẽ nâng cao tính chủ
động, tích cực, sáng tạo cho học sinh; đồng thời giúp các em có thể mở rộng và
khắc sâu hơn kiến thức bài học.
Hình thành cho học sinh kĩ năng sống, quan điểm nhận thức đúng đắn về
vai trò, vị trí và tác dụng của các môn học trong nhà trường phổ thông để bản
thân các em luôn nỗ lực cố gắng trong học tập.
2.2. Khó khăn
2.2.1. Về phía giáo viên
Nội dung chương trình lịch sử ở trường THPT hiện nay với khối lượng
kiến thức tương đối nặng, việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử
để bài học đạt hiệu quả là việc hoàn toàn không dễ dàng đối với giáo viên vì yếu
tố thời gian.
Để thực hiện tiết học có sử dụng kiến thức liên môn đòi hỏi giáo viên phải
đầu tư nhiều thời gian soạn giáo án (đặc biệt là những tiết học có sử dụng công
nghệ thông tin). Yêu cầu giáo viên phải có những hiểu biết nhất định về các môn
khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội, các môn nghệ thuật kết hợp với
những kĩ năng và thao tác sư phạm cần thiết như: vẽ bản đồ, đọc thơ, kể chuyện,
hùng biện, thuyết trình,…để làm cho bài học trở nên sinh động.
2.2.2. Về phía học sinh
Với đặc thù là học sinh trường THPT khu vực miền núi nên năng lực học
tập của các em còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc sử dụng kiến thức liên môn trong
dạy - học lịch sử cũng gặp không ít khó khăn.
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy - học lịch sử yêu cầu học sinh phải
có tinh thần tự giác trong học tập, thái độ làm việc nghiêm túc, sáng tạo, có tư
duy độc lập. Nếu học sinh học một cách thụ động, không hợp tác với giáo viên
sẽ làm cho bài học trở nên kém hiệu quả.
Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu trên đối với học sinh của trường
lại cách tính diện tích hình tròn, hình tam giác, thể tích hình cầu,… để cũng cố
kiến thức bài học.
Về số học: Người Lưỡng Hà đã có những phát minh quan trọng về số
học như: tính được các phép tính cộng, trừ, nhân, chia cho đến một triệu. Người
Ấn Độ đã phát minh ra số 0.
Những phát minh về toán học của cư dân phương Đông thời cổ đại đã có
ý nghĩa và tác dụng rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người.
Việc vận dụng những hiểu biết về toán học đã giúp con người có thể xây dựng
được các công trình kiến trúc độc đáo, vĩ đại như: Kim Tự Tháp - Ai Cập; vườn
treo Babilon - Lưỡng Hà,… giúp cư dân phương Đông đo đạc, phân chia đất
đai, phục vụ cho việc trao đổi buôn bán hàng hóa,…. Qua những hiểu biết về
kiến thức toán học, giúp học sinh có sự nhìn nhận đa chiều hơn về lịch sử, các
em khâm phục những phát minh về khoa học tự nhiên của con người thời kì cổ
đại, biết trân trọng những giá trị của lịch sử.
Ví dụ 2: Bài 4 - SGK 10 (Cơ bản). Các quốc gia cổ đại phương Tây Hilạp và
Rô-ma. Mục 3.b – Sự ra đời của khoa học.
Khi giới thiệu những thành tựu toán học của người Hilạp và Rô-ma, giáo
viên cho học sinh thấy được những phát minh cụ thể về toán học của người
Hilạp và Rô-ma rồi khẳng định: những phát minh về toán học của cư dân cổ đại
phương Tây cao hơn so với phương Đông vì: Những phát minh khoa học của
cư dân phương Tây về toán học có tính khái quát cao thành những định lí, định
đề gắn liền với tên tuổi của những nhà khoa học vĩ đại.
Về hình học: Định lí Ta-lét, Pi-ta-go, tiên đề Ơ-cơ-lít về đường thẳng
song song,... Giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc lại những định lí, định đề
trên để kiểm tra những hiểu biết của học sinh về toán học.
Ta lét: (khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN), là một triết gia, một nhà toán
học người Hy Lạp, người đứng đầu trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp. Ông
7
được mệnh danh là "cha đẻ của hình học". Có thể nói hầu hết kiến thức hình
học ở cấp trung học cơ sở hiện nay đều đã được đề cập một cách có hệ thống,
chính xác trong bộ sách Cơ sở gồm 13 cuốn do Ơ-clit viết ra, và đó cũng là bộ
sách có ảnh hưởng nhất trong Lịch sử toán học kể từ khi nó được xuất bản đến
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. {5}
GV tiếp tục vận dụng kiến thức Toán hình minh họa bằng hình vẽ:
9
và phát biểu tiên đề Ơ-clit về đường thẳng song song (//): Qua một điểm ở ngoài
một đường thẳng chỉ có một đường thẳng song song với đường thẳng đó. {6}
Qua những hiểu biết về toán học của các em trong bài học lịch sử giúp
học sinh có sự nhìn nhận và đánh giá toàn diện, sâu sắc hơn về lịch sử, làm cho
giờ học trở nên sôi nổi. Giáo viên đã phát huy được tính tích cực và chủ động
của học sinh.
3.1.2. Sử sụng kiến thức Vật lý trong dạy - học lịch sử
Ví dụ 1: Bài 1 - SGK 10 (Cơ bản). Sự xuất hiện loài người và bầy người
nguyên thủy.
Khi chứng minh nguồn gốc xuất hiện tổ tiên loài người trên thế giới cách
ngày nay qua hàng triệu năm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích của
người nguyên thủy qua các di vật, di cốt như: xương hóa thạch, công cụ đồ đá,
đồ đồng, các lớp trầm tích như gạo cháy, tro bếp; các công cụ, đồ dùng thường
ngày trong cuộc sống của người nguyên thủy như: dìu, dao, cày, cuốc, đồ gốm,
tranh đá, đàn đá, trống bịt da,... học sinh sẽ đặt câu hỏi cho giáo viên như sau:
Dựa vào đâu mà người ta lại xác định được khoảng thời gian xuất hiện của loài
người qua hàng triệu năm? Xác định được thời gian xuất hiện các công cụ lao
động, cũng như di cốt hóa thạch của người nguyên thủy?
Giáo viên sẽ giải thích cho học sinh hiểu rằng: ngày nay, do sự tiến bộ của
vật lý, con người đã ứng dụng vào cuộc sống và sản xuất như xây dựng các
công trình kiến trúc, đóng tàu, phát minh ra La bàn, thuốc súng,…
Qua việc sử dụng những hiểu biết về kiến thức vật lý bổ sung cho bài
học, đây là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị làm cho bài học lịch sử trở nên cụ
thể, sinh động hơn, thu hút sự quan tâm và chú ý của học sinh.
3.1.3. Sử dụng kiến thức Hóa học trong dạy - học lịch sử
Trong dạy - học lịch sử, ở một số bài, một số phần lịch sử thế giới có liên
quan đến kiến thức của bộ môn Hóa học. Vì vậy, trong quá trình thực hiện bài
dạy, giáo viên cũng cần khai thác và sử dụng những hiểu biết của mình về bộ
môn Hóa học để giải thích hoặc minh họa cho các hiện tượng, nội dung lịch sử,
làm cho bài học trở nên sâu sắc hơn.
Ví dụ 1: Khi học phần lịch sử thế giới cổ - trung đại của thế giới và Việt Nam
SGK 10 (Cơ bản). Với những công cụ bằng đồ đồng, đồ sắt, các di cốt hóa
thạch của người nguyên thủy cho đến các tài liệu thành văn như giấy gió, tranh,
sách, thư tịnh cổ,… mà các nhà nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử đã tìm thấy từ
nhiều thế kỉ trước. Vậy, câu hỏi đặt ra cho giáo viên phải giải thích để học sinh
rõ làm sao con người có thể lưu giữ được những công cụ, sản phẩm đó của lịch
sử qua thời gian hàng trăm năm, vài trăm năm? Giáo viên có thể giải thích hiện
tượng này như sau: nhờ có những ứng dụng về công nghệ hóa học hiện đại đã
giúp con người có thể bảo quản tốt các tư tiệu thành văn, các công cụ mà con
người đã tìm thấy được để gìn giữ và bảo quản tốt qua thời gian.
Với việc giải thích những hiện tượng trên trong bài học, học sinh sẽ thấy
được vai trò quan trọng của môn Hóa học khi được vận dụng để nghiên cứu và
11
tìm hiểu về lịch sử sẽ rất thú vị. Thông qua những hiểu biết về kiến thức hóa
học, các em sẽ hiểu biết nhiều hơn về lịch sử. {9}
Ví dụ 2: Bài 34 - SGK 10 (Cơ bản). Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa. Mục 1- Những thành tựu về khoa học - kĩ thuật cuối thế kỉ XIX
sẽ được thuyết phục với quan điểm và lí luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử để giải
thích con người có nguồn gốc từ động vật. Các em có đủ lí luận và bằng chứng khoa
học để phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm cho rằng, nguồn gốc của con
người do thượng đế hay chúa trời sinh ra là thiếu cơ sở khoa học. {11}
Charles Robert Darwin ( (12 /2/1809 – 19 /4/ 1882)
Sự tiến hóa của con người
3.2. Phương pháp sử dụng kiến thức Văn học trong dạy - học lịch sử
Văn học và Lịch sử có mối quan hệ khăng khít với nhau, người ta vẫn
thường nói một cách hình ảnh “Văn - Sử” bất phân. Đặc điểm nổi bật của văn
học là mang giá trị biểu cảm và chứa đựng tính hàm súc. Các tác phẩm văn học
là nguồn tư liệu quan trọng đối với việc dạy - học lịch sử, có ý nghĩa to lớn trong
việc giáo dục, giáo dưỡng đối với học sinh. Bằng những hình tượng cụ thể, văn
học có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng người học. Không ít những tác phẩm văn
học tự nó là nguồn tư liệu lịch sử quý giá. Sử dụng văn học là nguồn tư liệu
13
trong dạy - học lịch sử sẽ làm cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn, góp
phần không nhỏ trong việc nâng cao hứng thú cho học sinh, khắc phục tính hàn
lâm, khó hiểu của lịch sử.
Ví dụ 1: Bài 14 - SGK10 (Cơ bản): Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt
Nam. Mục 1 - Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc.
Để khôi phục lại bức tranh quá khứ của cha ông về thời kì đầu dựng nước,
giáo viên nên sử dụng những hiểu biết của mình về Văn học dân gian để bổ trợ
cho bài học lịch sử, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn đối với học
sinh. Khi giới thiệu về nhà nước Văn Lang, giáo viên có thể minh họa thêm một
số câu chuyện cổ tích về tổ tiên, cội nguồn, dòng giống của dân tộc như: “Con
Rồng cháu Tiên”, “Bánh chưng, Bánh dày”,… Qua những câu chuyện đó sẽ góp
thức độc lập tự chủ.
Ví dụ 2: Bài 19 - SGK10 (Cơ bản): Những cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm ở các thế kỉ X- XV. Mục I. 2, Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý.
Giáo viên sử dụng kiến thức văn học để phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà.
Phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Theo Lịch sử Việt Nam, tập 1,NXB khoa học xã hội)
Tương truyền, năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy
xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông
Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn.
Nhiều trận chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được
phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường
Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát, ở phía nam bờ sông, giả
làm thần đọc vang bài thơ trên. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường
Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến đánh thẳng vào trại
giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Việt đang lên, quân Tống chống đỡ
yếu ớt, số bị chết, bị thương đã quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang
nghị hoà, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ
vững bờ cõi Đại Việt. Một số nhận định xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc
lập đầu tiên của Việt Nam. {14}
15
liªn minh cña 15 bé l¹c ë B¾c vµ B¾c trung bé, trong ®ã bé l¹c
16
Văn Lang là bộ lạc mạnh nhất (lu vực sông Hồng). Nhà nớc Văn
Lang ra đời mở đầu thời đại dựng nớc và giữ nớc của dân tộc
ta.
Nc Vn Lang thuc b tc Lc Vit ó hỡnh thnh trờn vựng bỡnh nguyờn bao gm ng bng sụng Hng, ng
bng sụng Mó v ng bng Sụng Lam. {16}
Sau quc gia Vn Lang l quc gia u Lc. Lónh th u Lc m rng hn so
vi Vn Lang.
Sau khi chim c Vn Lang, Thc Phỏn ó sỏt nhp Vn Lang vo t ca mỡnh, nc u Lc cú lónh th
t phớa nam sụng T Giang (Qung Tõy,Trung Quc) kộo xung tn dóy Honh Sn thuc H Tnh ngy nay {17}
Sau đó GV chốt ý: tuy cùng một thời kì lịch sử nhng nhà
nớc Âu Lạc phát triển cao hơn nhà nớc Văn Lang (quân đội
mạnh, vũ khí tốt, thành Cổ Loa kiên cố, vững chắc). Nh ú nhõn
dõn u Lc ó tin hnh khỏng chin chng ngoi xõm ginh thng li.( Khỏng
chin chng Triu nm 179TCN). Cui cựng nh Triu dựng k sỏch M
nam k. Cng t õy, cỏc triu i phong kin phng Bc t Triu n ng
17
thay nhau đô hộ nước ta- đó chính là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần 1000 năm
trên đất nước ta.
3.4. Phương pháp khai thác và sử dụng kiến thức hội họa trong dạy - học
lịch sử.
hủy diệt), Ganesha (phúc thần đầu người mình voi)... hoặc đấy còn có thể là các
vị Phật. Điều này tùy thuộc vào lòng tin và kính mộ của mỗi vì vua ở các triều
đại khác nhau. Ở thánh địa Mỹ Sơn hiện nay phần lớn là công trình kiến trúc tôn
giáo thờ các vị thần thuộc Ấn Độ giáo và Bà la môn giáo {18}
Ví dụ 2: Bài 31 - SGK 10 (Cơ bản). Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII.
Phần I. Mục 1 - Tình hình kinh tế - xã hội.
Để nêu lên những nét nổi bật về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước Pháp
trước cách mạng, giáo viên khai thác bức tranh biếm họa hình 56 – SGK10
Tình cảnh người nông dân Pháp trước cách mạng
Bức tranh có thể khai thác ở 3 góc độ chính:
+ Về kinh tế: Trước cách mạng, Pháp là một nước có nền kinh tế nông
nghiệp hết sức lạc hậu. Biểu hiện sự suy đồi của nền nông nghiệp nước Pháp
trước cách mạng là hình ảnh người nông dân già với chiếc cuốc biểu hiện cho
một nền nông nghiệp với tư liệu sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp. Trong
bức tranh còn có thỏ, chuột, chim bồ câu đang phá hoại mùa màng.
+ Về chính trị - xã hội: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức tranh
với 3 nhân vật chính gồm: Quý tộc, Tăng lữ, Nông dân. Các nhân vật trong bức
họa là sự tượng trưng cho các đẳng cấp khác nhau trong xã hội nước Pháp lúc
bấy giờ. Hai người ngồi trên lưng người nông dân già đại diện cho đẳng cấp 1 và
2 bao gồm Tăng lữ và Quý tộc. Đây là tầng lớp đại diện cho uy quyền và thế lực
của chế độ phong kiến nước Pháp. Họ có những đặc quyền, đặc lợi về kinh tế chính trị, là tầng lớp giai cấp thống trị và bóc tột. Trong túi quần, túi áo của họ
thòi ra mớ giấy tờ đó là những văn tự, khế ước, nợ nần, tô thuế,… đè lên vai
người nông dân, đây là tầng lớp - giai cấp bị bóc lột.
Hình ảnh đối lập là người nông dân nghèo khổ đại diện cho đẳng cấp 3
không có quyền lợi về kinh tế và chính trị, họ bị bóc lột bởi thế lực phong kiến
và Giáo hội. Với chính sách thuế khóa nặng nề đã làm cho đời sống của họ vô
cùng cực khổ. Bức tranh biếm họa không chỉ thể hiện tình cảnh khốn cùng của
người nông dân Pháp trước cách mạng, mà nó còn thể hiện sự mâu thuẫn sâu sắc
SL
%
10a1
40
35
87,5
05
12,5
10a2
40
20
50
20
50
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy
học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng.Tuy nhiên, để thực hiện tốt và có hiệu
quả phương pháp dạy học tích cực này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn đối với giáo viên
và học sinh. Để vận dụng tốt phương pháp dạy học liên môn trong mỗi bài dạy
đòi hỏi người thầy không chỉ vững vàng kiến thức chuyên môn mà cần có sự
hiểu biết nhất định về các môn học khác trong nhà trường phổ thông như: các
môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các môn nghệ thuật, công nghệ thông
tin,…. để bổ sung cho kiến thức bài học lịch sử.
Để tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, giáo viên cần phải đổi mới
phương pháp dạy học theo chiều hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm,
hình thành cho các em thái độ đúng đắn, động cơ tích cực trong học tập, giúp
học sinh hiểu biết về lịch sử một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
Tôi hy vọng rằng, với sáng kiến kinh nghiệm này sẽ góp phần tích cực hơn
nữa trong việc đổi mới phương pháp dạy - học bộ môn Lịch sử ở trường THPT hiện
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯƠNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Nguyễn Lương Oanh
21
*** TÀI LIỆU THAM KHẢO***
{1};{3}; {5}; {7}; {9}; {10}; {12};{13}; {14}; {15}; {16}; {17}; {18};
{19}; Tham khảo tài liệu trên mạng Inernet. Nguồn: https://www.google.com.vn
{2}; {4} Sách giáo khoa Hình học lớp 8. NXB GD
{6} Sách giáo khoa Hình học lớp 6. NXB GD
{8} Sách giáo khoa Vật lý lớp 8. NXB GD; Tham khảo tài liệu trên mạng
Inernet. Nguồn: https://vatlypt.com.
{11} Sách giáo khoa Sinh học 12 NXB GD; Tham khảo tài liệu trên mạng
Inernet. Nguồn: https://www.google.com.vn
****** DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN*****
Tt
1
2
3
Năm học
Tên đề tài
2010-2011 Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch