NGHIÊN cứu THỰC TRẠNG BỆNH sâu RĂNG và mất RĂNG ẢNH HƯỞNG tới CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI ở THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH năm 2015 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ trong y học và đời sống vật chất
làm cho tuổi thọ con người ngày càng cao dẫn tới gia tăng số lượng người cao
tuổi trong xã hội. Theo WHO, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi,
bao gồm chăm sóc sức khỏe răng miệng là vấn đề cấp thiết được đặt ra và cần
được các nhà hoạch định chính sách quan tâm [31] vì sức khỏe răng miệng là
một phần quan trọng trong sức khỏe toàn thân, góp phần làm tăng chất lượng
cuộc sống cũng như hạnh phúc của mỗi người.
Hiện nay, sâu răng vẫn là một bệnh phổ biến, có tỉ lệ mắc cao không chỉ
ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Bệnh có thể mắc rất sớm và có
thể gặp ở mọi giới, mọi lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tầng lớp xã
hội, dân tộc, mọi vùng địa lý khác nhau. Chi phí cho việc chữa răng cũng rất
tốn kém. Vì vậy, từ những năm 70, WHO đã coi bệnh sâu răng là một trong ba
tai họa của loài người, xếp sau bệnh tim mạch và ung thư [32].
Hậu quả cuối cùng của sâu răng không được điều trị sẽ là mất răng.
Mất răng là một biến cố lớn đối với mỗi cá nhân, ảnh hưởng tới tâm lý và sức
khỏe của cá nhân đó do sự giảm sút chức năng nhai nghiền của răng và sự hấp
thu thức ăn của bộ máy tiêu hóa.
Theo số liệu điều tra sức khỏe răng miệng quốc gia năm 2001, tỷ lệ sâu
răng vĩnh viễn có chiều hướng tăng theo tuổi, tỷ lệ sâu răng của đối tượng từ
45 tuổi trở lên trong toàn quốc là 78%, chỉ số SMT dao động trong khoảng
6,09 - 11,66, số trung bình răng mất là 4,45-8,95, số trung bình răng được hàn
là 0,02-0,36 [3]. Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ
lệ sâu răng của người cao tuổi tại Hà Nội là 55,1%, chỉ số SMT là 12,6 [4].
Nguyễn Châu Thoa và cộng sự, năm 2010 nghiên cứu về tình trạng sức khỏe
răng miệng ở người cao tuổi ở miền Nam Việt Nam cho thấy người cao tuổi


2

1.1.1. Giải phẫu, tổ chức học răng:
Răng có cấu trúc giống như xương cứng được cắm chặt vào các huyệt ổ
răng của xương hàm, gồm có hai phần: thân răng và chân răng.
Cấu tạo chính của răng gồm: men răng, ngà răng và tủy răng


Men răng: phủ mặt ngoài thân răng, có nguồn gốc ngoại bì và là tổ

chức cứng nhất của cơ thể, với tỷ lệ muối vô cơ chiếm 96%, chất hữu cơ
chiếm 1,7%, còn lại là các muối carbonate của magie chiếm 2,3%. Men răng
không có sự bồi đắp thêm mà mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về mặt
vật lý và hóa học với môi trường miệng.


Ngà răng: được bao phủ bên ngoài bởi men răng và xương răng, ngà là

tổ chức kém cứng hơn men răng nhưng đàn hồi, không dễ vỡ như men. Thành
phần vô cơ chiếm 70%, nước và chất hữu cơ chiếm 30%. Bề dày ngà răng thay
đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà. Ngà răng ngày càng dày
theo hướng về phía hốc tủy răng làm cho ống tủy hẹp dần theo tuổi.


Tủy răng: Là mô liên kết mềm chứa nhiều mạch máu và đầu tận cùng

thần kinh nằm trong hốc tủy răng, gồm tủy thân và tủy chân. Các nguyên bào
ngà nằm sát vách hốc tủy.


Cement chân răng là tổ chức canxi hóa bao phủ bên ngoài ngà chân


Hoạt động chức năng của các cơ quan, phủ tạng giảm dần. Hệ thống nội
tiết hoạt động yếu hơn.
Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh như thời tiết nóng lạnh kém
dần. Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích nghi. Giảm khả
năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần.
Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng
xương. Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai như
vi rút, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự
miễn [8].

Hình 1.2: Hiện tượng lão hóa ở người cao tuổi (st)


6

1.1.2.2. Biến đổi trên mô răng và niêm mạc miệng.
Biến đổi ở tổ chức cứng: men và ngà răng
- Về khối lượng: mòn mặt nhai tùy theo cá nhân, nhưng tăng lên theo
tuổi, thường là mòn không đều tùy theo khớp cắn của từng người. Do mòn
nên mặt nhai dần trở thành bằng phẳng, mất cấu trúc hố rãnh làm cho khớp
cắn mất ổn định và hiệu quả nhai kém. Mòn mặt bên làm cho điểm tiếp xúc
giữa các răng trở thành diện tiếp xúc kèm theo sự di lệch gần của răng.
- Về chất lượng: mô cứng của răng trở nên cứng hơn nhưng khả năng
thẩm thấu, chuyển hóa cơ bản của men, ngà đều kém.
Biến đổi ở tủy răng:
Do có sự hình thành ngà thứ phát sinh lý theo tuổi và ngà thứ phát bệnh lý
do sâu răng, mòn răng, tiêu cổ răng dẫn tới buồng tủy thu hẹp dần lại. Ở người
trên 50 tuổi thường thấy buồng tủy, ống tủy chân rất hẹp, nhỏ, ống tủy cách
cuống răng 4-5mm thường không nhìn thấy và khi điều trị rất khó đi qua.
Biến đổi ở xương răng:


Ảnh hưởng trên các chức năng của răng miệng

Chức năng nhai, nuốt thức ăn: hiệu quả nhai giảm sút do răng suy yếu,
hệ thống môi, má, lưỡi giảm sự khéo léo và khả năng phối hợp. Chức năng
nuốt liên quan nhiều đến hoạt động của lưỡi, lưỡi giảm sự khéo léo làm cho
việc đảo thức ăn giảm, đồng thời việc nuốt cũng bị ảnh hưởng do những thoái
hóa về hệ thống thần kinh-cơ.
Chức năng phát âm: có sự thay đổi nhất định về giọng điệu và khả năng
nói theo tuổi, nhất là khi có các bệnh lý liên quan.
Chức năng thẫm mỹ: mất răng và giảm hoặc mất trương lực cơ mặt làm
biến đổi nét mặt ở người cao tuổi.
Chức năng tiết nước bọt: nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm
tiết về số lượng nước bọt, kể cả chức năng tổng hợp các kháng thể trong nước


8

bọt như IgA, lactoferrin, lysozyme…. Ngoài ra tình trạng khô miệng còn do
một số bệnh lý ở tuyến nước bọt, đặc biệt do dùng một số thuốc điều trị cao
huyết áp, tâm thần [9] ,..
1.2. Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi:
1.2.1. Bệnh sâu răng ở người cao tuổi:
Định nghĩa bệnh sâu răng:
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sự
huỷ khoáng thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô cứng
[10]. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên quan
đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình
sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của cơ thể.
1.2.1.1. Bệnh căn, bệnh sinh:

yếu tố liên quan bằng một sơ đồ đầy đủ hơn, cụ thể hơn và cập nhật hơn với
thực trạng bệnh [21].


11

Hình 1.5: Sơ đồ Fejerskov (1990) [21]
Sinh lý bệnh quá trình sâu răng
Cơ chế bệnh sinh bệnh sâu răng được thể hiện bởi sự mất cân bằng giữa
quá trình hủy khoáng và tái khoáng. Khi quá trình hủy khoáng chiếm ưu thế
hơn quá trình tái khoáng sẽ gây ra sâu răng [10].
Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng

Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
+ Mảng bám vi khuẩn


12

+ Chế độ ăn nhiều đường
+ Nước bọt thiếu,..
+ Acid từ dạ dày trào
Các yếu tố bảo vệ:

ngược

+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt

+ pH < 5


theo chiều rộng về phía chân răng và các mặt răng kế cận, không tạo hốc rõ
ràng [11].
Người cao tuổi thường có nhiều chân răng trong miệng do sâu vỡ hết
thân răng hay hình ảnh tổn thương sâu cộng với rạn nứt, gãy vỡ ở men ngà
tích lũy dần theo năm tháng.

Hình 1.7: Đặc điểm sâu răng ở người cao tuổi (st)
1.2.1.3. Tình hình nghiên cứu bệnh sâu răng ở người cao tuổi
Để đánh giá tình hình sâu răng, các nghiên cứu thường xem xét tỷ lệ
người mắc và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng. SMT là chỉ
số không hoàn nguyên khi áp dụng tiêu chí chẩn đoán sâu răng khi khám theo
tiêu chuẩn của WHO năm 1997: sâu răng là tổn thương không hoàn nguyên
và tổn thương chỉ được ghi nhận là sâu răng khi khám thấy có lỗ sâu. Tiêu
chuẩn xoang sâu được quy định theo WHO năm 1997: là rãnh trũng trên mặt
nhai, ngoài, trong gọi là sâu khi mắc thám trâm lúc thăm khám, ấn thám trâm
vào với lực vừa phải kèm với các dấu chứng sâu răng khác như sau: đáy
xoang mềm; có vùng đục xung quanh chỗ mất khoáng; có thể dùng thám trâm
cạo đi ngà mềm ở vùng xung quanh. Trong đó vùng đục do mất khoáng mà
chưa có ngà mềm vẫn được kể là răng lành mạnh.
Chỉ số SMT nói lên số răng sâu trung bình ở mỗi cá thể bao gồm răng
sâu chưa được xử lý, răng sâu đã được hàn và răng mất do sâu.


14

Kết quả SMT của một số quốc gia được ghi nhận theo bảng sau:
Bảng 1.1. Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số
nghiên cứu trên thế giới
Tác giả
Douglass C.W


36,0

0,6

1997

65-74

1006

784

-

2,3

1999

75+

293

-

62,9 1,96

Mất

Trám


2002

≥45

999

2007

>60

2007

>65

Tỷ lệ

Sâu

Mất

Trám

SMT

89,7

2,10

6,6


Trần Văn Trường ,
Lâm Ngọc Ấn,
Việt Nam [3]
Hoàng Tử Hùng [12]
Trần Thanh Sơn [13]

13,19
-

Theo thống kê của WHO 2005 [24], tỷ lệ sâu thân răng và chân răng
của người cao tuổi đều ở mức cao:
- Các nước phát triển, SMT ở mức 22 – 35 [25],[26].


15

- Nghiên cứu của WHO trên người độ tuổi 65-74 ở Madagascar 2004
[27] chỉ số SMT là 20,2, trong đó trung bình răng sâu không được điều trị ở
mức cao (S = 5,3), trung bình răng sâu được điều trị rất thấp (T = 0,4).
- Theo điều tra răng miệng toàn quốc lần thứ 2 tại Trung Quốc năm
2002 [28], trên đối tượng người ≥ 65 tuổi, SMT = 12,4.
- Theo nghiên cứu của Phạm Văn Việt năm 2004 trên địa bàn Hà Nội, tỉ
lệ sâu răng của người tuổi ≥60 là 55,06% với số trung bình răng sâu là 1,76;
trung bình một người có 10,73 răng mất và 0,12 răng được hàn; giá trị SMT là
12,6 và có 9,76% người sâu chân răng [4].
- Theo nghiên cứu của Lâm Kim Triển trên 199 đối tượng người cao
tuổi tại viện dưỡng lão TP.HCM năm 2014, tỷ lệ sâu răng là 97,9%, trung
bình có 2,07 răng bị sâu trong nhóm tuổi 60 – 74 và 2,47 răng sâu trong nhóm
tuổi trên 75; trung bình SMT ở nhóm tuổi 60-74 (13,55) thấp hơn nhóm tuổi

khó khăn trong vẫn đề tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn. Điều này dẫn
đến nguy cơ mắc các bệnh lý tiêu hóa ở người cao tuổi tăng cao hơn bình
thường.
- Phát âm khó khăn, đặc biệt khi mất nhóm răng cửa.
- Xương hàm bị thoái hóa và tiêu dần. Kích thước chiều cao và chiều
rộng của sống hàm giảm, trường hợp nặng sống hàm hàm trên gần như phẳng
với vòm hầu, sống hàm dưới ở ngang bằng với sàn miệng gây khó khăn cho
việc đeo hàm giả.
- Ảnh hưởng đến thẫm mỹ: Do mất răng, tiêu xương hàm, các cơ nhai,
cơ bám da mặt thoái hoá, dẫn đến những thay đổi ở vùng mặt, miệng: má xệ
xuống, hóp lại, rãnh mũi - má rõ nét hơn, mặt mất cân xứng hai bên, môi xập
xuống...làm khuôn mặt trông già sớm hơn.
- Đau vùng khớp thái dương hàm và cơ nhai: khi mất răng, sự tác động
lực lên các răng còn lại sẽ thay đổi, hậu quả có thể gây loạn năng khớp thái
dương hàm, đau mỏi hàm, mỏi cơ cổ...


17

- Gây tâm lý bi quan, chán nản, thiếu tự tin khi giao tiếp.

Hình 1.8. Hậu quả mất răng đối với người cao tuổi (st)
1.2.2.3 Phân loại mất răng
Mất răng được phân làm hai loại chính: đó là mất răng từng phần và mất
răng toàn bộ. Người ta ước tính có khoảng trên 65.000 kiểu mất răng ở trên
một cung hàm. Vì vậy, cần phải có phân loại mất răng từng phần cụ thể để dễ
dàng áp dụng được trong lâm sàng.
Có nhiều cách phân loại mất răng của nhiều tác giả khác nhau như:
Kennedy, Applegate, Kourliandsky, Bailyn, Skinner... Trong số đó, cách phân
loại mất răng của Kennedy được nhiều người sử dụng nhất.

Bảng 1.3. Bảng hệ số chịu lực của OKCMAN
Răng số
Hàm trên
Hàm dưới

1
2
1

2
1
1

3
4
4

4
3
3

5
3
3

6
5
5

7

C.W và Cs

Quốc gia

Năm

Tuổi

n

544

Số

Mất

trungb

toàn

ình

bộ

13,5

11,0

Beijing Chinese [28]


thuộc châu Âu, châu Úc và châu Mỹ. Các nghiên cứu cũng cho thấy: tình
trạng mất răng tăng dần theo chiều tăng của tuổi và có liên quan tới một số
yếu tố nhân khẩu - xã hội học. Hiện nay mất răng vẫn còn là vấn đề răng
miệng của người cao tuổi. Mặc dù trong những thập niên gần đây, người ta
thấy số răng tự nhiên còn lại có tăng lên, số người mất răng toàn bộ có giảm.
Theo kết quả điều tra quốc gia (1989 - 1990) so với điều tra 1985 - 1986 ở Mỹ
cho thấy: số người mất răng toàn bộ ở độ tuổi ≥ 70 đã giảm từ 46,3% còn
37,6%. Số người còn 20 răng trở lên tăng từ 20,3% lên 28,0%.. Cũng tại Mỹ,
Mandel I.D. (1996) cho biết số mất răng toàn bộ là 38,1% ở nhóm tuổi 55 - 64
trong vòng chưa đầy 30 năm đã giảm còn 15,6%.


20

1.3. Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng
1.3.1. Khái niệm và tầm quan trọng của chất lượng cuộc sống liên quan
sức khỏe răng miệng
1.3.1.1. Một số khái niệm
Để hiểu được khái niệm “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
răng miệng” cần phân biệt các khái niệm sau đây: chất lượng cuộc sống
(CLCS) và chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe (CLCS-SK).
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa chất lượng cuộc sống là “nhận thức
của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống dựa trên hệ thống văn hóa và
nguyên tắc nơi họ đang sống, liên quan tới mục tiêu, mong đợi, tiêu chuẩn và
mối quan tâm của bản thân người đó” [33].
Nói một cách đơn giản CLCS là cảm nhận chủ quan của một người là
hạnh phúc hay bất hạnh về những mối quan tâm khác nhau trong cuộc sống.
CLCS là một khái niệm rộng bao gồm sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý,
các mối quan hệ xã hội và mối liên quan của một cá nhân với môi trường
sống của họ.

thích hợp để đánh giá nhu cầu SKRM của cộng đồng hoặc để có thể thiết lập
các dịch vụ chăm sóc SKRM do chúng cung cấp ít thông tin về những tác
động của sức khỏe răng miệng. Hiện nay các nhà lập chính sách chăm sóc sức
khỏe răng miệng cho rằng một phương pháp đo lường SKRM thật sự có ý
nghĩa khi ghi nhận không chỉ vấn đề lâm sàng của sức khỏe răng miệng, mà
còn ghi nhận ảnh hưởng của những vấn đề này trên cuộc sống của con người,
qua đó có thể lập được các chính sách liên quan đến nâng cao chất lượng và hiệu
quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng [36].


22

1.3.2. Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe
răng miệng
Về cơ bản, có hai loại đo lường CLCS-SKRM, đó là thang đo tổng quát
và bộ câu hỏi nhiều mục về CLCS-SKRM [37].
Thang đo tổng quát, còn được gọi là thang đo một chỉ báo, là phương
pháp đánh giá CLCS-SKRM dựa trên câu trả lời cho một câu hỏi duy nhất.
Những câu trả lời rất đơn giản và phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả
các phạm trù xã hội. Ví dụ, đối tượng được hỏi: “ông/bà có thể chỉ ra mức độ
hài lòng về sức khỏe răng miệng của mình như thế nào?”. Những câu trả lời
được thực hiện một cách chung chung, trên năm thang điểm khác nhau, từ
“hoàn toàn hài lòng” đến “hoàn toàn không hài lòng”. Phương pháp này đơn
giản, có thể áp dụng trên quy mô lớn, ngay cả trong khảo sát quốc gia và các
chương trình sức khỏe răng miệng cộng đồng. Ngoài ra, thang đo này được
dùng để xác nhận giá trị của bộ câu hỏi nhiều mục [36].
Bộ câu hỏi nhiều mục là phương pháp đánh giá CLCS-SKRM dựa trên
câu trả lời cho nhiều câu hỏi trong một bộ câu hỏi. Các câu hỏi này được thiết
kế để hỏi về các khía cạnh cụ thể trong CLCS-SKRM, ví dụ: các câu hỏi về
chức năng ăn nhai, phát âm; các câu hỏi về cảm giác đau/khó chịu và những

Cornell (1997)
Dolan và Gooch (1991)
Gherumpong, Tsakos (2004)

1.1.1.1.

Tác động răng miệng lên sinh
hoạt hàng ngày (OIDP)
Chỉ số tình trạng SKRM chủ
quan (SOHIS)
Chỉ số đo lường CLCS-SKRM
(OHQoL)
Tác động nha khoa lên hoạt
động hàng ngày (DIDL)
Đánh giá CLCS-SKRM (OHQoL)
Chỉ số sức khỏe răng miệng
Rand (DHQ)
Tác động của SKRM lên sinh
hoạt hàng ngày của trẻ em (ChildOIDP)

Chỉ số tác động sức khỏe răng miệng (Oral Health Impact Profile-

OHIP)
Năm 1994, Slade và Spencer giới thiệu bộ câu hỏi chỉ số tác động sức
khỏe răng miệng - OHIP gồm 49 câu hỏi (OHIP-49) [39]. Chỉ số này được
xây dựng với mục đích cung cấp một phương pháp đo lường toàn diện về rối
loạn chức năng, tính không thoải mái và bệnh tật do các vấn đề răng miệng
gây ra. OHIP liên quan với bệnh răng miệng và ba lĩnh vực chức năng (xã hội,
tâm lý và thể chất), đại diện cho 4 trong 7 lĩnh vực chất lượng cuộc sống do
Patrich và Bergner đề nghị [40].

tuổi và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới [41].


25

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Gerritsen A. E. và Nguyễn Thị Châu
Thoa trong thử nghiệm áp dụng bộ công cụ OHIP-14VN trong đó có hiệu
chỉnh phù hợp với ngôn ngữ Việt Nam cho thấy OHIP-14VN có cấu trúc phù
hợp với tính giá trị và độ tin cậy chấp nhận được để áp dụng cho các nghiên
cứu ở Việt Nam.
1.3.2.3. Tính toán điểm số OHIP-14VN
Để tính toán điểm số OHIP-14VN, ta sử dụng thang đo Likert 5 mức độ
để đánh giá tần suất các hoạt động bị ảnh hưởng bởi tình trạng SKRM (0:
chưa bao giờ; 1: hiếm khi; 2: Thỉnh thoảng; 3: Thường xuyên; 4: rất thường
xuyên). Tổng điểm OHIP-14 cho mỗi người sẽ dao dộng từ 0 đến 56 điểm.
Điểm càng cao cho thấy CLCS-SKRM càng thấp.
1.3.3. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống liên quan SKRM sử
dụng bộ câu hỏi OHIP – 14
1.3.3.1. Nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Rodakowska sử dụng phương pháp điều tra cắt
ngang trên 178 người trên 55 tuổi sống một mình tại một phòng khám nha
khoa cộng đồng Bialystk ở Đông Bắc Phần Lan, được phỏng vấn trực tiếp
theo bộ câu hỏi OHIP-14 cho kết quả trung bình điểm OHIP-14 là 17,6 ±
14,3, điểm trung bình ở nam là 13 ± 13,7, ở nữ là 17 ± 14,7, không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê theo giới [43].
Nghiên cứu của tác giả Inukai M năm 2010 tại Tokyo Nhật bản, sử
dụng bộ câu hỏi OHIP-14 phỏng vấn trực tiếp trên 489 bệnh nhân mất răng
từng phần, cho kết quả điểm số trung bình OHIP-14 là 13,0 ± 9,1 [44].
Tại phía Nam Brazil năm 2013, tác giả Silva A. E. R đã tiến hành
nghiên cứu trên 438 người trên 60 tuổi điều trị tại Family Health Units


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status