UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
SỞ KH – CÔNG NGHỆ & MÔI TRƯỜNGT
UBND HUYỆN LÝ SƠN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:
NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VẬT THỂ
VÀ PHI VẬT THỂ Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN
Chủ nhiệm đề tài
Phó Chủ nhiệm đề tài
Thư ký
Cộng tác viên đề tài:
: Nguyễn Thanh Tùng
: Đoàn Ngọc Khôi
: Mai Giang
GS. Chử Văn Tần
GS. Trần QuỐc Vượng
CN. Nguyễn Đăng Vũ
CN. Phan Đình Độ
CN. Nguyễn Văn Bốn
KTS. Nguyễn Hạp
Nhiếp ảnh:
Từ Kim Dũng
Nguyễn Văn Xuân
2. Văn hóa Chămpa trên đảo Lý Sơn:......................................................30
II- SỰ XÁC LẬP VĂN HÓA VIỆT TRÊN ĐẢO LÝ SƠN:..................................33
1- Hình thành thiết chế làng xã:.............................................................33
2. Chủ xóm:.............................................................................................37
3. Chủ Lân:..............................................................................................37
LÀNG - XÃ LÝ HẢI........................................................................................44
LÀNG - XÃ LÝ VĨNH.....................................................................................45
4. Các vấn đề bảo vệ và phân chia nguồn lợi biển và rừng của làng:.....48
1/- Cơ cấu tổ chức Vạn:...........................................................................49
2.2. Cơ cấu tổ chức của Vạn...................................................................50
2.3. Mối quan hệ giữa Làng và Vạn.........................................................51
4. Tín ngưỡng thờ thần của Vạn:.............................................................54
CHƯƠNG III:...............................................................................................57
VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ............................................................57
Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN...............................................................................57
I. DI SẢN VĂN HÓA KIẾN TRÚC...............................................................57
1. Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng:...........................57
1.1- KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG:....................................................................57
1.2: CHÙA:...............................................................................................59
2. Hệ thống nhà ở trên đảo Lý Sơn:.........................................................60
2.2. Nhà Rường:......................................................................................62
2.3. Nhà đắp (nhà lá mái):......................................................................63
Một số kiến trúc tiêu biểu ở huyện đảo Lý Sơn:......................................65
CHÙA HANG............................................................................................65
DINH THỜ THIÊN Y A NA.........................................................................68
VĂN TẾ THIÊN YANA:...............................................................................71
ÂM LINH TỰ.............................................................................................72
LĂNG CỒN TỰ.........................................................................................74
LĂNG CỒN TỰ.........................................................................................74
ĐÌNH LÀNG VÀ NHÀ THỜ TIỀN HIỀN XÃ LÝ HẢI........................................75
3.3. Lễ lên nghề:..................................................................................85
3.4. Kiêng cử:.......................................................................................85
4. Phong tục liên quan đến chu kỳ đời người:.........................................85
4.1 Sinh đẻ...........................................................................................85
4.2 Hôn nhân:......................................................................................86
4.3 Tang ma.........................................................................................88
2/ TÍN NGƯỠNG......................................................................................89
2.1 Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên:............................................................89
2.2 Tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông............................................................91
2.3. Khao thế lính Hoàng Sa....................................................................94
2.4. Các tôn giáo tín ngưỡng khác:........................................................96
3/ LỄ HỘI:................................................................................................97
3.1 Tết Nguyên Đán:...............................................................................97
3.2 Tết thanh minh.................................................................................99
3.3 Tết Đoan Ngọ....................................................................................99
3.4. Hội Đình...........................................................................................99
III. VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO LÝ SƠN....................................................103
1. Môi trường hình thành và phát triển:................................................103
2. Đôi nét về thể loại và vài đặc điểm:................................................105
PHONG CÁCH ẨM THỰC Ở ĐẢO LÝ SƠN................................................110
CÁC CÂY THUỐC VÀ MÓN ĂN BỔ DƯỠNG TRÊN ĐẢO...........................112
CHƯƠNG IV:.............................................................................................114
KINH TẾ TRUYỀN THỐNG CỦA..................................................................114
CƯ DÂN ĐẢO LÝ SƠN...............................................................................114
1. Kinh tế nông nghiệp.........................................................................114
II. Kinh tế biển :.....................................................................................116
1. Các phương tiện đánh bắt cá:...........................................................116
2/ Nghề đánh bắt cá:............................................................................116
3/ Các loại hải sản:................................................................................117
4/ Phân công lao động:........................................................................118
NÀNG ROI..............................................................................................149
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................151
MỤC LỤC..................................................................................................152
5
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý Sơn là hải đảo nằm cách đất liền khoảng 25 hải lý về phía đông bắc. Trong
quá khứ, Lý Sơn là hòn đảo yên bình ít bị ảnh hưởng của chiến tranh, do vậy với
điều kiện thuận lợi này các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn
tương đối nguyên vẹn. Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện
nay, cần phải tiến hành nghiên cứu bảo tồn và định hướng phát triển văn hóa vật
thể và phi vật thể trên đảo theo đúng chủ trương Nghị quyết TW 5 đề ra về bảo
tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Thực tiễn đã cho thấy văn hóa là nền tảng và động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội, ngược lại xã hội có kinh tế phát triển thì các giá trị di sản văn
hóa truyền thống của dân tộc càng được chú trọng nghiên cứu và bảo tồn. Huyện
đảo Lý Sơn tuy có diện tích nhỏ hẹp nhưng chứa đựng một kho tàng văn hóa
Việt vô cùng phong phú và đa dạng. Trong tương lai không xa khu công nghiệp
Dung Quất phát triển thịnh vượng sẽ là điều kiện tốt cho sự vươn lên về các mặt
kinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn. Vì vậy yêu cầu đặt ra ngay từ bây giờ
cần thiết phải có các chương trình nghiên cứu, các dự án phục vụ cho chiến lược
phát triển của huyện đảo trong sự phát triển chung của tỉnh Quảng Ngãi. Được
sự quan tâm và đầu tư kinh phí để nghiên cứu của UBND tỉnh Quảng Ngãi; sự
phối hợp giữa Sở KH-CN & MT và UBND huyện Lý Sơn; cùng với sự nỗ lực
của các nhà nghiên cứu trong tỉnh và các giáo sư đầu ngành ở các viện nghiên
cứu; đề tài “Nghiên cứu, bảo tồn và định hướng phát triển văn hoá vật thể và
phi vật thể ở huyện Lý Sơn” được triển khai và thực hiện trong 2 năm 1999-2000
và đã thu được những kết quả khả quan về khoa học.
Giới hạn:
- Đề tài thực hiện khảo sát trên phạm vi huyện đảo Lý Sơn.
- Đề tài nghiên cứu một số bộ phận cấu thành văn hóa vật thể và phi vật thể ở
huyện đảo như các di tích di vật khảo cổ, các kiến trúc dân gian, các món ăn
truyền thống, hoạt động kinh tế truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội tín
ngưỡng và văn học dân gian; đề tài không đi vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ
hoặc âm nhạc dân gian. Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến vị thế địa lý, lịch sử của
huyện đảo Lý Sơn, cùng các giải pháp định hướng bảo tồn các di sản văn hóa
của huyện đảo.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài thực hiện nghiên cứu trên cơ sở một số phương pháp sau:
- Phương pháp điền dã khảo cổ học
- Phương pháp Monographie, khảo sát môt tả các lễ hội, phong tục, tín
ngưỡng, truyện kể ca dao... cùng các kiến trúc dân gian, phong cách ẩm thực...
- Phương pháp đo vẽ đồ họa kiến trúc, chụp ảnh miêu tả minh họa.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp để chỉnh lý, chọn lọc, hệ thống hóa tư
liệu, biên soạn hoàn chỉnh công trình.
Kết quả nghiên cứu của đề tài:
Chương I: Đề tài nêu rõ các ưu thế của đảo Lý Sơn về vị thế địa lý thuận lợi
để phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và về chiến lược quân sự bảo vệ vùng đất
liền và lãnh hải của Việt Nam. Đồng thời trong chương này chúng tôi đã nêu rõ
sự đa dạng về động thực vật, đặc biệt là nguồn hải sản biển của huyện đảo Lý
Sơn. Ngoài ra đề tài còn nêu cụ thể về sự thay đổi hành chính của huyện đảo Lý
Sơn từ thời Nguyễn thế kỷ XVII cho đến ngày nay. Đề tài còn đề cập về Đội
Hoàng Sa thời Nguyễn trong lịch sử bảo vệ chủ quyền hải đảo của Việt Nam.
Chương II: Đề tài nghiên cứu đã làm rõ về thời kỳ tiền sơ sử của đảo Lý Sơn,
đó là giai đoạn văn minh văn hóa Sa Huỳnh và Champa đã thành tạo và phát
triển, đến nay khảo cổ học đã phát hiện và nghiên cứu nhiều di vật di tích có giá
7
sắc trong các tín ngưỡng dân gian của vùng đảo Lý Sơn. Về văn học dân gian
của Lý Sơn có sự du nhập từ bên ngoài trong quá trình di dân từ xưa và trong
quá trình giao lưu buôn bán với vùng đất liền cho nên một số câu ca dao, truyền
thuyết có nét giống với đất liền theo tính nguyên bản và sự dị biệt trên mô típ
chung. Ngoài ra một số truyện kể và ca dao ở Lý Sơn cũng bắt nguồn từ quá
trình lao động sản xuất, trong các mối quan hệ của các cá nhân trong cộng đồng
và trong sự chống giặc Tàu Ô bảo vệ đảo của người dân Lý Sơn.
Chương IV: Đề tài đi vào nghiên cứu kinh tế truyền thống của cư dân
đảo Lý Sơn trên ba loại hình cơ bản: Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu, kinh tế
ngư nghiệp khai thác biển và kinh tế nghề thủ công truyền thống. Trong sự phân
tích nghiên cứu đã nêu bật về sự ứng xử thích hợp của người dân Lý Sơn trong
môi trường hải đảo. Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu đóng vai trò chủ đạo,
song song người dân Lý Sơn còn bổ sung nguồn gạo từ đất liền vốn không có
trên đảo. Đồng thời với thế mạnh khai thác biển ngư dân Lý Sơn đã thu nhập lợi
8
tức đáng kể về nguồn lợi thủy sản dồi dào phong phú. Ngoài ra với nghề đóng
ghe bầu và đan lưới truyền thống của ngư dân đã cung cấp đầy đủ về phương
tiện và ngư cụ để đánh bắt cá. Với thế mạnh về số lượng ghe bầu khá lớn đã tạo
điều kiện cho cư dân đảo Lý Sơn vươn ra biển đông để giao lưu buôn bán với
các trung tâm cảng thị ở đất liền nằm dọc theo các cửa sông biển.
Chương V: Trong chương này đề tài đi vào các nghiên cứu và đề ra các giải
pháp bảo tồn và phát triển văn hóa vật thể và phi vật thể trên đảo Lý Sơn. Các
định hướng phát triển và giải pháp bảo tồn dựa trên những chủ trương của Đảng
và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc. Trong
chương này đề tài nêu các giải pháp phát triển và bảo tồn văn hóa Lý Sơn trước
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của huyện đảo, những giải pháp
này được phát triển thành các dự án cụ thể.
nay.
Trên đảo có một trữ lượng nước ngầm phong phú, người dân đào giếng, khai
thác làm nước uống và dùng vào việc tưới cho hành, tỏi bằng máy bơm. Nguyên
nhân có được hệ nước ngầm này có thể do kết cấu tầng đất Bazan thấm nước,
giữ ẩm rất tốt và tầng đất cát của đảo là nền cát trắng nên nguồn nước nhờ đó
thông qua mưa đã được bảo quản rất tốt, cung cấp thường xuyên không bao giờ
cạn cho nhu cầu sinh sống của cư dân trên đảo. Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầu
trồng hành, tỏi, dân chúng đào lấy đi tầng cát trắng vốn là tầng đất cát lọc và giữ
nước, việc làm này có thể sẽ dẫn đến sự cạn kiệt và nhiễm mặn của nguồn nước
ngọt quý giá trên đảo.
Đảo Lý Sơn gồm một đảo lớn và một đảo bé được bao bọc bởi biển cả mênh
mông nên huyện đảo có điều kiện khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên phong
phú của biển hơn so với các huyện khác của tỉnh Quảng Ngãi. Đây là lợi thế
phát triển mạnh của đảo. Trong sự kiến tạo địa chất ở hàng triệu năm trước đã
đưa lại hệ quả bậc thềm chân đảo chìm sâu trong lòng biển tạo nên các rạng đá
12
ngầm với nhiều hang hốc cùng với hệ san hô trải dài ở phía Bắc và Đông đảo là
nơi sinh sống lý tưởng cho các loài thủy tộc. Ngoài ra, xung quanh đảo có các
dòng hải lưu chảy từ Tây sang Đông đem lại nguồn phù du phong phú, là thức
ăn lý tưởng cho các loài cá. Có thể vì dòng hải lưu này mà trước kia đảo Lý Sơn
có nhiều cá voi do theo dòng nước ăn phù du, nên dạt vào bờ và mắc cạn, chết,
dân biển tôn xưng là cá Ông nên lập nhiều lăng để an táng và thờ phụng.
Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu biển và Trường Đại học Thủy sản Nha
Trang, khu hệ cá của vùng biển miền Trung có thành phần đa dạng với khoảng
600 loài, trong đó các loài có giá trị kinh tế cao và trữ lượng lớn như mực, cá
thu, cá ngừ, cá bánh đường, vích, hải sâm, rong biển, san hô và các loại ốc
biển... Thực tế trong những thập niên gần đây, ngư dân Lý Sơn khai thác bằng
nhiều loại ngư cụ và hủy hoại môi sinh bằng thuốc nổ khiến cho nguồn thủy sản
13
Vị trí địa lý của huyện đảo Lý Sơn có một vai trò quan trọng trong quốc
phòng đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải của quốc gia. Từ đảo Lý Sơn có
thể quan sát và khống chế cả vùng biển của miền Trung, đồng thời Lý Sơn là
chốt tiền tiêu nằm án ngữ một trong những con đường quan trọng vươn ra biển
Đông từ cảng Dung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai.
Như vậy, với vị thế địa lý thuận lợi cùng điều kiện tự nhiên sinh thái biển
phong phú đa dạng, kinh tế nông nghiệp phát triển chuyên canh, tiềm năng du
lịch vô cùng to lớn, hiển nhiên trong thế kỷ XXI, huyện đảo Lý Sơn sẽ có những
thành tựu nổi bật và phát triển mạnh nếu như việc hoạch định tổng thể sự phát
triển kinh tế, xã hội theo hướng kinh tế mở rộng theo chủ trương của Đảng và
Nhà nước ta, thiết lập và tăng cường các mối quan hệ để huy động tối đa các
nguồn hỗ trợ để cùng với nội lực của huyện đẩy nhanh và vững chắc quá trình
phát triển, mặt khác đảm nhận vững vàng vị trí quốc phòng chiến lược của
huyện đảo.
2. Lịch sử hình thành đảo Lý Sơn :
Có thể vài chục triệu năm trước đây, đảo Lý Sơn được hình thành do sự kiến
tạo địa chấn với sự phun trào nham thạch của núi lửa. Hiện nay trên Đảo có 5
hòn núi đều là núi lửa đã phun trào: Núi Thái Lới, núi Giếng Tiền, Hòn Vung,
Hòn Tai, Hòn Sỏi. Sự tắt đi của núi lửa đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên
kỳ thú như: Giếng Tiền, Thái Lới, Chùa Hang, Hang Câu, Hang Cò... Núi lửa đã
trải trên bề mặt Đảo ở phía Nam một lớp đất Bazan màu mỡ tươi tốt thích hợp
cho cây trồng, đồng thời còn tạo nên những rạng đá ngầm là điều kiện tốt cho
các loài thủy tộc sinh sống.
Hiện nay theo kết quả khai quật nghiên cứu khảo cổ học đã cho biết cách đây
khoảng 3000 năm, cư dân thời tiền sử thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã cư trú trên
Đảo Lý Sơn. Họ sống quần cư dọc theo hai dòng suối nước ngọt cổ đó là suối
Ốc và suối Chình (nay đã bị bồi lấp) kinh tế chủ yếu của họ là khai thác biển,
của người dân ở đây. Ngoài ra những nhà giàu có đã lập nên những nhà lá mái
gồm ba lớp cửa bàn khoa cùng rầm thượng rầm hạ để cất giấu của cải.
Người Việt đảo Lý Sơn đã xác lập một nền tảng văn hóa vững chãi với thiết
chế làng xã bền chặt dựa trên một hương ước được mọi thành viên trong làng
thống nhất xây dựng và thực hiện rất có hiệu quả. Thực tế sự xác lập văn hóa
Việt trên đảo Lý Sơn không sớm lắm xong rõ ràng nó đã phát triển vững chãi và
bám rễ bền chặt phát triển đa dạng phong phú đậm đà bản sắc. Văn hóa Việt đảo
Lý Sơn thành tạo từ hai nguồn hợp cơ bản là văn hóa Việt vùng đồng bằng Bắc
bộ và văn hóa Biển - Hải đảo của miền Trung; rộng hơn đó là sự dung hợp giữa
hai yếu tố văn hóa Nam Á và văn hóa Nam Đảo (Malayopolynesiens) cùng phát
triển song song, giao thoa và bổ sung, quyện chặt thành một văn hóa truyền
thống của đảo. Mỗi dạng thức văn hóa đều xuất phát từ nền kinh tế truyền thống
tương hỗ, đó là kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu và kinh tế biển khai thác hải
sản. Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu được thiết lập quần cư theo mô hình
Làng, đứng đầu là ông Cả Làng, nơi sinh hoạt cộng đồng và tế tự là Đình làng.
Kinh tế khai thác biển được thiết lập trên cơ sở tổ chức Vạn, đứng đầu là Chủ
Vạn, nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng là các Lăng Vạn. Đảo Lý Sơn có
hai làng là An Vĩnh và An Hải; hai Vạn là Vĩnh Thạnh và An Phú.
Như vậy có thể phác họa mô hình như sau:
15
Văn hóa Việt Lý Sơn
Chài
Nông
Làng An Vĩnh
Trịnh Hòa xuống vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư. Trong đoạn viết về sự trở
về Bắc Kinh của đoàn quân này như sau: “Ngày 13/6/1433 lại đến Chiêm Thành
(Qui Nhơn) nghỉ ở đó cho tới ngày 17/ 6/1433 lại lên đường và đến ngày
19/6/1433 đã đến Wai Lo Shan (Ngoại La Sơn) tức Cù Lao Ré. Đây là tư liệu
thư tịch của Trung Hoa sớm nhất viết liên quan đến đảo Lý Sơn.
16
Sau cuộc bình Chiêm Thành năm 1471 của Vua Lê Thánh Tông, ranh giới Đại
Việt được mở rộng đến núi Thạch Bi (Phú Yên); những chi tiết thâu lượm được
về đất Phương Nam trong cuộc chinh chiến đã giúp cho những người sau soạn
thành bản đồ. Đến nay, tài liệu bản đồ sớm nhất về vùng đất Phương Nam được
biết đến là bản đồ trong Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư của một nho
sinh là Đỗ Bá, có thể tài liệu này được viết trong khoảng thời gian năm 1630 đến
1653, gồm có 4 quyển. Trong quyển 1 có một bản đồ vẽ vùng phủ Quảng Nghĩa
và phủ Thăng Hoa trong đó đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn; Đỗ Bá đã cẩn
thận ghi chú cụ thể địa điểm đảo ở ngoài cửa Sa Kỳ (Quảng Nghĩa) nguyên văn:
“... Sa Kỳ hải môn ngoại hữu nhất sơn, sơn thượng đa sản mộc, danh Du
Trường, hữu tuần...” có nghĩa: Ở phía ngoài cửa biển Sa Kỳ có một núi, trên núi
có nhiều sản mộc, tên là núi Du Trường, có đặt quan Tuần sát. Trên bản đồ Đỗ
Bá vẽ vị trí của Du Trường Sơn nằm phía ngoài cửa Đại và cửa Tiểu của sông
Trà Khúc và sông Vệ - đó là đảo Lý Sơn hiện nay.
Trong tài liệu Etude sur un portulan AnNamte du Xve siecle, H.Dumoutier vẽ
lại bản đồ này gọi đảo Lý Sơn là Hải Du Trường Sơn (xem phụ lục bản đồ).
Thời các Chuá Nguyễn đảo Lý Sơn gọi là Cù Lao Ré gồm hai phường An Hải
và An Vĩnh. Đến thời Gia Long (1808), đặt Cù Lao Ré là tổng Lý Sơn, gồm hai
xã An Vĩnh và An Hải trực thuộc phủ Bình Sơn.
Thời thuộc Pháp năm 1931 đổi Tổng Lý Sơn thành đồn Lý Sơn trực thuộc
Tuần Vũ Quảng Ngãi và phường An Vĩnh đổi thành xã Vĩnh Long và phường
An Hải đổi thành xã Hải Yến, đồng thời thiết lập đồn Bang Tá để cai trị. Đồn
nộp cho triều đình. Theo “Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” của Đỗ Bá
viết ở thế kỷ XVII, họ Nguyễn (Chúa Nguyễn - NV) mỗi năm vào tháng cuối
mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng
bạc, tiền, súng đạn. Phủ biên Tạp Lục của Lê Qúy Đôn năm 1776 đã ghi chép cụ
thể hơn về việc chúa Nguyễn phiên đặt những tráng dân ở Lý Sơn lập thành đội
Hoàng Sa, định kỳ hàng năm đến đảo Hoàng Sa khai thác sản vật và hàng hóa.
Nguyên văn chữ Hán được dịch như sau: “Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập
đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh (Lý Sơn - ND) sung vào, hàng
năm luân phiên, lấy tháng giêng nhận chỉ thị sai dịch ra đó, mỗi người trong đội
Hoàng Sa được cấp phát 6 tháng lương, họ chèo 5 chiếc thuyền ra ngoài biển, ba
ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa, ở lại tha hồ bắt chim, cá để làm đồ ăn. Họ
lượm được những vật trôi dạt như: Kiếm, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng,
thiếc khối, chì đen, ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, hải sâm, các loại ốc đẹp. Đến kỳ
tháng 8, thuyền trở về vào cửa Yêu Môn (cửa Thuận An) rồi tới thành Phú Xuân
trình nộp các vật hạng đã lượm nhặt được, người ta cân, định hạng các sản vật
rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc đẹp, hải sâm, đồi mồi cùng nhiều
vật biển khác. Sau đó lãnh văn bằng trở về. Những vật hạng lượm được ngoài
biển có khi nhiều, khi ít không nhất định, cũng có lần họ ra đi rồi trở về không.
Tôi (Lê Qúy Đôn - ND) từng tra khảo sổ biên của các đội thuyền Đức Hầu
ngày trước như sau:
Năm Nhâm Ngọ (tức năm 1702) đội Hoàng Sa lượm đươc bạc 30 thoi.
Năm Giáp Thân (1704) lượm được thiếc 5.100 cân.
Năm Aát Dậu (1705) lượm được bạc 126 thoi.
Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Qúy Tỵ (1713) tức là trong khoảng 5
năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy cân đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần
họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng. Họ
Nguyễn có thiết lập thêm đội quân Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, lấy
người thôn Tứ Chính (ở gần biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người ở
Cảnh Dương (sát cửa biển Ròn) “Đội Bắc Hải chèo thuyền ra cù lao Côn Lôn ở
giữa Bắc Hải, hoặc đến xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm lượm nhặt
thế kỷ XVII, XVII, XIX đã làm nhiệm vụ lịch sử thật đặc biệt là khai thác hải
vật cùng hàng hóa trên đảo Hoàng Sa, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt
Nam trên đảo Hoàng Sa.
Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn Gia Long tuyển lính Hoàng Sa theo cách
khoán cho mỗi dòng họ, gia đình một số lượng người đi lính tương ứng theo
nguyên tắc để người con trưởng ở nhà lo việc tế tự còn các con thứ trong gia
đình và dòng họ phải đi lính Hoàng Sa, mỗi năm một lần luân phiên nhau.
Những người lính Hoàng Sa được triều đình chúa Nguyễn ưu đãi một số khoản
như sau: miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền qua đồn tuần, qua
đò. (Lê Qúy Đôn - Phủ biên tạp lục, 9.2). Đến thời Gia Long, những người đi
lính Hoàng Sa ngoài việc miễn sưu thuế, họ còn được miễn thuế nông nghiệp. Ở
Lý Sơn, thuế nông nghiệp được tính trên dầu phộng, thời Gia Long một người
trong một năm phải nộp 1 nồi ba cho nhà nước, ngòai ra còn nộp thêm 3 gáo
dừa đầy, trong đó 1 gáo cho đình làng để thắp đèn và 2 gáo nộp cho chính quyền
phong kiến địa phương để cho việc trả lương bổng.
Lính Hoàng Sa khi ra đi đem theo lương thực, nước uống trong 6 tháng (t2 t8). Ngoài ra mỗi người được cấp phát cho 1 chiếc chiếu và 3 sợi mây dài, mục
đích nếu chết thì lấy chiếu bó xác đem về đất liền chôn hoặc thả xuống biển cho
xác trôi về đảo.
19
Người đứng đầu chỉ huy đội Hoàng Sa gọi là cai đội. Theo phủ biên tạp lục,
cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải hoạt động trên vùng biển phía
nam. Do vậy cai đội của đội Hoàng Sa và Bắc hải là người mưu lược, có tài đi
biển, có vai trò quan trọng đối với triều đình. Đảo Lý Sơn có hai vị cai đội nổi
tiếng đó là cai đội Võ Văn Khiết dưới thời các chúa Nguyễn trải 2 đời Vua chỉ
huy đội Hoàng Sa và Bắc Hải, lập nhiều công trạng được Vua Gia Long sắc
phong Thượng Đẳng Thần. Hiện miếu thờ ở xã Lý Vĩnh gọi là miếu Ông Thắm.
Cai đội Phạm Quang Ảnh, lãnh đội Hoàng Sa dưới triều Gia Long, lập nhiều
công trạng, khi chết được Vua ban sắc phong tặng Thượng Đẳng Thần, hiện nay
cỗ bàn cúng ngoài sân. Khởi đầu của lễ Khao thế, thầy phù thủy đọc văn tế, tiếp
đến ông tộc trường đọc văn tế cúng. Trong buổi lễ có nhạc bát âm xướng tấu và
có sự hiện diện của các vị chức sắc trong làng. Kết thúc lễ tế là lễ rước ghe bầu
20
tế lính Hoàng Sa ra nơi bến ghe. Tại đây sau khi thầy phù thủy vái tạ tứ phương,
chiếc ghe được đem thả xuống nước, một người dân chài dìu ghe ra khơi để cho
ghe trôi về biển Đông. Như vậy có nghĩa là sinh mạng và tàu thuyền của những
người lính trong đội Hoàng Sa đã được hiến tế cho thần linh và những người
lính Hoàng Sa yên tâm ra đi.
21
CHƯƠNG II
ĐẢO LÝ SƠN TRONG THỜI TIỀN SỬ
VÀ SỰ XÁC LẬP VĂN HÓA VIỆT
I/ THỜI TIỀN SƠ SỬ TRÊN ĐẢO LÝ SƠN
1. Lịch sử nghiên cứu:
Các thư tịch dưới triều Lê, Nguyễn của Việt Nam khi đề cập đến sự hình
thành cư dân trên đảo Lý Sơn thì hầu như chỉ nói đến sự khai cứ lập làng của các
dòng họ người Việt đến đảo Lý Sơn về cư dân của các văn hóa trước đó không
thấy các tài liệu trên nhắc đến.
,
Đầu thế kỷ 20, trong tài liệu: Inventaire descriptif des monument Camse L
An Nam., H.Parmentier - một nhà khảo cổ học người Pháp đề cập đến địa điểm
chùa Hang, ông cho rằng đây là ngôi đền của Champa, bởi trong nội thất chuøa
Hang có đặt rất nhiều tượng thần trên các bệ thấp bằng đá sa thạch. Ngoài di tích
chùa Hang H.Parmentier không đề cập đến bất cứ một địa điểm văn hóa tiền sơ
sống bao gồm các loại đồ gốm, đồ xương, vỏ ốc, kim loại, đá... Đặc biệt trong
hố khai quật tìm thấy mộ song táng còn nguyên di cốt và đồ tùy táng. Niên đại
phóng xạ C14 địa điểm Xóm Ốc của đợt khai quật năm 1997 có khả năng nhầm
lẫn do công tác lấy mẫu tại hiện trường. Do vậy các nhà khoa học chỉ biết đến
khung niên đại Xóm Ốc qua phương pháp loại hình học, văn hóa Sa Huỳnh Xóm
Ốc có nguồn gốc từ các di tích tiền Sa Huỳnh Long Thạnh, Bình Châu phát triển
đến giai đoạn muộn ở đầu công nguyên tồn tại cách nay khoảng 2500 năm.
Tiếp đến những cuộc khảo sát và thám sát năm 1998 của Viện khảo cổ học
Việt Nam tại địa điểm Suối Chình ở xã Lý Hải, mục đích để kiểm tra sự mở rộng
cư trú của cư dân tiền sơ sử trên đảo Lý Sơn và sự chuyển tiếp giữa VHSH lên
văn hóa Champa trên phương diện về gốm. Tại di tích Suối Chình đã phát hiện
khu cư trú của cư dân VHSH và cư dân Champa.
Trong hai năm 1999 và 2000 với sự hổ trợ kinh phí của đề tài chúng tôi đã và
đang triển khai một số hố thám sát khảo cổ học trên đảo Lý Sơn để bổ sung tư
liệu và hoàn chỉnh bức tranh tổng thể về nền văn minh thời xa xưa trong thời đại
kim khí của người tiền sử đã từng tồn tại trên đảo Lý Sơn mà dạng văn hóa vật
chất của nó được giới chuyên môn gọi là văn hóa Sa Huỳnh hải đảo.
2. Văn hóa tiền sơ sử trên đảo Lý Sơn:
2.1- Dạng văn hóa vật chất của cư dân Sa Huỳnh hải đảo:
Trong hai cuộc thám sát 1996 và khai quật 1997 đã thu được khoảng vài trăm
hiện vật nguyên từ chất liệu đá, kim loại, đồ gốm, đồ xương, đồ thủy tinh và hơn
40.000 mảnh gốm cổ đã phản ánh đời sống sinh hoạt đa dạng và phong phú của
cư dân văn hóa Sa Huỳnh trên đảo Lý Sơn.
Đồ gốm nguyên tìm thấy gồm các loại chum, nồi, hủ, bát. Chum gốm có chức
năng là quan tài của người chết bên trong đặt các đồ tùy táng và ở một vài chum
có chứa hài cốt trẻ em được cải táng.
Chum táng ở đặc điểm Xóm Ốc có ba kiểu loại khác nhau, loại hình chum
giai đoạn sớm phát hiện trong 2 hố thám sát năm 1996 tìm thấy 2 chiếc nằm
trong lớp cát trắng sinh thổ ở độ sâu khoảng từ 1,15m - 1,60m. Dạng chum này
có thể gọi là mộ nồi, nó có đường kính bụng từ 25cm - 35cm, cao trung bình
ở Xóm Ốc đã có sự tiếp xúc mạnh mẽ đối với văn hóa Hán. Các nhà khảo cổ đã
tìm thấy 6.839 mảnh gốm văn ô vuông mang phong cách Hán phân bố ở độ sâu
từ 0,30 - 0,60m và xen lẫn với gốm Champa và đồ sành sứ. Đồng thời trong hố
khai quật 1996, các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở độ sâu 0,75m của lớp văn hóa
muộn đã xuất hiện loại hình chum Hán, Chum có dạng nồi đáy bằng bụng phình.
Toàn thân trang trí văn in hình kỷ hà, miệng được đậy kín bởi 1 nồi gốm. Bên
trong chum có đồ tùy táng: Nồi gốm, dao găm sắt và hũ gốm. Đây là loại Chum
Hán điển hình của vùng Hoa Nam (Trung Quốc).
Ngoài kiểu mộ quan tài là chum, nồi gốm cư dân Sa Huỳnh Xóm Ốc còn có
kiểu mộ song táng tìm thấy trong hoâ khai quật năm 1997 với các đặc điểm sau:
Di hài được chôn trong huyệt đất hình chữ nhật, đặt theo hướng bắc - nam chếch
tây, bên trên và xung quanh có kè đá và vỏ sò, ốc biển lớn. Trước khi đặt thi hài
xuống, người cổ Xóm Ốc đã rải một lớp cát vàng mỏng lên nền sinh thổ cát
trắng, rồi phủ lên trên một lớp mảnh gốm. Quan sát trên hiện trường di cốt được
chôn theo tư thế nằm thẳng, đầu đặt theo hướng mộ, mặt quay hướng Nam. Di
cốt này phần sọ bị vỡ mất một phần đỉnh nhưng phần mặt và hàm răng còn khá
nguyên vẹn, phần chi tay còn tương đối nguyên nhưng bị mất phần chân. Mặc
dù, di cốt không còn đầy đủ nhưng dựa vào những yếu tố thể hiện giới tính như:
Mỏm chũm và u chỏm người lớn, xương hàm trên và xương hàm dưới thô,
xương đòn lớn, hệ số nanh trên.... Nguyễn Lân Cường đã xác định đây là di cốt
nam giới khoảng 50-60 tuổi. Đặc biệt di cốt này có hiện tượng thiếu răng và cà
răng (Nguyễn Lân Cường 1998). Nằm so le với di cốt của người đàn ông là một
di cốt khác lớn hơn, hộp sọ và các xương chi đều lớn và dài. Di cốt được chôn
24
theo tư thế nằm nghiêng chân co theo cùng hướng với di cốt Nam. Di cốt này có
sọ thanh thoát, mõm chũm bé, ụ chẩm ngoài nhỏ, góc xương hàm dưới nhám, cơ
nhai không phát triển mạnh, hố chậu lớn. Nguyễn Lân Cường đã tiến hành đo
đạc nghiên cứu các yếu tố biểu hiện giới tính trên và dựa vào độ gắn liền của
Ngoài ra còn có 59 hiện vật đá khác như chày nghiền, bàn nghiền, bàn mái, hòn
kê, bàn nghiền ... được tìm thấy trong tầng cư trú.
Hiện vật xương có 225 kim xương và mũi nhọn xương tìm thấy trong lớp cư
trú của cư dân cổ Xóm Ốc trong đó có 110 chiếc kim xương được chế tác từ
xương hom cá theo phương thức dùi thủng lổ đế chuôi xương, lợi dụng mũi
nhọn sắc bén ở đầu xương để làm kim khâu vá và khâu lưới. Các kim khâu một
số được sử dụng nhiều lần mòn vẹt đầu. Mũi nhọn xương được chế tác theo cách
chẻ đôi xương ngạnh của cá. Ngoài ra trong hố khai quật còn tìm thấy hiện vật
bằng đồng thau như mũi tên, hiện vật bằng sắt như dao găm, kiếm sắt; hiện vật
25