B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
PHAN HNG MINH
nghiên cứu ảnh hởng lên đờng huyết
và một số yếu tố liên quan của std.tđ 01 trên mô
hình gây đái tháo đờng dạng typ 2 ở chuột
nhắt trắng
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2011 - 2017
NGI HNG DN KHOA HC:
TS. TRN THANH TNG
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến:
TS. Trần Thanh Tùng, Phó trưởng Bộ môn Dược lý Trường Đại học
Y Hà Nội, người thầy đã luôn tận tâm dạy dỗ, chỉ bảo, khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện khóa luận. Qua đó, thầy đã giúp tôi thêm tự tin
và truyền dạy cho tôi không chỉ những kiến thức khoa học mà còn cả phương
pháp luận khi bắt đầu bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Phạm Thị Vân Anh, Trưởng Bộ môn
ĐTĐ
EASD
FDA
FFA
G6P-ase
GK
GLUT
GLP - 1
GIP
GPB
HDL
HFD
IDF
LDL - C
NFD
RLCH
STZ
SNB
TC
TG
: American Diabetes Association
(Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ)
: Alloxan
: Dipeptidyl peptidase – 4
: Đái tháo đường
: European Association for the Study of Diabetes
(Hiệp hội nghiên cứu Đái tháo đường Châu Âu)
: Food and Drug Administration
(Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ)
TMTTTT
: Tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy
TNB
WHO
: Trước nuôi béo
: World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH ẢNH
11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng
bởi sự tăng glucose máu do thiếu hụt insulin tương đối hoặc tuyệt đối. Năm
miền Nam, chiết xuất Cà gai leo, cao Đậu tương lên men, chiết xuất Xuyên
tâm liên và glibenclamid. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác dụng
khi phối hợp các dược liệu và thành phần nói trên. Liệu khi phối hợp với nhau
sẽ có ưu điểm gì hơn so với khi sử dụng riêng rẽ từng thành phần, có giảm
được chi phí điều trị, giảm được các tác dụng không mong muốn hay không
và có hiệu quả điều trị như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này, đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng lên đường huyết và
một số yếu tố liên quan của STD.TĐ 01 trên mô hình gây đái tháo đường
dạng typ 2 ở chuột nhắt trắng” được tiến hành với mục tiêu:
1.
Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm STD.TĐ 01 lên nồng độ glucose
máu trên chuột nhắt trắng gây đái tháo đường dạng typ 2.
2.
Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm STD.TĐ 01 lên các chỉ số lipid
máu, lên gan, lên tụy chuột nhắt trắng gây đái tháo đường dạng typ 2.
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1. Định nghĩa
Đái tháo đường (ĐTĐ) là rối loạn chuyển hóa của nhiều nguyên nhân.
Tháng 01/2017, ADA đã công bố tiêu chuẩn chẩn đoán mới của bệnh ĐTĐ,
tiêu chuẩn như sau:
•
HbA1c ≥ 6,5%. (1)
•
Nồng độ glucose huyết tương máu lúc đói ≥ 126 mg/dL (7,0 mmol/L)
sau ít nhất 8h không ăn. (2)
•
Nồng độ glucose huyết tương ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L) sau khi làm
nghiệm pháp tăng đường huyết 2h. (3)
•
Nồng độ glucose huyết tương bất kì ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L) trên
bệnh nhân có các triệu chứng của ĐTĐ như ăn nhiều, uống nhiều, đái
nhiều, gầy nhiều. (4)
Trong trường hợp ĐTĐ không rõ ràng, các tiêu chuẩn (1), (2), (3) cần được
làm lại để chẩn đoán [10].
1.1.4. Phân loại
Tháng 01/2017, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đưa ra cách phân
loại ĐTĐ thành các loại như sau :
•
ĐTĐ typ 1: Tổn thương tế bào β tuyến tụy dẫn đến thiếu hụt insulin
Bệnh lý của tuyến tụy ngoại tiết: viêm tụy cấp, viêm tụy mạn…
−
Do các bệnh nội tiết khác: Basedow, hội chứng Cushing…
−
Nguyên nhân do thuốc hoặc hóa chất khác.
−
Nguyên nhân do nhiễm khuẩn.
−
Các thể ít gặp của ĐTĐ qua trung gian miễn dịch [10].
1.1.5. Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ Typ 2
Rối loạn tiết insulin và sự kháng insulin ở mô ngoại vi là hai yếu tố đóng
vai trò quan trọng, liên quan mật thiết với nhau, thường xảy ra trước khi xuất
hiện các biểu hiện lâm sàng của bệnh. Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng nhiều
nghiên cứu nghiêng về quan điểm kháng insulin có trước khi thiếu hụt tiết
insulin. Còn yếu tố gen và môi trường (tình trạng béo phì, ngồi nhiều, ít vận
động, ăn uống không hợp lý…) tạo điều kiện phát sinh và phát triển bệnh.
Trong thực tế khi glucose máu đã ở mức cao (> 10mmol/L) thì cả quá trình
bài tiết insulin của tế bào và khả năng hoạt động của insulin đều bị suy giảm
nặng [11], [12].
•
Kháng insulin là tình trạng giảm hoặc mất tính nhạy cảm của cơ quan đích
với insulin, được coi là những khiếm khuyết ban đầu hoặc khiếm khuyết
chính trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 2. Kháng insulin xuất hiện khi
lượng insulin bình thường do tụy tiết ra không đủ đáp ứng chức năng của các
tế bào trong cơ thể. Để duy trì nồng độ glucose máu bình thường, tế bào β
tuyến tụy phải tiết thêm insulin và hậu quả làm tăng nồng độ insulin máu [12].
•
Rối loại bài tiết insulin:
Thiếu hụt insunlin do suy giảm chức năng tế bào β đảo tụy xảy ra sau giai
đoạn tăng tiết insunlin vào máu để bù trừ cho sự kháng insulin. Sự suy giảm
này tiến triển trong suốt cuộc đời hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ typ 2 và theo
thời gian, họ sẽ phải dùng phối hợp thuốc, thậm chí bao gồm cả insulin.
Rối loạn sản xuất insulin cả về chất lượng và số lượng:
−
Mất pha đầu: Rối loạn nhịp, mất dạng tiết dao động của insulin.
−
Chất lượng: Giảm sản xuất insulin từ proinsulin.
−
Số lượng: Giai đoạn đầu tăng tiết insulin, sau đó suy kiệt dần và
giảm tiết [12].
1.1.6. Điều trị
1.1.6.1. Insulin
−
Insulin tác dụng ngắn: Regular.
−
Insulin tác dụng trung bình: NPH (Neutral Protamin Hagedorn).
−
Insulin tác dụng dài: Insulin Determir, Insulin Glargin.
−
Insulin tác dụng rất dài: Insulin Degludec.
−
Insulin dạng hỗn hợp:
−
o
75% Protamin lispro,25% lispro.
o
70% Protamin aspart, 30% aspart.
−
Tăng glucose máu có ceton máu và niệu cao.
1.1.6.2. Thuốc kích thích bài tiết insulin
•
Dẫn xuất sulfonylurea (sulfamid hạ đường huyết)
Cơ chế tác dụng: Tác dụng trên receptor bề mặt K +-ATPase của tế bào β ở
đảo Langerhans làm chẹn kênh K+ nhạy cảm với ATP, vì vậy ức chế dòng
K+ đi ra khỏi tế bào, tạo ra sự khử cực màng dẫn đến mở kênh Ca 2+, kết
quả là Ca2+ đi từ ngoài vào trong tế bào. Nồng độ Ca 2+ trong tế bào làm
khởi động việc chuyển các hạt chứa insulin đến bề mặt tế bào và giải
phóng insulin ra ngoài. Thuốc còn làm tăng số lượng và tính nhạy cảm
receptor của insulin ở bạch cầu đơn nhân to, tế bào mỡ, hồng cầu nên làm
tăng tác dụng của insulin. Ngoài ra, thuốc có tác dụng ức chế insulinase, ức
chế sự kết hợp insulin với kháng thể kháng insulin và sự gắn với protein
huyết tương.
−
Chỉ định: ĐTĐ typ 2 và người béo bệu trên 40 tuổi có insulin máu < 40
đơn vị/ngày.
−
Một số thuốc của nhóm sulfonylure:
−
Langerhans và chỉ có tác dụng khi có mặt insulin nội sinh, nên thuốc được chỉ
định ở bệnh nhân tụy còn khả năng bài tiết insulin.
Chỉ định: bệnh nhân ĐTĐ typ 2 nhất là BN thừa cân, béo phì [15].
•
Nhóm thuốc thiazolidion: nhóm này hiện nay không còn được sử dụng nữa.
1.1.6.4. Thuốc giảm hấp thu glucose ở ruột
Cơ chế tác dụng: thông qua sự ức chế α-glucosidase (oligosaccharidase và
disaccharidase) ở diềm bàn chải niêm mạc ruột non. Các thuốc nhóm này gắn
vào các enzym trên với ái lực cao, ức chế cạnh tranh làm giảm sự hấp thu của
ruột với tinh bột, dextrin và các disaccharid. Ngoài ra, thuốc còn ức chế
glucoamylase, maltase ở ruột. Cuối cùng làm giảm hấp thu glucose làm hạ
glucose máu [6], [15].
Chỉ định : Bệnh nhân ĐTĐ typ 2 béo phì.
20
1.1.6.5. Thuốc có tác dụng giống incretin
Gần đây, người ta tìm ra 2 hormon peptid: GLP1 và GIP gọi chung là
incretin có nguồn gốc tại niêm mạc ruột, giúp điều hòa glucose máu sau ăn nhờ
sự kích thích bài tiết insulin và làm chậm sự tháo rỗng dạ dày, nhưng lại mất tác
dụng nhanh do enzym DPP 4 phá hủy, vì vậy có thời gian bán hủy < 2 phút.
Exenatid là thuốc đầu tiên thuộc nhóm này được dùng để điều trị ĐTĐ
typ 2 theo cơ chế giống như GLP-1 và không bị phá hủy bởi DPP-4. Exenatid
còn được gọi là chất chủ vận GLP-1. Thuốc không những cải thiện sự bài tiết
insulin mà còn làm chậm rỗng dạ dày, giảm hấp thu thức ăn,giảm bài tiết
glucose sau ăn, giảm nồng độ HbA1c. Hiện nay thuốc được kết hợp với
biguanid hoặc sulfonylure hoặc với cả hai [11].
[7], [2].
Thuốc khác insulin: hạ glucose máu, dị ứng, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn,
nôn, viêm gan, độc với tế bào gan, tan máu, vàng da, thoái hóa bạch
cầu hạt, nhiễm toan acid lactic máu… [7], [2].
1.2.
MÔ HÌNH GÂY ĐTĐ DẠNG TYP 2 TRÊN THỰC NGHIỆM
Ở một số loài động vật, chủ yếu là loài gặm nhấm xuất hiện ĐTĐ tự phát
trên cơ sở di truyền do mang những đột biến gen có liên quan đến rối loạn
kháng insulin và béo phì như: chuột cống ĐTĐ Gotokakizaki (GK), Zuckerfatty, chuột nhắt KK-Ay, db/db, ob/ob…, các chủng này không chỉ mang
những đặc tính chuyển hóa giống với ĐTĐ typ 2 ở người, mà còn có những
biến chứng đặc trưng của ĐTĐ typ 2 như biến chứng tim mạch, huyết áp,
thận, mắt… [16]. Cho đến nay, thông qua chọn lọc và lai tạo đã xuất hiện khá
nhiều mô hình động vật ĐTĐ do gen, đây là những mô hình ĐTĐ thực
nghiệm rất có giá trị trong nghiên cứu, tuy nhiên do mang đột biến di truyền
nên các mô hình này khó nhân rộng và phổ biến trên toàn thế giới.
Bên cạnh các mô hình ĐTĐ typ 2 do di truyền, các nhà khoa học đang
phát triển những mô hình gây bởi tác nhân hóa học để thuận tiện và có thể áp
dụng rộng rãi hơn. Mô hình phổ biến để gây ĐTĐ typ 2 chủ động là tiêm STZ
liều thấp cho chuột ngay từ lúc mới sinh (mô hình n-STZ). Với liều 90mg/kg
tiêm cho chuột nhắt 2 ngày tuổi, STZ đã gây tăng mức glucose máu tương
đối, tăng insulin và rối loạn dung nạp glucose. Một mô hình khác tiêm STZ
liều 60mg/kg cho chuột cống SD để phá hủy tụy, sau đó bổ sung yếu tố bảo vệ
nicotinamid, phương pháp này cũng làm tăng glucose máu do tụy bị phá hủy
22
một phần, các thông số insulin máu, các protein truyền tín hiệu của insulin
23
Năm 2008, Nguyễn Thị Hoàng Diễm và Võ Phùng Nguyên nghiên cứu tác
dụng của 2 bài thuốc Khổ qua (gồm cao của dây, lá, nước ép quả Khổ qua) và Lục
vị Tri bá (gồm: Thục địa, Hoài sơn, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả, Sơn thù, Tri mẫu,
Hoàng bá) đã báo cáo tác dụng hạ đường huyết của 2 bài thuốc này trên chuột
nhắt trắng bình thường và chuột nhắt gây đái tháo đường bằng ALX [23].
1.3.2. Một số nghiên cứu mới trên thế giới
Bảng 1.1. Một số dược liệu có tác dụng hạ Glucose máu đã được nghiên
cứu trên thế giới
Tên dược liệu
Morus alba
(Dâu)
Smilax glabra
(Thổ phục linh)
Camellia chinensis
(Chè xanh)
Rehmannia glutinosa
(Sinh địa)
Anemarhena
asphodeloides
(Tri mẫu)
Phyllanthus amarus
(Diệp hạ châu đắng)
Tác giả, năm
thực hiện
Kết quả
glucose ngoại sinh, adrenalin và ALX.
Park J. M.
(2009) [24]
1.4. TỔNG QUAN VỀ CHẾ PHẨM STD.TĐ 01
Bài thuốc gồm 5 thành phần: chiết xuất cây Mật gấu miền Nam, chiết
xuất Cà gai leo, cao Đậu tương lên men, chiết xuất Xuyên tâm liên,
glibenclamid.
1.4.1. Chiết xuất cây Mật gấu miền Nam (Vernonia amygdalina Extract)
24
Hình 1.1. Cây Mật gấu miền Nam
−
Bộ phận dùng: Thân và lá.
−
Thành phần hóa học: rabdoserin A, excisanin A, axit ursolic,
axit 2-hydroxyl-ursolic.
−
Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, có thể chữa được các bệnh
khác nhau như: hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường, giúp ổn định lượng
đường huyết trong máu, hỗ trợ điều trị viêm gan, phòng và điều trị nhức
xương khớp đau lưng mỏi gối chóng mặt ù tai…
1.4.2. Cà gai leo (Solanum hainanense extract)
Hình 1.2. Cà gai leo
−
Bộ phận dùng: rễ và cành lá.
−
Thành phần hóa học: chứa saponin steroid và các alcoloid solasodin,
còn có diosgenin và các flavonoid.
−
Tác dụng:
Phong thấp, tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu.
Chữa viêm gan, men gan cao, xơ gan, điều trị cảm cúm, bệnh dị ứng,
ho gà, đau lưng, đau nhức xương khớp, thấp khớp, rắn cắn, ngoài ra
còn chữa viêm lợi, viêm cao răng.
−
Hiện nay chưa có nghiên cứu về tác dụng hạ glucose máu của Cà gai leo.
1.4.3. Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata extract)