B GIO DC V O TO
TRNG I HC Y H NI
B Y T
............***............
NGUYN B CNG
ĐáNH GIá HIệU QUả Và ĐộC TíNH TRÊN
THậN CủA
HAI CHế Độ LIềU Sử DụNG COLISTIN
TRONG ĐIềU TRị VIÊM PHổI LIÊN QUAN
THở MáY
Chuyờn ngnh
: Hi sc cp cu
Mó s
: NT62723101
LUN VN BC S NI TR
Ngi hng dn khoa hc:
PSG.TS NG QUC TUN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi là Nguyễn Bá Cường, học viên bác sỹ nội trú khóa 39 Trường đại
học Y Hà Nội, chuyên ngành Hồi sức cấp cứu, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Đặng Quốc Tuấn.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,
trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở
nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Nguyễn Bá Cường
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN.................................................................................3
1.1. Viêm phổi liên quan thở máy và tình hình đề kháng kháng sinh............3
1.1.1. Tình hình viêm phổi liên quan thở máy................................................3
1.1.2. Chẩn đoán viêm phổi liên quan đến thở máy......................................6
1.1.3. Tình hình đề kháng kháng sinh.............................................................12
1.2. Đặc điểm dược lý và các nghiên cứu về colistin.................................13
1.2.1. Cơ chế tác dụng của thuốc.....................................................................14
1.2.2. Đặc điểm dược động và dược lực học................................................15
1.2.3. Khả năng đề kháng của vi khuẩn.........................................................16
1.2.4. Tác dụng không mong muốn của colistin..........................................17
3.6.2. Đặc điểm tổn thương thận......................................................................45
3.6.3. Đặc điểm chung của nhóm đánh giá tổn thương thận.....................46
3.6.4. Đặc điểm chung của nhóm đánh giá tổn thương thận.....................47
Chương 4: BÀN LUẬN..................................................................................48
4.1. Đặc điểm của bệnh nhân nghiên cứu....................................................48
4.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu......................................49
4.1.2. Đặc điểm mức độ nặng của bệnh nhân nghiên cứu.........................50
4.1.3. Đặc điểm vi sinh.......................................................................................51
4.1.4. Đặc điểm về MIC của Acinetobacter baumannii với colistin.......53
4.1.5. Đặc điểm sử dụng kháng sinh..............................................................55
4.2. Đánh giá hiệu quả lâm sàng..................................................................56
4.2.1. Đánh giá sự biến thiên các chỉ số lâm sàng.......................................57
4.3. Đánh giá hiệu quả lâm sàng theo các nhóm..........................................60
4.4. Đánh giá hiệu quả vi sinh.....................................................................62
4.5. Các yếu tố liên quan đến thất bại của liều nghiên cứu.........................65
4.6. Đánh giá tổn thương trên thận..............................................................66
4.7. Một số hạn chế của nghiên cứu............................................................68
KẾT LUẬN.....................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A.baumannii Acinetobacter baumannii
APACHE
Acute Physiology and Chronic Health Evaluation
ARDS
Adult Respiratory Distress Syndrome
(Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển)
BAL
Mỹ
Fractional of inspired oxygen (Tỷ lệ oxy khí thở vào)
Glomerular filtratio rate - Mức lọc cầu thận
Hồi sức tích cực
ICU
KS
Intensive Care Unit
Kháng sinh
VPBV
MIC
MUI
NKQ
NSAIDs
P/F
Viêm phổi bệnh viện
Minimum inhibitory concentration - Nồng độ ức chế tối thiểu
Triệu đơn vị quốc tế
Nội khí quản
Thuốc chống viêm không steroid
Ratio of arterial partial pressure of oxygen to FiO2
PAE
PaO2
(Tỷ lệ PaO2 máu động mạch và FiO2)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.
Bảng 2.2.
Bảng 2.3.
Bảng 3.1.
Bảng 3.2.
Bảng 3.3.
Bảng 3.4.
Bảng 3.5.
Bảng 3.6.
Bảng 3.7.
Bảng 3.8.
Bảng 3.9.
Bảng 3.10.
Bảng 3.11.
Bảng 3.12.
Bảng 3.13.
Bảng 3.14.
Bảng 3.15.
Bảng 3.16.
Bảng 3.17.
Bảng 3.18.
Bảng 3.19.
Bảng 3.20.
Bảng 4.1.
Bảng 4.2.
Bảng 4.3.
Bảng 4.4.
Bảng 4.5.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Phân bố nhóm bệnh chính...........................................................33
Biểu đồ 3.2. Phân bố MIC của Acinetobacter baumannii với colistin............35
Biểu đồ 3.3. Sự biến thiên nhiệt độ tất cả bệnh nhân......................................38
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Sự phân bố MIC của colistin với Acinetobacter baumannii từ 2012
-2015..............................................................................................20
Hình 3.1. Sơ đồ lựa chọn bệnh nhân.............................................................32
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Colistin bắt đầu được đưa vào sử dụng tại bệnh viện Bạch Mai từ năm
2011. Đến tháng 3/2012, Hội đồng Thuốc và Điều trị của bệnh viện đã ban
hành hướng dẫn sử dụng thuốc. Theo đó, thông thường bệnh nhân được sử
dụng mức liều trung bình từ 4 - 6 triệu đơn vị natri colistimethat (CMS) mỗi
ngày (liều được tính theo MIC của Acinetobacter baumannii với colistin là
0,25 µg/ml) [1]. Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Gia Bình và cộng sự đã
chứng minh chế độ liều này đạt hiệu quả cao trên bệnh nhân nhiễm trùng
nặng tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC). Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận
thất bại lâm sàng ở các bệnh nhân phân lập được vi khuẩn có nồng độ ức chế
tối thiểu (MIC) trên 0,38 µg/ml [2].
Đến cuối năm 2014, cơ quan Quản lý Y tế châu Âu đã cập nhật chế độ
liều cao colistin với mức liều khuyến cáo trên các bệnh nhân thông thường là
9 triệu đơn vị CMS mỗi ngày. Khuyến cáo này được đưa ra dựa trên những
chỉnh với nồng độ Cđích là 2 mg/L, được tính theo MIC của Acinetobacter
baumannii với colistin là 0,5 µg/ml [8], liều nạp tính theo cân nặng bệnh
nhân. Mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá hiệu quả của hai chế độ liều sử dụng colistin ở bệnh nhân
viêm phổi liên quan đến thở máy.
2. Đánh giá độc tính trên thận của hai chế độ liều sử dụng colistin này.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Viêm phổi liên quan thở máy và tình hình đề kháng kháng sinh
1.1.1. Tình hình viêm phổi liên quan thở máy
Viêm phổi liên quan thở máy là tình trạng viêm phổi xảy ra sau đặt ống
nội khí quản thở máy từ 48 giờ trở đi mà trước đó không có biểu hiện triệu
chứng và không ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. [9]
Viêm phổi bệnh viện (VPBV) đứng hàng thứ 2 trong tổng số nhiễm
trùng bệnh viện ở Mỹ, chỉ sau nhiễm khuẩn tiết niệu, nhưng lại là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong do nhiễm trùng bệnh viện gây nên. Từ 60-80%
VPBV là VPLQTM ở nhiều nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau. Tỷ lệ tử
vong thô từ 30%-70% ở bệnh nhân VPBV và 24%-76% ở bệnh nhân
VPLQTM, trong đó bệnh nhân tử vong do bệnh lý nguyên nhân nhiều hơn là
do viêm phổi [10]. Bệnh nhân VPLQTM nguy cơ tử vong gấp 2-10 lần so với
bệnh nhân không VPLQTM. Nghiên cứu của Werarak (năm 2010) thấy rằng
tỷ lệ tử vong do VPBV là 14,4%, bệnh nhân tử vong trong bệnh cảnh nhiễm
khuẩn nặng, sốc nhiễm khuẩn [11]. VPBV do vi khuẩn hiếu khí Gram âm tiên
lượng xấu hơn so với VPBV do vi khuẩn Gram dương. Tỷ lệ tử vong do
Pseudomonas aeruginosa cao hơn từ 70% đến 80% đã được ghi nhận ở một
vài nghiên cứu [12], [13].
đến năm 2013 tại khoa Cấp Cứu và HSTC bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu
trên 153 bệnh nhân, tỷ lệ VPLQTM là 47,7% [22]. Mới đây, Hà Sơn Bình
nghiên cứu trên 315 bệnh nhân từ 2014 đến 2015, tỷ lệ mắc VPLQTM là
24,4%, với tần suất 24,8/1000 ngày thở máy [23].
5
Căn nguyên vi khuẩn gây VPBV, VPLQTM thay đổi tùy thuộc khu vực
địa lý, thời gian nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, cách lấy bệnh phẩm có
xâm nhập hay không xâm nhập. Nhiều nghiên cứu thấy rằng hơn 60% VPBV,
VPLQTM là do vi khuẩn hiếu khí Gram âm [13],[15]. Các vi khuẩn Gram âm
thường gặp là Pseudomonas aeruginosa và Acinetobacter baumannii, tiếp đến
là Proteus species, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, và Haemophilus
influenzae [26]. Tỷ lệ vi khuẩn Gram dương cũng khá cao trong các nghiên cứu
này, với Staphylococcus aureus chiếm khoảng 20%. Một nghiên cứu phân tích
tổng hợp sử dụng số liệu từ 31.436 ca VPBV và VPLQTM của chương trình
giám sát kháng sinh SENTRY tại 3 khu vực Hoa Kỳ, châu Âu và châu Mỹ
Latinh thấy rằng tuy có những dao động về mức độ thường gặp giữa các khu
vực địa lý, nhưng 6 tác nhân vi khuẩn gây VPBV và VPLQTM hay gặp nhất là
Staphylococus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Klebsiella
pneumonia, Acinetobacter baumannii và Enterobacter species [27]. Ở khu vực
châu Á, số liệu nghiên cứu gần đây từ 10 nước bao gồm Trung quốc, Hồng
Kông, Đài loan, Ấn độ, Malayxia, Pakixtan, Philipin, Singapo, Hàn quốc và
Thái lan về căn nguyên vi khuẩn gây VPBV và VPLQTM thấy rằng có hai xu
hướng chính: Acinetobacter baumannii là căn nguyên vi khuẩn gây bệnh đang
nổi trội ở các nước Ấn độ, Malayxia, Pakixtan và Thái Lan. Trong khi
Pseudomonas aeruginosa là tác nhân gây VPBV chủ yếu ở Trung quốc và
Philipin [28].
Có nhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định căn nguyên gây
1.1.2. Chẩn đoán viêm phổi liên quan đến thở máy
1.1.2.1. Các triệu chứng lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng viêm phổi liên quan thở máy trong phần lớn các
nghiên cứu đã công bố đều dựa trên sự biểu hiện của các thông số lâm sàng:
tăng hoặc giảm thân nhiệt, thay đổi số lượng và màu sắc của dịch tiết phế
quản, thay đổi số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi, giảm oxy hóa máu [29],
7
[30]. Tuy nhiên, các dấu hiệu của nhiễm khuẩn như sốt, nhịp tim nhanh, tăng
bạch cầu lại không đặc hiệu và có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác có
gia tăng giải phóng cytokine trong máu [31]. Các bệnh nhân chấn thương và
ngoại khoa, sốt và tăng bạch cầu có thể xuất hiện trong vòng 72 giờ đầu
nhưng có thể không do nhiễm khuẩn. Trong giai đoạn muộn hơn, sốt và tăng
bạch cầu có thể do nhiễm khuẩn nhưng cũng có thể do đáp ứng viêm hệ thống
(ví dụ: do phân giải tổ chức, vết thương, phù phổi, nhồi máu phổi…). Năm
1994, Meduri nghiên cứu các nguyên nhân sốt ở bệnh nhân đang thông khí
nhân tạo thấy rằng VPLQTM chỉ chiếm 44% [32].
Thay đổi tính chất đờm mủ trên lâm sàng chỉ có giá trị hạn chế vì hoàn
toàn mang tính chủ quan và không phải luôn luôn trong bệnh cảnh này. Hơn
nữa, tính chất đờm có thể thay đổi khi có viêm xoang, sặc phải dịch dạ dày,
hay lây nhiễm do các chất tiết từ phía trên đi qua bóng chèn của ống nội khí
quản khi không được bơm căng.
Tiêu chuẩn dương tính khi bạch cầu máu ngoại vi trên 10x10 9/L hoặc
dưới 5x109/L. Tuy nhiên dấu hiệu này cũng chỉ gặp ở 80% trường hợp viêm
phổi [33]. Và cũng giống như sốt, bạch cầu có thể tăng nếu bệnh nhân có
nhiễm trùng tại các vị trí khác trong cơ thể.
Ngược lại, các bệnh nhân có thể trạng suy giảm miễn dịch hoặc đang
được điều trị hóa chất, corticoid, bệnh máu,… Bạch cầu có thể không tăng
quản (định tính) có độ nhạy khá cao, và giúp ích nhiều trong chẩn đoán loại
trừ VPLQTM. Nếu nhuộm gram không tìm thấy vi khuẩn, khả năng có
VPLQTM là rất thấp, theo nghiên cứu của Sanchez và cộng sự là dưới 5%
[35]. Nghiên cứu ở Canada thấy rằng nhóm bệnh nhân VPLQTM được điều
trị dựa trên phương pháp nuôi cấy định tính dịch tiết phế quản có tỷ lệ tử vong
tương tự nhóm điều trị dựa trên kết quả nuôi cấy định lượng dịch soi phế quản
[36]. Nghiên cứu của Berton cũng thấy rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ tử
vong cũng như thời gian nằm khoa Hồi sức tích cực giữa hai nhóm VPLQTM
9
được chẩn đoán bằng phương pháp cấy định tính và định lượng [37]. Tuy
nhiên, hạn chế của xét nghiệm này là tỷ lệ dương tính giả cao. Việc tìm thấy
mầm bệnh trong đờm không có nghĩa là đã có viêm phổi bệnh viện, trừ một
số trường hợp đặc biệt như Legionella. Bệnh nhân thông khí nhân tạo luôn có
một tỷ lệ cao các trực khuẩn Gram âm cư trú ở đường hô hấp, và chỉ có
khoảng một phần ba trong số đó được chẩn đoán VPLQTM [38]. Một trong
những hạn chế của xét nghiệm này là nhiều trường hợp không xác định chính
xác “thủ phạm” gây VPLQTM do bệnh phẩm bị tạp nhiễm, đánh lạc hướng
bác sỹ lâm sàng, dẫn đến việc lựa chọn kháng sinh không thích hợp.
Kỹ thuật cấy định lượng dịch hút từ ống nội khí quản có thể khắc phục
được tính đặc hiệu thấp của xét nghiệm định tính [35],[36],[37]. Trong một
nghiên cứu, khi sử dụng phương pháp cấy định lượng dịch hút từ nội khí
quản với điểm cutoff là 10 6cfu/ml so sánh với kỹ thuật lấy bệnh phẩm bằng
chổi quét có bảo vệ, phương pháp này có độ nhạy cao hơn 82% so với 64%
và độ đặc hiệu thấp hơn 83% so với 96% [36]. Tuy nhiên, một số tác giả
khác cho rằng khi cấy định lượng dịch hút từ nội khí quản, loại vi khuẩn tìm
thấy có thể chỉ hiện diện ở khí quản chứ không thực sự là vi khuẩn gây
VPLQTM [10]. Trong một nghiên cứu so sánh giữa phương pháp cấy định
vào nhờ nội soi phế quản, tránh được lây nhiễm các vi khuẩn cư trú ở đường
hô hấp trên và trong ống nội khí quản. Nhờ nội soi, có thể hướng tới vị trí tổn
thương nghi ngờ trên phim XQ để lấy bệnh phẩm [43],[44].
Hiện nay, phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm bằng chổi quét có bảo vệ
(protected speccimen brush - PSB) và rửa phế quản phế nang (broncial
alveolar lavage-BAL) được áp dụng rộng rãi và được coi như tiêu chuẩn vàng
để chẩn đoán VPLQTM [45].
Kỹ thuật lấy bệnh phẩm bằng chổi quét có bảo vệ (PSB): kỹ thuật được
tiến hành thông qua nội soi phế quản, đưa chổi quét có bảo vệ vào tận vị trí
tổn thương để lấy bệnh phẩm. Đây là kỹ thuật có độ chính xác cao để chẩn
đoán VPLQTM. Trong một nghiên cứu phân tích gộp từ 18 nghiên cứu khác
11
nhau trên 795 bệnh nhân nằm tại khoa Hồi sức cấp cứu, độ chính xác của kỹ
thuật này trong chẩn đoán VPLQTM là 89% đối với độ nhạy, và độ đặc hiệu
là 94% [10]. Xét nghiệm được coi là dương tính nếu vi sinh vật phát triển với
103 khuẩn lạc (cfu)/ml hoặc hơn.
Kỹ thuật rửa phế quản phế nang (BAL): kỹ thuật được tiến hành thông
qua nội soi phế quản ống mềm, bơm rửa phế quản phế nang bằng dung dịch
nước muối sinh lý, sau đó lấy mẫu làm xét nghiệm. Kỹ thuật này có độ chính
xác tương tự kỹ thuật PSB trong chẩn đoán VPLQTM [46]. Xét nghiệm được
coi là dương tính nếu vi sinh vật phát triển và mọc với 10 4 khuẩn lạc (cfu)/ml
hoặc hơn với độ nhạy 91% và độ đặc hiệu 78% [46].
Các triệu chứng lâm sàng đứng riêng lẻ thường không có độ tin cậy để
chẩn đoán viêm phổi liên quan thở máy, có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu
thấp [47]. Năm 1991, Pugin và cộng sự [47] lần đầu tiên đề nghị xác định
VPLQTM bằng cách cho điểm theo bảng điểm viêm phổi. Bảng này được tác
giả xây dựng dựa trên sự kết hợp các thông số trên lâm sàng: nhiệt độ, số
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu trong nước về kháng kháng sinh, đã chỉ
ra mức độ kháng kháng sinh trong bệnh viện của nhiều loại vi khuẩn khác
nhau đã ở mức độ cao và đáng báo động.
Acinetobacter baumannii là vi khuẩn Gram âm, không lên men, sống ưu
thế trong môi trường nước. Acinetobacter baumannii là chủng vi khuẩn hàng
đầu gây viêm phổi liên quan đến thở máy. Trong một nghiên cứu tại khoa Vi
sinh bệnh viện Bạch Mai Acinetobacter baumannii gây VPBV và VPLQTM
kháng
với
β-lactam,
carbapenems,
sulbactam,
fluoroquinolones
và
aminoglycoside với tỷ lệ rất cao, trên 50% chỉ còn nhạy tốt với polymyxins và
tigecyline. Tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai Acinetobacter
baumannii kháng kháng sinh trở thành vấn đề nghiêm trọng: đề kháng hoàn
toàn với các kháng sinh nhóm carbapenem, 100% nhạy với colistin [23]. Nhiều
nghiên cứu đã đi sâu giải thích tại sao Acinetobacter baumannii lại có khả năng
kháng thuốc nhanh đến vậy. Các giả thiết cho rằng chính nhờ có sự di truyền
gene đa kháng kháng sinh qua plasmid nên tốc độ di truyền nhanh vì có thể đột
14
được sử dụng lại gần đây với vai trò là vũ khí cuối cùng trong điều trị nhiễm
khuẩn do vi khuẩn gram âm đa kháng do không có kháng sinh mới để lựa
chọn trong khi nhóm thuốc này vẫn giữ được hoạt tính diệt khuẩn tốt.
Chính việc sử dụng không liên tục khiến cho những hiểu biết về dược
lực và dược động học của thuốc rất giới hạn, kiến thức về liều tối ưu cũng như
tổn thương thận chưa xác định rõ ràng, làm tăng nguy cơ xuất hiện sự đề
kháng kháng sinh [49].
1.2.1. Cơ chế tác dụng của thuốc
Polymixine là nhóm kháng sinh có cấu trúc đại phân tử lưỡng cực vừa
ưa nước vừa ưa lipid. Để dùng đường tiêm, colistin được sử dụng ở dạng tiền
thuốc natri colistin methanesulfonat không có hoạt tính hay còn gọi là natri
colistimethat (CMS). Ở pH sinh lý, colistin mang điện tích dương trong khi
đó CMS mang điện tích âm. Cấu trúc hóa học quyết định đặc tính diệt khuẩn
của thuốc.
Màng tế bào vi khuẩn Gram âm được cấu tạo bới lớp phospholipid bên
trong và bên ngoài gồm lipopolysaccharid (LPS), protein và phospholipid.
Lipid A là thành phần quan trọng nhất của LPS có vai trò giữ chặt các chuối
acyl béo ở bên trong nhờ đặc tính thân lipid, giúp ổn định toàn bộ cấu trúc
màng ngoài tế bào vi khuẩn. Một số cation hóa trị 2 như Ca2+ và Mg2+ giữ vai
trò là cầu nối giữa các phân tử LPS cạnh nhau [61-50].
Cơ chế tác dụng chính xác của colistin còn đang tranh cãi, có thể liên
quan đến nhiều đích khác nhau của tế bào vi khuẩn. Nhưng cơ chế được đồng
thuận nhất hiện nay liên quan đến ly giải màng tế bào.
Ở pH sinh lý, nhóm cation của thuốc gắn tĩnh điện với nhóm phosphat
mang điện tích âm trong thành phần lipid A, thay thế các cation hóa trị 2 như
Ca2+ và Mg2+. Đồng thời phần đầu tận ưa lipid sẽ chèn vào trong thành phần
lipid của màng ngoài tế bào vi khuẩn. Kết quả là làm gián đoạn liên kết giữa
khuẩn của colistin cũng được nghiên cứu trong những năm gần đây. Nghiên
cứu của Bergen trên 3 chủng Pseudomonas aeruginosa đa kháng thấy rằng
trong 3 chỉ số fCmax/MIC, fT> MIC và fAUC/MIC, khả năng diệt khuẩn có
16
tương quan tốt nhất với chỉ số fAUC/MIC [8]. Nghiên cứu của Cheah trên các
chủng Pseudomonas aeruginosa và Acinetobacter baumannii khẳng định
fAUC/MIC là chỉ số dự báo khả năng diệt khuẩn tốt nhất [3].
1.2.3. Khả năng đề kháng của vi khuẩn
Kháng colistin có thể xảy ra cả với những chủng nhạy cảm ban đầu với
thuốc. Số liệu trong thời gian gần đây thấy rằng tính kháng thuốc đã được xác
định ở nhiều vi khuẩn Gram âm, trong đó Acinetobacter baumannii là phổ
biến nhất, tiếp theo là Klebsiella pneumonia và Pseudomonas aeruginosa.
Một nghiên cứu năm 2009 tiến hành lấy mẫu ở vùng Tây Thái Bình Dương
có 1/30 mẫu kháng với colistin (3,3%) và 7/30 mẫu dị kháng colistin (23%)
thấy rằng tỷ lệ kháng thuốc cũng như xuất hiện của các chủng dị kháng [54].
Nghiên cứu chỉ ra tình trạng kháng colistin của Pseudomonas aeruginosa
được ghi nhận chủ yếu trên bệnh nhân xơ nang được tiến hành trên 23 mẫu
phân lập từ những bệnh nhân mắc bệnh xơ nang thấy rằng 11 chủng kháng
với colistin với MIC tăng đến 128 mg/L [55]. Gần đây nhất, nghiên cứu tại
miền nam Hàn Quốc và Australia đã chỉ ra sự kháng colitin với chủng vi
khuẩn Klebsiella pneumoniae lần lượt là 6,8% (15/221 mẫu phân lập) [56] và
27,3% (6/22 mẫu phân lập) [57].
Vi khuẩn có thể sử dụng rất nhiều cách thức khác nhau để chống lại tác
dụng của kháng sinh. Mặc dù cơ chế đề kháng colistin chưa rõ ràng, đề kháng
với colistin bằng nhiều cơ chế phân tử khác nhau đã được xác định trên các
chủng vi khuẩn phân lập từ lâm sàng. Các cơ chế này bao gồm: thay đổi cấu
trúc LPS, tạo ra các bơm đẩy kháng sinh, sản xuất dư thừa polysaccharid vỏ,