BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG ANH TUẤN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH,
HẠN CHẾ TÀI CHÍNH VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG ANH TUẤN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH,
HẠN CHẾ TÀI CHÍNH VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ..........................................................................5
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.............................................................................5
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............5
1.5. KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU ....................................................................6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ........................................................... 7
2.1. KHUNG LÝ THUYẾT .................................................................................7
2.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ..................................13
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................. 17
3.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ..........................................................................17
3.2. MÔ TẢ BIẾN NGHIÊN CỨU ....................................................................19
3.3. DỮ LIỆU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU ..........................................................23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................................. 24
4.1. PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ .............................................................24
4.2. MA TRẬN HỆ SỐ TƯƠNG QUAN...........................................................25
4.3. KẾT QUẢ HỒI QUY ..................................................................................26
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ..................................................................................... 44
5.1. KẾT LUẬN .................................................Error! Bookmark not defined.
5.2. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ...............................................44
5.3. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ..................................................46
5.4. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO .......................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 : Tổng hợp các biến
Bảng 4.1 : Thống kê mô tả biến được sử dụng trong mô hình:
Bảng 4.2 : Ma trận hệ số tương quan
Bảng 4.3 : Kiểm định nội sinh
566 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017.
Tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu bảng dựa trên phương trình Euler với mô hình hồi
quy GMM nhằm đánh giá mối tương quan của phát triển tài chính và hạn chế tài
chính đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam .
Kết quả nghiên cứu cho thấy hạn chế tài chính có sự tác động đến mức độ đầu tư
của doanh nghiệp. Dòng tiền và doanh thu của doanh nghiệp có tác động cùng chiều
đến đầu tư của doanh nghiệp, tỷ lệ đòn bẩy của doanh nghiệp lại có tác động ngược
chiều. Điều này cho thấy khi một doanh nghiệp có khẳ năng thanh khoản tốt và cơ
hội tăng trưởng tăng thì đầu tư của doanh nghiệp cũng tăng lên. Doanh nghiệp có tỷ
lệ nợ cao thì sẽ làm giảm mức độ đầu tư của doanh nghiệp.
Trong khi đó, phát triển tài chính cũng làm suy yếu ảnh hưởng của hạn chế tài chính
lên quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Điều này cho thấy sự phát triển tài chính về
quy mô và hoạt động dẫn đến sự gia tăng tính thanh khoản trên thị trường tài chính,
giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với các nguồn tài trợ bên ngoài
với chi phí sử dụng vốn thấp hơn, điều này sẽ giúp làm suy yếu ảnh hưởng của hạn
chế tài chính lên đầu tư của doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu này có thể hỗ trợ chính phủ và các nhà hoạch định chính sách áp
dụng chính sách phát triển tài chính để kiểm soát nền kinh tế, đặc biệt là thông qua
khu vực doanh nghiệp trong tương lai.
Từ khóa : Hạn chế tài chính, phát triển tài chính, đầu tư doanh nghiệp, GMM
ABSTRACT
Previous papers mainly focused on the impact of financial constraints and financial
development on investment’s coporation in the developed countries. And this is the
lack of empirical evidence in developing countries, represented by Vietnam.
Therefore, the paper examines the relationship between financial development,
financial constraints and investment in 566 companies in the period from 2009 to
2017 in Viet Nam.
quyết định đầu tư, và ứng với mỗi nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ phải chi trả cho việc
sử dụng. Nguồn vốn này có thể đến từ:
Huy động từ nội bộ: nguồn vốn này đến từ việc góp vốn ban đầu của các thành
viên tham gia doanh nghiệp, hoặc từ phần lợi nhuận được giữ lại…
Huy động từ bên ngoài: nguồn vốn này đến từ việc doanh nghiệp thực hiện vay
vốn thêm bên ngoài (ngân hàng, các tổ chức tài chính…) hoặc huy động vốn
trên thị trường chứng khoán…
Sự chênh lệch giữa chi phí sử dụng vốn nội bộ và huy động từ bên ngoài càng lớn
thì cho thấy hạn chế tài chính của doanh nghiệp càng lớn.
Điều kiện tài chính hoặc hạn chế tài chính của một doanh nghiệp là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng tới việc huy động vốn của doanh nghiệp. Theo Farre-Mensa và
Ljungqvist (2013) và Silva và Carreira (2012), hạn chế tài chính có thể là thước đo
tình trạng tài chính của doanh nghiệp hoặc những chỉ số trong bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp, như dòng tiền, đòn bẩy và quy mô của doanh nghiệp. Trong
trường hợp này, hạn chế tài chính của các doanh nghiệp càng lớn, điều kiện tài
chính của doanh nghiệp càng yếu. Ngoài ra, việc đầu tư của doanh nghiệp thường
được coi là tài sản cố định của doanh nghiệp, chẳng hạn như tài sản, nhà máy, thiết
bị (Bhaduri, 2005; Rungsomboon, 2005; Soumaya, 2012). Về lý thuyết đầu tư của
doanh nghiệp, các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính được coi là có các chỉ số
trong bảng cân đối kế toán yếu hơn và do đó chi phí tài trợ bên ngoài cao hơn, so
2
3
tư của doanh nghiệp sẽ trở nên yếu hơn khi có sự phát triển tài chính tạo điều kiện
cho doanh nghiệp tăng đầu tư bằng cách sử dụng các nguồn tài trợ bên ngoài để đầu
tư so với sử dụng vốn nội bộ trước đó (Galindo, Schiantarelli, & Weiss, 2007 ).
Trong bài nghiên cứu này, tác giả xem xét phát triển tài chính ở khía cạnh về quy
mô và hiệu quả hoạt động của nguồn vốn trên thị trường tài chính.
Một số nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa hạn chế tài chính, phát triển
tài chính và đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là ảnh hưởng của hạn chế tài chính
đối với đầu tư của doanh nghiệp, chủ yếu ở các nước phát triển (Agca &
Mozumdar, 2008; Bond et al., 1997; Chatelain et al. , 2003; Chatelain & Tiomo,
2001. Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các nước phát triển và cả về khía cạnh
riêng của phát triển tài chính như tự do hóa tài chính (Gelos & Werner, 2002;
Harris, Schiantarelli, & Siregar, 1994; Schiantarelli, Weiss, & Jaramillo, 1996) và
phát triển thị trường vốn ( Islam & Mozumdar, 2007; Laeven, 2003) .
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phát triển tài chính đối với đầu tư của doanh nghiệp ở
các nước đang phát triển vẫn còn hạn chế. Vì thế tác giả thực hiện bài nghiên cứu
này với ba động lực chính:
Thứ nhất, bài nghiên cứu này đáp ứng việc bổ sung tài liệu bằng cách nghiên cứu
ảnh hưởng của sự phát triển tài chính lên hạn chế tài chính sẽ tác động đến đầu tư
của doanh nghiệp như thế nào ở Việt Nam. Trong trường hợp này, tác giả cũng tập
trung vào cả hai khía cạnh phát triển tài chính bao gồm phát triển về quy mô và hiệu
quả hoạt động thị trường vốn để có được nhiều khía cạnh hơn về ảnh hưởng của
phát triển tài chính lên hạn chế tài chính sẽ ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp,
như cũng như để bổ sung cho các bài nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào một
khía cạnh của sự phát triển tài chính.
Thứ hai, tác giả bổ sung vào các bài nghiên cứu trước đây, đặc biệt là về tác động
của hạn chế tài chính hoặc điều kiện tài chính đối với đầu tư của doanh nghiệp,
trước đây chủ yếu tập trung vào các nước phát triển, bằng cách giới thiệu một
Chính vì thế tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa phát triển tài
chính, hạn chế tài chính và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam” với
dữ liệu của 566 doanh nghiệp và thời gian từ 2009 đến 2017.
5
1.2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa hạn chế tài chính,
phát triển tài chính và đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là ảnh hưởng của hạn chế
tài chính đối với đầu tư của doanh nghiệp, chủ yếu ở các nước phát triển như Mỹ,
Châu Âu…Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các thị trường đang
phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Hệ thống tài chính ở Việt Nam còn kém phát triển
và thường là phụ thuộc lớn vào ngân hàng tài chính và có sự kiểm soát hoặc ảnh
hưởng đáng kể từ chính phủ. Xuất phát từ yêu cẩu của đề tài, việc tìm thấy chứng
cứ về các tác động trên sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra các
quyết định về tài chính để tối thiểu chi phí sử dụng vốn, giảm thiểu các hạn chế tài
chính của các doanh nghiệp ở Viêt Nam. Chính phủ cũng thực hiện các quyết định
nhằm hỗ trợ và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam.
1.3.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu cần phải làm rõ những câu hỏi
sau:
1.5.
KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU
Bài luận văn gồm 5 chương:
Chương 1 : Giới thiệu : Đầu tiên tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài
nghiên cứu, và trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu bài nghiên cứu, ý nghĩa
và kết cấu của nghiên cứu.
Chương 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giả sẽ trình bày các bài nghiên cứu
trước đây trên thế giới. Từ các bài nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả
thuyết cho bài nghiên cứu này.
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày lần lượt về mô
hình nghiên cứu, giải thích các biến trong bài và cách thu thập dữ liệu
nghiên cứu. Cuối cùng là trình bày về phương pháp kiểm định mô hình,
phân tích và trình bày kết quả kiểm định.
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày các kết luận về mối
quan hệ giữa phát triển tài chính, hạn chế tài chính và quyết định đầu tư của
các doanh nghiệp Việt Nam so sánh kết quả với các bài nghiên cứu trước
đây.
tăng giá trị doanh nghiệp, từ đó làm gia tăng giá trị cổ đông. Và ngược lại sẽ dẫn
đến một sự tổn thất về tài sản của cổ đông, sụt giảm giá trị doanh nghiệp.
Quyết định đầu tư không chỉ phụ thuộc vào năng lực của các giám đốc tài chính,
phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của cơ hội đầu tư, mà còn phụ thuộc vào nguồn
vốn nội bộ và khả năng huy động vốn bên ngoài của doanh nghiệp. Một số doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn nội bộ và thậm chí do thị
trường tài chính chưa phát triển, việc huy động nguồn vốn bên ngoài cũng gặp
nhiều khó khăn, một cách nói khác là doanh nghiệp bị hạn chế tài chính.
Khái niệm về Hạn chế tài chính
Hiện tại, vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về “Hạn chế tài chính”, nhưng hầu
hết các quan điểm cho rằng, khi doanh nghiệp ở trạng thái hạn chế tài chính thì sẽ
khó khăn huy động nguồn tài trợ bên ngoài, các giám đốc tài chính đưa ra quyết
định tài trợ cho các cơ hội đầu tư sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài trợ nội bộ, do
việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài sẽ tốn một chi phí rất cao.
Trong thị trường phát triển tài chính, sự xuất hiện các tổ chức tài chính, ngân hàng
và cả thị trường vốn tự do, sự cạnh tranh về lãi suất giúp cho khả năng các doanh
nghiệp huy động nguồn vốn trở nên dễ dàng hơn, chi phí cũng rẻ hơn và giảm sự lệ
thuộc rất nhiều vào nguồn vốn nội bộ.
Bên cạnh đó, khi nói về vốn thì lại liên quan trực tiếp đến quyết định tài trợ của
doanh nghiệp. Các giám đốc tài chính sẽ cân nhắc lựa chọn nguồn vốn nào có lợi
8
cho doanh nghiệp, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hay nguồn vốn vay, cân nhắc việc
sử dụng giữ lại để tái đầu tư hay chia cổ tức cho các cổ đông.
Theo định đề 1 của Modigliani và Miller (1958), quyết định đầu tư và quyết định tài
Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện cho rằng có sự mâu thuẫn giữa các giám đốc tài chính và chủ sở
hữu, mâu thuẫn giữa giám đốc tài chính và các nhà đầu tư bên ngoài.
Trong quyết định tài trợ của mình, các giám đốc tài chính phải cân nhắc để chọn tỷ
lệ đòn bẫy thích hợp. Việc sử dụng nợ vay có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả
năng sinh lợi do lợi ích từ tấm chắn thuế. Tuy nhiên, khi mọi thứ không diễn ra theo
đúng kế hoạch thì doanh nghiệp sẽ gặp vấn đề nghiêm trọng về tài chính và dẫn đến
mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản.
Nguồn tài trợ của doanh nghiệp nếu có quá nhiều nợ vay sẽ không tốt, vậy nếu
lượng tiền mặt dư thừa có tốt cho doanh nghiệp hay không, vì các giám đốc tài
chính có xu hướng duy trì một dòng tiền mặt lớn trong doanh nghiệp.
Nhìn theo hướng tích cực, các nhà đầu tư bên ngoài khi nhìn vào bảng cân đối kế
toán sẽ tạo ra ấn tượng tốt vì họ tin rằng lượng tiền mặt dồi dào sẽ giúp cho các
doanh nghiệp phòng ngừa và xử lý tốt nếu hoạt động kinh doanh không tốt, tạo cho
doanh nghiệp nhiều lựa chọn trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư tương lai. Đây
là một tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang ở guồng kinh doanh tốt và phát triển
mạnh.
Lúc này, các nhà đầu tư cần phải xem xét xem nguồn hình thành dòng tiền này để
có cái nhìn chuẩn xác hơn.
Các lý thuyết tài chính nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích
hợp cho doanh nghiệp mình, một lượng đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí và chi
tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một ít nữa để doanh nghiệp kịp xử lý trong
những tình huống khẩn cấp, … Sau khi đã phân bổ dòng tiền, thì lượng tiền mặt còn
lại sẽ được phân phối lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hoặc thực hiện các
dự án đầu tư mới. Lượng tiền mặt tích luỹ quá nhiều sẽ làm cho các nhà quản trị
không kịp có thời gian để lên kế hoạch sự dụng hiệu quả.
Chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong các tình huống này. Các giám đốc tài chính nắm
giữ tiền mặt thông qua việc giảm chi trả cổ tức cho các cổ đông nhằm gia tăng tài
Lý thuyết bất cân xứng thông tin
Chủ sở hữu doanh nghiệp khi thuê các giám đốc tài chính để điều hành doanh
nghiệp đã làm phát sinh thêm chi phí đại diện cho doanh nghiệp, bởi các giám đốc
tài chính sẽ có những thủ thuật nhằm che giấu thông tin doanh nghiệp thông qua các
số liệu và phương pháp hạch toán. Chủ sở hữu doanh nghiệp không trực tiếp đưa ra
các quyết định cho doanh nghiệp mà thông qua các giám đốc tài chính sẽ là người
11
nắm rõ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế sẽ luôn có một
khoảng cách về thông tin giữa người chủ sở hữu và người điều hành dẫn đến bất
cân xứng thông tin. Trong bài nghiên cứu của Fauer và Naranjo (2010) cho rằng chi
phí thông tin và chi phí đại diện có mối quan hệ với nhau, và việc đi thuê giám đốc
tài chính – một người điều hành mà không phải cổ đông doanh nghiệp đã làm giảm
giá trị doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư bên ngoài cũng không thể biết được các giám đốc tài chính nghĩ gì,
mà chỉ có thể dựa vào các bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo tài chính doanh
nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư. Như vậy, sẽ có những đánh giá không chính
xác về năng lực của doanh nghiệp dẫn đến khả năng định giá sai.
Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán sẽ khiến các nhà đầu tư
nghi ngờ về năng lực yếu kém của giám đốc tài chính khi không biết sử dụng lượng
tiền dư thừa hay việc doanh nghiệp mất đi các cơ hội đầu tư. Trong khi, lượng tiền
mặt cao trong bảng cân đối là do các đặc thù của doanh nghiệp. Chẳng hạn một số
doanh nghiệp cần lượng tiền mặt cần thiết trong thời gian dài vì vòng xoay tiền mặt
yếu, hay các doanh nghiệp trong ngành sản xuất dịch vụ có tính chu kỳ, vì thế phải
cần lượng tiền mặt lớn để vượt qua giai đoạn suy thoái của chu kỳ sản xuất và đáp
ứng các nghĩa vụ ngắn hạn.
Theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myer (1984) việc bất cân xứng thông tin đã
nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Theo World Bank, trên thị trường tài chính luôn tồn tại các rào cản chi phí cho
doanh nghiệp và các nhà đầu tư, từ đó dẫn đến việc huy động vốn gặp nhiều khó
khăn. Vì thế, phát triển tài chính sẽ là quá trình khắc phục các khó khăn trên và hỗ
trợ phân bổ nguồn vốn vào các dự án đầu tư có khả năng sinh lợi cao, làm giảm bớt
hoặc loại bỏ sự bất cân xứng thông tin trên thị trường.
Trong bài Báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu của WEF (2009), phát triển tài
chính được định nghĩa là các yếu tố, các chính sách và các tổ chức tài chính hỗ trợ
cho việc mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn, các sản phẩm tài chính đáp ứng
được hầu hết nhu cầu vốn trên thị trường.
Dựa trên các định nghĩa của các bài nghiên cứu trước đây, có thể hiểu phát triển tài
chính là nói về sự phát triển của các thị trường vốn, các tổ chức tài chính, định chế
tài chính được mở rộng, các chính sách mở nhằm khắc phục các rào cản về chi phí
vốn do bất cân xứng thông tin, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với
chi phí hợp lý, các tổ chức tài chính tìm kiếm được các dự án đầu tư có tỷ suất sinh
lợi cao.