ĐẶT VẤN ĐỀ
U dạng tinh bột hay thoái hóa dạng tinh bột không chỉ một bệnh đơn
thuần mà được dùng để chỉ nhiều bệnh khác nhau với đặc điểm chung là các
protein hòa tan trở thành không hòa tan và lắng đọng ở ngoại bào của các cơ
quan hay các mô khác nhau gây phá vỡ chức năng bình thường của các cơ
quan hay các mô này và gây ra các tình trạng bệnh lý [6].
U dạng tinh bột có thể nguyên phát hay thứ phát sau tình trạng viêm
mạn tính. Có thể khu trú ở một cơ quan hay biểu hiện ở nhiều cơ quan khác
nhau như tim, thận, não, gan, lách … trong đó hay gặp nhất là tổn thương ở
tim, thận.
U dạng tinh bột đường hô hấp là một u lành tính, hiếm gặp. Ở Mỹ hàng
năm có khoảng 5,1-12,8 trường hợp mắc / một triệu người. Bệnh có thể gặp ở cả
nam và nữ với tỷ lệ nam/nữ là 3/1, gặp ở mọi lứa tuổi, tuổi thường gặp 40-60 tuổi.
Tùy vị trí của khối u dạng tinh bột mà gây ra các triệu chứng khác
nhau. U dạng tinh bột ở mũi xoang thường có triệu chứng chảy máu mũi
nhiều lần ra cửa mũi trước hoặc cửa mũi sau, ngạt tắc mũi, rối loạn chức năng
vòi Eustachian [7]. U dạng tinh bột ở thanh quản thường có triệu chứng khàn
tiếng kéo dài, khó thở. U dạng tinh bột ở khí, phế quản hay biểu hiện bởi các
triệu chứng của tắc nghẽn đường hô hấp bao gồm khó thở, thở rít, ho [8]. Như
vậy, các triệu chứng lâm sàng của u dạng tinh bột ở đường hô hấp không đặc
hiệu, nên thường chẩn đoán nhầm với các bệnh lý khác và phát hiện bệnh ở
giai đoạn nặng nên việc điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn.
Ngày nay, với sự phát triển của nội soi tai mũi họng, nội soi khí phế
quản cùng với những tiến bộ của chuyên ngành giải phẫu bệnh và sinh học
phân tử đã giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh cũng như định týp được
chính xác hơn. Tuy nhiên, vấn đề điều trị đặc hiệu cho bệnh vẫn còn là một
thách thức.
Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho u dạng tinh
bột đường hô hấp. Việc điều trị chủ yếu vẫn là phẫu thuật lấy bỏ khối u để
giải phóng đường thở và giảm bớt các triệu chứng lâm sàng kết hợp với điều
trị nội khoa nhằm giảm sự tái phát.
khám nghiệm (huyết áp, mỡ máu, nước tiểu …) và đều được nhuộm đỏ congo
cho kết quả dương tính.
Tiếp theo tác giả J.G Fraser và Michael Kaye, năm 1962, Schuller H và
cộng sự mô tả một ca u dạng tinh bột ở phổi.
Tới năm 1967, hội thảo quốc tế đầu tiên về thoái hóa dạng tinh bột đã
được tổ chức tại Groningen bởi Enno Mandema, Luuk Ruinen, Jan Scholten
và Alan Cohen.
Năm 1968, Mordechai PRA đưa ra phương pháp chiết xuất protein từ
sợi với nước, đây là bước khởi đầu trong nghiên cứu đặc tính hóa học của các
protein amyloid sau này.
Năm 1972, Earl Benditt mô tả amyloid AA như protein điển hình mới
đặc trưng trong thoái hóa dạng tinh bột
Đến năm 1980, Knut Slentten mô tả prealbumin (transthyretin) như
protein đặc trưng của amyloid ở bệnh nhân thoái hóa dạng tinh bột hệ thống.
Năm 1920, nghiên cứu mô bệnh học về amyloid đã đưa ra phương pháp
nhuộm đỏ congo để chẩn đoán u tinh bột.
Năm 2001, Merrill Benson mô tả apolipoprotein AII là protein đặc
trưng của amyloid trong thoái hóa dạng tinh bột biểu hiện ở thận (thoái hóa
dạng tinh bột hệ thống)
Tiếp sau đó có nhiều nghiên cứu về các loại protein amyloid và khoảng
60 protein amyloid đã được xác định, trong đó có ít nhất 36 loại có liên quan
đến bệnh lý của con người.
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Năm 2012, Lương Thị Minh Hương và Đào Đình Thi đã có báo cáo
nghiên cứu về 13 trường hợp u dạng tinh bột đường hô hấp trên lần đầu phát
hiện ở Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung Ương từ năm 2007-2012 trong Hội
nghị Tai – Mũi – Họng toàn quốc, tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều có
tổn thương u dạng tinh bột ở thanh quản và dương tính với nhuộm đỏ congo.
1.2. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ ĐƯỜNG HÔ HẤP
1.2.1. Giải phẫu và sinh lý mũi xoang [1]
+ Trong niêm mạc khe trên, vùng vách ngăn tương ứng và ở phía trên
cuốn giữa được phân bố bộ phận thụ cảm ngoại biên của dây thần kinh số I.
)*.*)*.*;075- :
Gồm các nhóm xoang trước và nhóm xoang sau.
* Các xoang trước: gồm các xoang hàm, sàng trước, xoang trán
- Xoang hàm: là xoang lớn nhất nằm trong thân xương hàm trên, lỗ
thông tự nhiên của xoang hàm đổ ra khe giữa.
- Xoang trán: nằm ở vùng trán, ở trên góc trong trên ổ mắt, có một khe
thông từ xoang trán xuống mũi gọi là cống mũi trán
- Xoang sàng trước: gồm đám tế bào sàng (3-5) nằm phía trước, đám tế
bào này thông ra ngoài qua khe giữa.
* Các xoang sau: gồm đám tế bào sàng sau và xoang bướm
- Đám tế bào sàng sau: nằm ở phần sau xoang sàng, liên quan kế cận
với xoang bướm, cũng gồm 5-6 tế bào.
- Xoang bướm: nằm trong thân xương bướm, thông ra ngoài qua khe trên.
)*.*)*8*+ <
* Mạch:
- Động mạch: động mạch bướm – khẩu cái xuất phát từ động mạch hàm
(một nhánh của động mạch cảnh ngoài), động mạch sàng trước và động mạch
sàng sau là các nhánh của động mạch mắt.
- Tĩnh mạch hốc mũi đổ về tĩnh mạch mặt và tĩnh mạch mắt. Tĩnh mạch
vùng trên mũi và các xoang đổ vào tĩnh mạch dọc của màng não cứng
- Bạch mạch: thông với khoang dưới nhện và dưới màng cứng. Đây là
con đường lan truyền nhiễm khuẩn quan trọng và bệnh mũi xoang thường gây
đau đầu.
* Thần kinh
- Thần kinh cảm giác: do nhánh 1 và 2 của dây V phân nhánh
- Thần kinh khứu giác (I) đi qua bản lưới của xương sàng đến vùng
khứu giác của mũi, gồm các biểu mô thần kinh đã biệt hóa cao.
)*.*)*=*>?:75-
)*.*.*=;&J5-
K -B Khung sụn TQ, các dây chằng và các cơ bên
trong TQ được phủ bởi một lớp niêm mạc, niêm mạc thanh quản bao gồm có
vùng có cấu trúc biểu mô hô hấp (biểu mô trụ có lông chuyển), một vùng có
cấu trúc biểu mô tiêu hóa (biểu mô lát không có cầu sừng) và một vùng niêm
mạc có cấu trúc trung gian xen kẽ giữa biểu mô hô hấp và biểu mô tiêu hóa.
Dưới niêm mạc là mô liên kết với nguyên bào sợi.
- Biểu mô lát tầng bao phủ bề mặt dây thanh và phần trên tiền đình TQ.
- Biểu mô trụ có lông chuyển bao phủ phần còn lại của TQ, tức vùng
thanh thất Morgani và vùng dưới thanh môn.
- Biểu mô rung động hình trụ không có ở vùng hai dây thanh, dây
chằng phễu- nắp TQ, mặt TQ của sụn phễu và khoang liên phễu. Ở các vùng
này chỉ có biểu mô phẳng nhiều lớp.
- Các tuyến nhày phân bố ở:
+ Băng thanh thất.
+ Mặt sau nắp TQ.
+ Bờ của nếp phễu – thanh thiệt.
+ Mặt dưới của dây thanh.
KL-#M-8<B
- Thượng thanh môn: Là tiền đình TQ, giới hạn trước bởi sụn nắp, ở sau bởi
các sụn phễu, hai bên bởi các nếp đi chếch xuống từ sụn nắp tới sụn phễu. TQ
loe rộng như một cái phễu thông với hầu.
+ Phía dưới tiền đình là băng thanh thất: Hai nẹp nhỏ hơn dây thanh,
nằm song song với dây thanh.
+ Buồng Morgagni: Là khoảng rỗng giữa dây thanh và băng thanh thất.
- Tầng thanh môn: Gồm hai dây thanh, mấu thanh âm và khe thanh môn.
+ Dây thanh: Giống như một cái nẹp đi từ cực trước (góc sụn giáp) ra
cực sau TQ (sụn phễu). Cấu tạo gồm 3 lớp: lớp niêm mạc là lớp tế bào
Malpighi mỏng bám sát và dây chằng, không có mạch máu; lớp cân và lớp cơ.
+ Thanh môn: là khoảng cách hình tam giác giữa hai dây thanh. Đầu
(cơ nhẫn phễu sau). Do đó, mỗi khi liệt cơ mở hoặc co thắt cơ khép, hoặc phù
nề TQ, u nhú TQ thì lòng TQ sẽ hẹp lại và bệnh nhân khó thở.
- Hai dây thanh mở ra và khép lại theo nhịp thở được điều chỉnh bởi
hành tủy.
)*.*8*.*P51#$Q#E: Được thực hiện nhờ hai phản xạ:
- Phản xạ đóng thanh môn ngăn không cho các vật lọt vào đường thở dưới.
- Phản xạ ho để tống dị vật ra ngoài.
)*.*8*8*R0
Thanh quản là một trong những cơ quan giữ phần cơ bản của chức năng
nói hay phát âm, gồm 3 phần:
- Thổi: Nhờ cử động lồng ngực, tạo nên một luồng không khí đi từ phổi,
khí, phế quản lên, tạo ra luồng khí có một áp lực và trong một thời gian nhất định.
- Rung (khép và rung động dây thanh):
+ Hai dây thanh được khép lại.
+ Niêm mạc dây thanh được rung động nhờ luồng khí thổi tạo áp lực
dưới thanh môn đã gây nên độ căng dây thanh.
+ Độ căng dây thanh do các cơ căng dây thanh, chủ yếu là cơ nhẫn giáp.
+ Âm thanh trầm hay bổng phụ thuộc độ căng nhiều hay ít của dây thanh.
Vì vậy, khi có bất kỳ nguyên nhân nào (phù nề niêm mạc, khối u) làm
cho dây thanh khép không kín sẽ gây nên khàn tiếng.
- Cộng hưởng: Nhờ các hốc trên thanh môn (TQ, họng, miệng, mũi).
)*.*8*=*S
Thanh quản bảo vệ không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp dưới khi
chúng ta ăn uống. Sự bảo vệ này được thực hiện nhờ các cơ siết họng kéo sụn
nhẫn về phía sau trên làm thanh quản nhô lên và nghiêng về phía trước, húc
vào thanh thiệt. Thanh thiệt vừa bị sụn giáp đẩy lên, vừa bị xương móng giữ
lại sẽ bẻ gập ở đoạn giữa và cúi xuống che đậy lỗ thanh quản. Phản xạ này là
một trong 4 thì của phản xạ nuốt.
1.2.4. Giải phẫu khí quản
Là một ống dẫn khí tiếp theo thanh quản ở ngang đất sống cổ VI và tận
PQ gốc
phải
PQ gốc
trái
1.2.5. Giải phẫu phế quản [1]
Hai phế quản gốc phải và trái (bronchi principales dexter et sinister) tách
ra từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực IV tạo thành với nhau một góc
khoảng 70
0
. So với phế quản gốc trái thì phế quản gốc phải ngắn hơn, to hơn
và chếch hơn. Sau khi qua rốn phổi, mỗi phế quản chính đi trong phổi theo
hướng một trục gọi là thân chính, từ thân chính tách ra các phế quản phân
thùy. Sự phân chia này khác nhau giữa hai phế quản gốc.
Tiếp đó, các phế quản phân thùy lại phân chia thành các nhánh, rồi các
nhánh này lại phân chia nhiều lần thành các phế quản nhỏ dần, các sụn cũng
thưa dần rồi đến khi không còn và trở thành các tiểu phế quản trên tiểu thùy
rồi các tiểu phế quản tiểu thùy. Tiểu thùy là đơn vị cơ sở của phổi, có đáy là
hình đa giác hiện lên bề mặt phổi. Vào trong tiểu thùy, các tiểu phế quản tận
sẽ chia thành các tiểu phế quản hô hấp (bronchioli respiratorii) rồi các ống
phế nang (ductuli alveolares) và tận hết là các túi phế nang (sacculi
alveolares), cuối cùng là các phế nang (alveoli pulmonis). Bao quanh các phế
nang là mạng lưới mao mạch. Các khí trong máu và phế nang cá thể khuếch
tán qua thành các mao mạch và phế nang.
Phế quản gốc phải chia làm ba phế quản thùy (bronchi lobarres) trên,
giữa và dưới.
Phế quản thùy trên phải tách vuông góc với thân chính và chia làm 3 phế
quản phân thùy: phế quản phân thùy đỉnh [PQ1] [B1], phế quản phân thùy sau
[PQ2][B2] và phế quản phân thùy trước [PQ3] [B3].
Phế quản phân thùy giữa phải tách từ thân chính dưới phế quản thùy trên
khoảng 2 cm và chia thành hai phế quản phân thùy: phế quản phân thuỳ bên
đổi trong cấu trúc thứ cấp của protein để đưa vào một dạng không hòa tan
tổng hợp đặc biệt. Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào vị trí trong cơ thể
tích lũy chất dạng tinh bột. U dạng tinh bột có thể do di truyền hoặc mắc phải.
Trong số khoảng 60 protein amyloid đã được xác định cho đến nay, có
ít nhất 36 loại có liên quan đến bệnh lý của con người [9; 20]
1.3.1. Sinh bệnh học
Cơ chế tạo Amyloid [28]:
- Các týp amyloid đều có nguồn gốc từ các protein tiền thân trong
huyết tương (protein precusor): Ig chuỗi nhẹ, Apo SAA…
- Do cơ chế miễn dịch, do viêm mạn tính …. kích hoạt làm tăng nồng
độ protein tiền thân.
- Protein tiền thân tương tác với các vi yếu tố của cơ quan đích tạo
thành dạng oligomers.
- Oligomers liên kết với glycosaminoglycan sulfate và serum amyloid P
tạo nên những sợi protein amyloid (dạng tinh bột) lắng đọng ngoài tế bào ở
các cơ quan gây ra tình trạng bệnh lý.
Thoái hóa dạng tinh bột do các tế bào mast sản xuất dư thừa kháng thể
đơn dòng. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là nguyên phát (do hiện
tượng thoái hóa của các tế bào mast) hay thứ phát sau các bệnh nhiễm trùng
mạn tính, đa u tủy xương, bệnh bạch cầu … Sau khi được sản xuất ở tủy
xương, các kháng thể này đi vào các mô và được đại thực bào ở mô xử lý
không hết tạo ra sản phẩm dư thừa là các Ig chuỗi nhẹ. Các phân tử này kết
dính với nhau và với các phân tử polysaccarid xung quanh tạo ra một vùng
thoái hóa với các cấu trúc dạng sợi phân nhánh (dưới kính hiển vi điện tử).
Các vùng thoái hóa này bắt màu xanh với iod (do có các phân tử polysaccard)
nên trong y văn được gọi là thoái hóa dạng tinh bột (amyloid).
1.3.2. Phân loại Amyloid
)*8*.*)*R5 V5
Theo lâm sàng, amyloidosis được chia thành 2 nhóm [9; 19]:
- Amyloidosis hệ thống: biểu hiện ở nhiều cơ quan, bệnh nặng và tỷ lệ tử
Nhiễm trùng mạn tính (như lao …)
Có tính chất gia đình:
Sốt Địa Trung Hải có tính chất gia đình
HC Muckle – Wells (mày đay, sốt, đau
các chi, điếc, amyloid thận …)
Da
Nguyên phát: dát, cục,
lichen …
Thứ phát: u da …
Nội tiết
Ung thư biểu mô tủy tuyến
giáp
Đái tháo đường typ II
Não
Bệnh Alzheimer
)*8*.*.*R5 V53-N=[B
Gần đây, phân loại bệnh có xu hướng dựa trên bản chất hóa sinh của
các loại protein liên quan.
Amyloid protein Protein tiền chất Hội chứng lâm sàng
AL Ig chuỗi nhẹ Amyloidosis hệ thống
nguyên phát
AH Ig chuỗi nặng Amyloidosis hệ thống
AA Apo serum protein Sốt Địa Trung Hải
ATTR Transthyretin Bệnh đa thần kinh có
tính chất gia đình
Agel Gelsolin Amyloidasis có tính chất
gia đình
AapoAl Apolipoprotein Al Bệnh đa thần kinh có
tính chất gia đình
Aβ2M β2-microglobulin Lọc máu kéo dài
- FAP II
- FAP III
- FAP IV
- Sốt Địa Trung Hải
- Hội chứng Muckle
Well
ATTR
ATTR
AA pol AI
AG Al
AA
AA
Transthyretin
Transthyretin
Apo AI
Gelsoline
Apo AA
Apo AA
4. Dialysis amyloidosis Aβ 2M β2microglobulin
5. Senile TTR
amyloidosis
ATTR Transthyretin
Thoái hóa
dạng tinh
bột khu trú
1. Thoái hóa dạng tinh
bột ở não:
- Alzheimer
- Cerebrovascular
amyloidosis (Bệnh
AIAPP
AANF
Calcitonin
IAPP
Atrial natriuretic
peptide
3. Thoái hóa dạng tinh
bột ở da
AD Keratin
4. Thoái hóa dạng tinh
bột dạng củ
AL Chuỗi nhẹ (κ,λ)
1.3.3. Dịch tễ học
Amyloidosis hệ thống thường không được chẩn đoán hoặc chẩn đoán
sai nên số liệu dịch tễ học không chính xác. Ước tính, ở Mỹ hàng năm có
1275-3200 trường hợp mới mắc amyloidosis hệ thống, 15% bệnh nhân đa u
tủy xương, 4-11% bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có biểu hiện amuloidosis
hệ thống. Bệnh ít gặp ở người dưới 40 tuổi, tuổi trung bình hay gặp là 65,
nam nhiều hơn nữ.
Amyloidosis hầu họng là dạng amyloidosis khu trú, cho đến nay chỉ có
một vài trường hợp được báo cáo, chưa có thống kê về tỷ lệ gặp.
Amyloidosis thanh quản chiếm 0,68% các khối u lành tính thanh
quản [3,11].
Amyloidosis khí phế quản, hiện tại chưa có thống kê về tỷ lệ mắc.
1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG U DẠNG TINH BỘT ĐƯỜNG HÔ HẤP
1.4.1. Triệu chứng cơ năng của u dạng tinh bột đường hô hấp
)*=*)*)*\ !":75-N)]^.8^._[
U dạng tinh bột mũi xoang là bệnh lành tính, thường có dạng u dạng
tinh bột khu trú. Đây là bệnh rất hiếm gặp, cho đến nay chỉ có một vài trường
hợp được báo cáo.
Trung Quốc mô tả 86 trường hợp. Hầu hết các báo cáo liên quan đến u dạng
tinh bột ở khí phế quản là một trường hợp đơn lẻ.
U dạng tinh bột có thể liên quan đến phổi như là một phần của một quá
trình hệ thống hoặc chỉ khu trú ở phổi [31].
U dạng tinh bột ở khí, phế quản hay biểu hiện bởi các triệu chứng của
tắc nghẽn đường hô hấp bao gồm [4;22]:
- Khó thở
- Thở rít
- Ho, ho ra máu
- Suy hô hấp
1.4.2. Triệu chứng thực thể của u dạng tinh bột đường hô hấp
Nội soi là một kỹ thuật rất có giá trị trong chẩn đoán và điều trị bệnh u
dạng tinh bột đường hô hấp. Hiện nay, đang áp dụng hai phương pháp:
- Phương pháp nội soi bằng ống cứng
- Phương pháp nội soi bằng ống mềm
* Nội soi mũi xoang và thanh khí phế quản bằng ống cứng:
+ Tư thế BN: ngồi hoặc nằm.
+ Vô cảm: BN được đặt thuốc co mạch vào hốc mũi 2 bên, xịt tê
hạ họng bằng xylocain. Đối với soi khí phế quản bệnh nhân được tiền mê và
tiêm thuốc giãn cơ.
+ Kỹ thuật soi:
- Bác sỹ đứng đối diện BN (nếu BN ngồi) hoặc ngồi bên cạnh B
(nếu BN nằm); đồng thời quan sát BN và màn hình.
- Nội soi mũi xoang: cầm optic 0
0
đưa vào hốc mũi quan sát hốc
mũi, các khe mũi, loa vòi 2 bên và vòm họng.
- Cầm ống soi với optic 70
0
đưa vào miệng bệnh nhân quan sát