Nghiên cứu lâm sàng và kết quả điều trị dị dạng động tĩnh mạch não đã vỡ bằng nút mạch với onyx tại bệnh viện tỉnh nghệ an - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng động - tĩnh mạch não (DDĐTMN) là những bất thường bẩm
sinh của mạch máu não trong đó động mạch được nối trực tiếp với tĩnh mạch
không qua mạng lưới mao mạch. Dị dạng động - tĩnh mạch não gồm ba thành
phần là các động mạch nuôi, ổ dị dạng và tĩnh mạch dẫn lưu [1] [2] [3],
thường gặp ở lứa tuổi từ 20 đến 40 tuổi, là lứa tuổi lao động chính của gia
đình và xã hội. Biểu hiện lâm sàng thường gồm: chảy máu não, động kinh,
nhức đầu, ù tai, tiếng ù trong sọ, các dấu hiệu thần kinh khu trú, hơn 80% dị
dạng mạch máu não không biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào [4]. Trong đó
biểu hiện chảy máu não thường gặp nhất chiếm tỷ lệ cao 87% [5], là một biến
chứng nặng nhất gây tử vong hoặc tàn tật suốt đời. Tỷ lệ vỡ của DDĐTMN
khoảng 2%/năm, lần chảy máu đầu tiên là yếu tố nguy cơ cao cho vỡ lần sau
có thể tới 18% trong 12 tháng đầu [4]. Do vậy, DDĐTMN cần phải được chẩn
đoán sớm và điều trị với phương pháp phù hợp.
Hiện nay trên thế giới có ba phương pháp điều trị gồm: điều trị phẫu
thuật cắt bỏ (Resection), xạ phẫu (Stereotactic radiosurgery), gây tắc mạch
bằng can thiệp nội mạch (Endovascular embolization). Các phương pháp này
có thể sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân. Can
thiệp nội mạch là một phương pháp ít xâm lấn, hiện nay đang được ứng dụng
rộng rãi trên thế giới, mang lại lợi ích thiết thực cho bệnh nhân từ việc có thể
chữa khỏi hoàn toàn đến việc gây tắc làm giảm kích thước giúp cho phẫu
thuật và xạ trị có thể thực hiện được và an toàn hơn.
Có nhiều vật liệu để gây tắc mạch điều trị DDĐTMN như: N- butyl 2cyanoacrylat (NBCA), hạt cồn polyvinyl, vòng xoắn kim loại (Coil), dịch
Polymer (Onyx)... Qua nhiều nghiên cứu ứng dụng trên thế giới cho thấy


2

Onyx có hiệu quả trong gây tắc dị dạng động - tĩnh mạch não và an toàn [6],

Tuần thứ 5: bắt đầu hình thành hai động mạch đốt sống và động mạch
thân nền.
Tuần thứ 6: tạo các nhánh từ động mạch cảnh trong và động mạch thân nền.
Tuần thứ 7: hoàn chỉnh vòng động mạch não và xuất hiện các xoang
màng cứng.
Tuần thứ 8-12: xuất hiện tĩnh mạch Galen, phân nhánh và nối các mao
mạch nguyên thủy để tạo thành hệ thống mạch máu hoàn chỉnh trong sọ.
Tuần hoàn xuyên não bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn muộn của sự
hình thành hệ thống mạch máu não, vào tuần thứ bảy và kéo dài đến tháng thứ
ba của thai kỳ, lúc này các nhánh xuyên được kéo dài và nối thông lẫn nhau
để tạo thành mạng mao mạch trưởng thành.
1.1.2. Giải phẫu hệ thống mạch máu não [11]
1.1.2.1. Động mạch não:
Toàn bộ mạch não được hai động mạch cảnh trong và hai động mạch
đốt sống nuôi dưỡng. Hệ động mạch cảnh trong cấp máu chủ yếu cho khoảng
2/3 trước của bán cầu đại não. Hệ động mạch sống- nền cấp máu cho 1/3 sau
của bán cầu đại não và liềm não.


4

a) Động mạch cảnh gốc
Động mạch cảnh gốc bên trái thường xuất phát trực tiếp từ quai động
mạch chủ, bên phải thường xuất phát từ thân cánh tay - đầu. Từ nguyên ủy
động mạch chạy thẳng lên đến ngang mức đốt sống cổ C4 tách ra hai nhánh
tận là động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài.
b) Động mạch cảnh trong
Từ nguyên ủy (phình cảnh) ngang mức đốt sống cổ C4, động mạch
cảnh trong đi lên trên, ra sau, rồi tới nền sọ, vào trong xương đá, thoát ra ở
đỉnh xương đá đi vào trong sọ, động mạch chạy ra trước vào trong xoang

với giao thoa thị giác.
- Có bốn nhánh tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động
mạch mạc trước và động mạch thông sau.
+ Động mạch não trước: có hai đoạn chính.
Đoạn A1: động mạch chạy ngang ra trước và vào trong tới khe liên bán
cầu. Đoạn này có thể nhỏ hoặc không có trong một số trường hợp.
Đoạn A2: sau khi cho nhánh động mạch thông trước, động mạch chạy
ra trước lên trên rồi cong ra sau vòng quanh gối và thân thể chai.
Động mạch cho các nhánh cấp máu cho đầu nhân đuôi, phần trước
vùng dưới đồi, phần trước nhân đậu, nửa trước của cánh tay trước bao trong
(Động mạch Heubner), mặt trong và phần trong của mặt dưới thùy trán, bờ
trên và một phần nhỏ mặt ngoài bán cầu, 4/5 trước của thể chai và mép trắng
trước, mặt trong của thùy đỉnh.
+ Động mạch não giữa chia thành các đoạn
Đoạn M1: Động mạch chạy ra ngoài hơi cong lên trên tới khe Sylvius thì
uốn cong vào trong và chia hai nhánh tận là thân trước trên và thân sau dưới.
Chỗ chia đôi này hay gặp phình mạch.
Đoạn M2: từ khe Sylvius mỗi thân lại chia các nhánh cho mặt ngoài
thùy đảo.


6

Đoạn M3 và M4: ra khỏi khe Sylvius và tạo ra đường cong thứ hai
cong lên trên tiếp cận với bề mặt vỏ não.
Động mạch não giữa cấp máu cho khu vực nông (vỏ não và dưới vỏ)
gồm đa số mặt ngoài bán cầu đại não, phần ngoài của mặt dưới thùy trán, thùy
đảo và chất trắng là giải thị và cho khu vực sâu gồm phần lớn thể vân (nhân
bèo, phía ngoài cầu nhạt, đầu và thân nhân đuôi), bao trong (phần cao của
cánh tay trước và sau), bao ngoài, nhân trước tường.

đến ngang mức đốt sống trục thì vòng quanh khối bên của đốt sống cổ C1 và
vào trong sọ qua lỗ chẩm. Hợp với động mạch đốt sống bên đối diện ở trước
hành não thành một thân chung là động mạch thân nền.
Có thể chia động mạch đốt sống làm bốn đoạn liên quan.
+ Đoạn V1: từ nguyên ủy đến đoạn vào lỗ mỏm ngang đốt sống cổ C6.
+ Đoạn V2: từ đốt sống cổ C6 đến dưới đốt sống cổ C2.
+ Đoạn V3: từ đốt sống cổ C2 đến đốt sống cổ C1.
+ Đoạn V4: từ đốt sống cổ C1 đến chỗ hợp với đốt sống bên đối diện.
Các nhánh bên:
+ Động mạch tiểu não sau dưới là nhánh lớn nhất trong bốn nhánh bên
chính tách từ đoạn V4. Chỗ xuất phát thường gặp túi phình chiếm 5% các
phình mạch trong não.
+ Động mạch màng não sau là nhánh đầu tiên tách ra từ đoạn V4 trong
bể não vào khoang màng cứng của vùng hố sau. Nhánh này nối với các nhánh
màng não vùng hố sau.
+ Động mạch tủy trước là nhánh xa của đoạn V4 nối với nhánh cùng
tên để tạo ra thân động mạch giữa và cấp máu cho 2/3 trước của tủy cổ cao.
+ Động mạch tủy sau nối với các động mạch cùng tên bên đối diện
chạy trong rãnh sau của tủy sống, cấp máu cho mặt bên của hành tủy và mặt
dưới của tủy não.


8

Ngoài ra, động mạch đốt sống còn cho các nhánh cấp máu cho các cơ
vùng cổ và cơ cạnh sống và tiếp nối với động mạch hầu lên.
d) Động mạch thân nền.
Do hai động mạch đốt sống hợp thành, thường từ bờ dưới của cầu não,
rồi chạy cong ra sau trên phần nền xương chẩm và tận hết ở mỏm yên sau
bằng cách chia hai nhánh tận là hai động mạch não sau.

Các nhánh nối giữa động mạch cảnh trong hai bên với cảnh ngoài và
động mạch dưới đòn.
- Động mạch mắt (nhánh động mạch cảnh trong) nối với động mạch
mặt (nhánh động mạch cảnh ngoài).
- Động mạch cảnh trong nối với động mạch đốt sống qua nhánh thông sau.
- Hai động mạch cảnh trong nối với nhau qua động mạch thông trước.
- Vòng nối giữa các nhánh nông của các động mạch não trước, não giữa
và não sau ở bề mặt bán cầu đại não.
1.1.2.2. Hệ tĩnh mạch
Máu não được dẫn lưu theo hệ tĩnh mạch não, các tĩnh mạch này thông
với các xoang tĩnh mạch màng cứng, hệ thống xoang mạch này đổ vào các
tĩnh mạch cảnh. Người ta phân ra ba hệ thống tĩnh mạch.


10

a) Hệ thống nông
Dẫn lưu máu của vỏ não và vùng chất trắng ngay dưới vỏ vào xoang
tĩnh mạch như phần lồi của bán cầu đại não đổ lên trên vào xoang tĩnh mạch
dọc trên, phần tiếp giáp giữa hai bán cầu đổ về xoang tĩnh mạch dọc trên và
dọc dưới, mặt trong đổ về xoang tĩnh mạch hang, xoang đá và xoang bên.
b) Hệ thống trung tâm
Thu nhận máu từ cấu trúc ở trong sâu: thể vân, bao trong, đám rối mạch
mạc…tất cả hợp thành một nhánh lớn, ở giữa và rất ngắn gọi là tĩnh mạch Galen.
Tĩnh mạch Galen cùng với xoang tĩnh mạch dọc dưới tạo thành xoang
thẳng đổ về hội lưu Hérophile (bao gồm xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang
thẳng, xoang tĩnh mạch bên, chẩm sau) khu trú ở trước ụ chẩm trong.
c) Hệ thống nền
Nhận máu từ khu vực nền của não, mỗi bên đổ vào một tĩnh mạch lớn
gọi là tĩnh mạch nền hoặc tĩnh mạch Rosenthal rồi đưa về tĩnh mạch lớn Galen.

+ Dị dạng động mạch: loạn sản mạch (angiodysplasia) và phình mạch
não (aneurysm).
+ Dị dạng động - tĩnh mạch não (Brain arteriovenous malformation).
+ Lỗ rò động - tĩnh mạch não (Brain arteriovenous fistula).
+ Dị dạng động - tĩnh mạch màng cứng (Dural arteriovenous
malformation).
+ Lỗ rò động - tĩnh mạch của tĩnh mạch Galen (Vein of Galen
arteriovenous fistula).
+ Các dị dạng phối hợp khác (Mixed malformation).


12

1.2. Dị dạng động - tĩnh mạch não
1.2.1. Hình ảnh đại thể của DDĐTMN

Hình 1.3. Hình ảnh đại thể DDĐTMN [15]
Các khối DDĐTMN có cấu trúc rất khác nhau từ đơn giản đến phức
tạp, kích thước cũng khác nhau từ vài milimet đến nhiều centimet đường kính.
Tuy nhiên mỗi DDĐTMN đều có ba phần cơ bản: Động mạch nuôi, ổ dị dạng
(Nidus), tĩnh mạch dẫn lưu [4], [16], [17].
Động mạch

Động mạch nuôi

Ổ dị dạng
Mao mạch

Tĩnh mạch


hai hệ thống nông và sâu. Các tĩnh mạch dẫn lưu nông (Tĩnh mạch vỏ não)
thường đổ về các xoang nông (Xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang ngang), các
tĩnh mạch dẫn lưu sâu thường đổ về các tĩnh mạch sâu (Tĩnh mạch nền, tĩnh
mạch não trong...).


14

DDĐTMN điển hình thường nằm ở vùng vỏ, dưới vỏ bề mặt của não
hoặc đáy các khe rãnh não, thường có hình nón, đáy ở vỏ não, đỉnh hướng về
não thất.
1.2.2. Triệu chứng lâm sàng của DDĐTMN
Các thông số phân tích từ tử thi cho thấy chỉ 12% DDĐTMN trở thành
có triệu chứng trong đời và khoảng 0,1-1% DDĐTMN sẽ có biểu hiện triệu
chứng hàng năm [4].
1.2.2.1. Chảy máu não
Là một biến chứng hay gặp nhất của DDĐTMN, tùy tác giả mà tỷ lệ
này dao động từ 30% đến 87% [4],[19],[18],[20],[21].
Vị trí chảy máy có thể ở khoang dưới nhện, trong mô não, trong não
thất vì vậy biểu hiện lâm sàng cũng rất đa dạng. Bệnh nhân có thể tỉnh hoặc
hôn mê tùy theo từng mức độ hoặc biểu hiện bằng hội chứng màng não hoặc
các dấu hiệu như liệt nửa người, liệt các dây thần kinh sọ, rối loạn ngôn ngữ,
động kinh...
So với tầng trên lều tiểu não, chảy máu tầng dưới lều tiểu não (hố sau)
ít gặp hơn, biểu hiện lâm sàng của chảy máu hố sau cũng có những đặc điểm
riêng. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng hội chứng tăng áp lực trong sọ không
kèm liệt thần kinh, với những rối loạn về tri giác xuất hiện từ từ, tăng dần.
Trong số ít trường hợp bệnh nhân sau cơn đột quỵ não, hôn mê rất nhanh và
dẫn đến tử vong. Một trong những hậu quả hay gặp của chảy máu hố sau là
tình trạng chèn ép vào hệ thống dẫn lưu dịch não - tủy gây ra tràn dịch não

một số trường hợp cơn nhức đầu là dấu hiệu dọa vỡ hoặc đã vỡ. Giải thích cơ
chế nhức đầu các tác giả đã đưa ra giả thiết có thể là do sự kích thích vào
màng não của DDĐTMN.


16

1.2.2.4. Các dấu hiệu thần kinh khu trú
Liệt nửa người từ từ tăng dần (không do chảy máu) là một biều hiện
lâm sàng hiếm gặp của DDĐTMN (3% đến 23%). Biểu hiện liệt thần kinh
này thường có liên quan tới vị trí, kích thước của DDĐTMN. Theo Marks
(1991) DDĐTMN càng lớn biểu hiện liệt thần kinh càng nhiều hoặc trong các
DDĐTMN có dòng chảy càng lớn (đoạt máu càng nhiều) thì tỷ lệ liệt càng
cao [27].
Giải thích hiện tượng này trong công trình nghiên cứu của Norbas
(1994) và Solomon (1984) cho là do mất cơ chế tự điều chỉnh của hệ mạch
đến và đi của ổ dị dạng gây ra tình trạng hạ áp lực trong lòng mạch và giảm
áp lực tưới máu não dẫn đến thiếu máu não [28],[29].
1.2.2.5. Một số các biểu hiện lâm sàng hiếm gặp
Tràn dịch não hay gặp ở trẻ em với các biểu hiện của hội chứng tăng áp
lực nội sọ với tăng đường kính vòng đầu, giãn khớp sọ, thóp rộng...ở người lớn
biểu hiện tăng áp lực trong sọ do tràn dịch não là tình trạng suy giảm về tri
giác, thường không kèm các dấu hiệu thần kinh khu trú. Nguyên nhân của tràn
dịch não là do DDĐTMN lớn đè vào hệ thống lưu thông dịch não - tủy hoặc có
thể do tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch hoặc do biến chứng chảy máu màng
não không được phát hiện gây giảm hấp thu dịch não - tủy ở các hạt Pacchioni.
Suy tim: Thường gặp ở trẻ nhũ nhi khi DDĐTMN lớn, có hiện tượng
"đoạt máu".
Tiếng thổi 1-2% có thể được bởi chính bệnh nhân xác định hoặc khi
nghe trên da đầu. Tiếng thổi thường mạnh lên ở thì tâm thu hoặc liên tục.

mạch có liên quan tới dòng chảy của DDĐTMN sẽ tự nhỏ lại hoặc mất đi khi
DDĐTMN được điều trị. Các phình mạch nằm ngoài dòng chảy hay ngoài


18

động mạch cấp máu của DDĐTMN thì phải điều trị song song với điều trị
DDĐTMN).
- Chảy máu gây chèn ép não hoặc chèn ép đường tuần hoàn dịch nãotủy gây tràn dịch não.
Hệ thống phân loại Spetzler- Martin [30] đã được mô tả từ năm 1986 và
vẫn giữ vai trò là hệ thống phân loại hữu hiệu nhất, được áp dụng nhiều nhất
trên thế giới. Bậc thang phân loại dựa trên kích thước khối dị dạng, vị trí vùng
có chức năng quan trọng và tĩnh mạch dẫn lưu.
Bảng 1.1. Phân loại DDĐTMN theo Spetzler-Martin
Tiêu chuẩn
1. Kích thước ổ DDĐTMN:

Điểm

Nhỏ: dưới 3cm

1

Vừa: 3cm đến 6cm

2

Lớn: trên 6cm

3

thầy thuốc đánh giá được toàn diện tổn thương dị dạng động - tĩnh mạch não
từ đó đưa ra chỉ định hợp lý. Những ổ dị dạng có kích thước lớn nên được nút
mạch để giảm kích thước phù hợp với phẫu thuật hoặc tia xạ hoặc có thể nút
nhiều lần để tắc hoàn toàn ổ dị dạng.
1.2.3.2. Chỉ định điều trị tắc mạch.
Chỉ định làm tắc mạch hoàn toàn:
- DDĐTMN nhỏ, có ít mạch nuôi đồng thời các động mạch cấp máu
giãn rộng phối hợp với hệ thống tĩnh mạch dẫn lưu không quá phức tạp.
- Vị trí của DDĐTMN thường ở bề mặt vỏ não, tại các vùng có nhiều
chức năng như hồi vận động, tiếng nói hoặc các vùng sâu mà đường vào khi
mổ khó khăn.
Chỉ định làm tắc bán phần:
- Giảm thể tích của DDĐTMN trước khi điều trị tia xạ.
- Áp dụng cho DDĐTMN có nguy cơ chảy máy não cao như có phình
mạch kèm theo, nằm ở sâu.
1.2.3.3. Chỉ định điều trị xạ phẫu: Phụ thuộc vào hai yếu tố
- Kích thước: DDĐTMN dưới 2,5cm.
- Vị trí: DDĐTMN ở vùng có nhiều chức năng hoặc vùng khó mổ như:
DDĐTMN của động mạch mạch mạc, DDĐTMN của thân não.
1.2.4. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về DDĐTMN
1.2.4.1. Trên thế giới
Bệnh lý DDĐTMN đã được Steinheih mô tả đầy đủ và rõ nét vào năm
1895, từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu sâu trong lĩnh vực
chẩn đoán và điều trị [32].
Năm 1928 Cushing, Balilet và Dandy đã tìm ra cơ chế của hiện tượng
"đoạt máu" gặp trong DDĐTMN là do động mạch bị hút vào ổ dị dạng gây
thiếu máu vùng vỏ não [33].


20


Năm 2011, Saatci I và cộng sự báo cáo kết quả dài hạn của điều trị
bằng Onyx cho 350 bệnh nhân kết hợp theo dõi lâm sàng, chụp mạch 1- 8
năm sau nút mạch, tác giả đã đưa ra kết luận điều trị DDĐTMN bằng Onyx
cho kết quả tắc mạch cao, ổn định, an toàn, đối với ổ dị dạng lớn thường
phải kết hợp với tia xạ [42].
Năm 2010, Maimon S và cộng sự dùng loại vi ống thông mới để áp
dụng điều trị cho 43 bệnh nhân DDĐTMN dùng Onyx cho kết quả tắc khỏi
hoàn toàn 37% mà không có tai biến tử vong. Đặc điểm của loại vi ống
thông này là phần đầu có thể đứt rời ra ở giai đoạn cuối của quá trình thủ
thuật chỉ bằng một lực nhẹ. Đây là một triển vọng mới cho các nhà can
thiệp mạch não vì khó khăn thường gặp nhất của DDĐTMN là nguy cơ
dính đầu vi ống thông [43].
Năm 2011, Abud D.G và cộng sự báo cáo cải tiến kỹ thuật nút
DDĐTMN dùng hai ống thông để vào ổ dị dạng nút bằng Onyx cho 17 bệnh
nhân, mục đích để làm giảm nguy cơ tắc tĩnh mạch dẫn lưu. Tỷ lệ tắc hoàn
toàn 94% và không có tai biến tử vong [44].
Xu hướng của các tác giả gần đây: nút mạch kết hợp xạ trị giúp làm tăng
tỷ lệ khỏi hoàn toàn và giảm nguy cơ tai biến tử vong [2],[45],[46],[47].
1.2.4.2. Tình hình trong nước
Năm 1961 Nguyễn Thường Xuân và cộng sự đã báo cáo về hai trường
hợp chảy máu não do nguyên nhân mạch máu và lưu ý thể chảy máu này có
thể điều trị phẫu thuật [48].
Năm 1975, Nguyễn Văn Đăng đã áp dụng kỹ thuật chụp mạch theo
phương pháp Seldinger để chẩn đoán bệnh lý động mạch não (phương pháp
này đã được áp dụng trên thế giới từ năm 1953 [49]).
Năm 1988, Lê Xuân Trung đã trình bày kiến thức sơ lược về dị dạng
động - tĩnh mạch não và phình động mạch não [50].




23

Năm 2011, Nguyễn Ngọc Cương đã báo cáo điều trị 56 bệnh nhân dị
dạng động - tĩnh mạch não bằng Onyx, tỷ lệ khỏi hoàn toàn là 32%, tỷ lệ tai
biến là 16,1% trong đó tai biến tử vong 3,6%, dính ống thông 8,9% [54].
1.2.4.3. Về các vật liệu can thiệp nội mạch
Trường hợp nút mạch đầu tiên được tiến hành bởi Luesenhop năm 1960
dùng hạt cầu Silastic [36], sau đó kỹ thuật nút DDĐTMN được phát triển với
các vật liệu nút mạch khác như dùng bóng 1974 của Serbineko [55], dùng
bóng có đục lỗ của Kerber 1976 [37]. Vào những đầu năm 1990, rất nhiều báo
cáo về tác dụng của Polyvinyl alcohol (PVA) để nút mạch tiền phẫu [56],[57],
[58]. Tuy nhiên vật liệu này có nhiều nhược điểm: không gây tắc mạch vĩnh
viễn động mạch và ổ dị dạng vì thế tỷ lệ tái thông ổ dị dạng rất cao, sự di
chuyển PVA vào nhánh lành là thường gặp vì ống thông không có đủ kích
thước để bơm PVA thì không thể vào sâu tận ổ dị dạng được, mặt khác có rất
nhiều kích cỡ khác nhau của động mạch nuôi ổ dị dạng, tĩnh mạch dẫn lưu,
các khoang trong một ổ dị dạng nên hạt PVA vừa có thể tắc động mạch nuôi,
vừa có thể vào ổ dị dạng mà vừa gây tắc tĩnh mạch dẫn lưu tăng nguy cơ chảy
máu. Hiện nay đã không còn sử dụng vật liệu này.
Vòng xoắn kim loại (Coil) cũng được sử dụng để nút DDĐTMN nhằm
làm tăng hiệu quả tắc mạch của PVA [38]. Vật liệu nút này sẽ làm tắc cuống
động mạch nuôi ổ dị dạng nhưng về lâu dài sẽ hình thành các tuần hoàn vào ổ dị
dạng vì không triệt tiêu được ổ dị dạng. Vì thế phương pháp điều trị này không
những không làm giảm kích thước ổ dị dạng mà còn chặn mất đường vào nút
mạch khi có tái thông tuần hoàn vào ổ dị dạng. Vì những lý do trên vòng xoắn
kim loại được dùng trong ít trường hợp có thông trực tiếp động - tĩnh mạch. Một
số vật liệu khác như sợi tơ, cồn tuyệt đối cũng được báo cáo nhưng hiệu quả và
an toàn không được xác định vì chỉ được dùng cho ít bệnh nhân.


25

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân đã được chẩn đoán DDĐTMN có biến chứng
chảy máu trong sọ đã được điều trị bằng phương pháp nút mạch với Onyx từ
tháng 3 năm 2013 đến tháng 9 năm 2015.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Lâm sàng:
Các bệnh nhân có biểu hiện chảy máu trong sọ nghĩ đến do DDĐTMN
- Chẩn đoán hình ảnh:
+ Chụp cắt lớp vi tính và/hoặc cộng hưởng từ có hình ảnh của DDĐTMN.
+ Chụp mạch não số hóa xóa nền: khẳng định trước điều trị.
- Tiêu chuẩn điều trị nút mạch:
+ Theo đặc điểm lâm sàng
Là những bệnh nhân DDĐTMN vỡ có chảy máu dưới nhện hoặc máu
tụ trong não phải được điều trị ít nhất hai tuần để máu tụ dịch hóa vì khối máu
tụ trong não sẽ chèn ép vào ổ dị dạng gây nhận định sai về ổ dị dạng, các
cuống động mạch nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu.
+ Theo đặc điểm tổn thương của DDĐTMN
Tiêu chuẩn tuyệt đối:
- Kích thước nhỏ dưới 3cm, khu trú



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status