Dạy học bài hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (ngữ văn 10) theo định hướng phát triển năng lực - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

VŨ THỊ KIỀU OANH

DẠY HỌC BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
BẰNG NGÔN NGỮ (NGỮ VĂN 10) THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI , 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

VŨ THỊ KIỀU OANH

\

DẠY HỌC BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
BẰNG NGÔN NGỮ (NGỮ VĂN 10) THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học

Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2019
Tác giả khoá luận

Vũ Thị Kiều Oanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu .............................................................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................................4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................................5
6. Bố cục của khoá luận .........................................................................................................................6
NỘI DUNG .............................................................................................................................................7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .....................................................................7
1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực ..............................................................................7
1.1.1. Khái niệm năng lực.......................................................................................................................7
1.1.2. Dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực .....................................................9
1.1.3. Ý nghĩa của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực ...............................................11
1.2. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ .............................................................................................12
1.2.1. Khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ..........................................................................12
1.2.2. Cơ chế thực hiện hoạt động giao tiếp.........................................................................................13
1.2.3. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ................................................................14
1.3. Dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” theo định hướng phát triển năng lực ......15
1.4. Thực trạng dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” ở trường THPT
...................................16
1.4.1. Nội dung dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” trong SGK Ngữ văn 10
...........................16
1.4.2.Thực trạng dạy bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn

2.5.5. Phương pháp đóng vai ................................................................................................................31
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ...........................................................................................33
3.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm ...................................................................................................33
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm...............................................................................................33
3.4. Nội dung thực nghiệm...................................................................................................................34
3.5. Kết quả thực
nghiệm.........................................................................................................................47
KẾT LUẬN ...........................................................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

NL

: Năng lực

PP

: Phương pháp

PPDH


phát triển theo kịp với chất lượng đào tạo giữa các nước trong khu vực và
quốc tế, từng bước khẳng định giá trị con người Việt Nam có thể đáp ứng nhu
cầu của toàn cầu.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là môn học bắt.
Ngoài chức năng công cụ, môn học này còn có nhiệm vụ hình thành và phát
triển các NL chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân
cách, các phẩm chất cao đẹp của người học. PPDH Ngữ văn trong hầu hết các
trường phổ thông hiện nay đã có những chuyển biến khá tích cực đáp ứng sự
đổi mới của ngành và sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, trong chương trình
Ngữ văn hiện nay vẫn còn mang nặng tính hàn lâm. Nội dung học tập còn
trừu tượng, chưa thực sự gắn liền với những tình huống trong cuộc sống nên
nhiều HS cho rằng môn học không thiết thực đối với sự phát triển con người
các em, chưa giúp các em có cơ hội khẳng định mình trước cộng đồng. Điều
đó dẫn tới các NL thiết yếu của HS chưa được hình thành và chưa thực sự
được chú trọng phát triển – nhất là những NL cá nhân. Cũng vì thế, hiện
tượng HS không hứng thú thậm chí có thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với việc
học tập bộ môn so với những môn học khác là điều đáng suy nghĩ.
1


“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” là bài học về tiếng mẹ đẻ đầu
tiên của chương trình Ngữ văn ở THPT. Đối với nội dung dạy học bài này,
mục đích là giúp cho S hiểu về giao tiếp – hoạt động cơ bản, đặc thù của
con người, hiểu được các nhân tố cấu thành nên hoạt động này và ngôn ngữ
được xem là một phương tiện trọng yếu giúp cho chúng ta thực hiện được
mọi hoạt động giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Theo đó, khi GV hướng
dẫn HS tìm hiểu bài“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”, giáo viên (GV) có
thể hình thành và phát triển được một số NL thiết yếu, trong đó chú ý đặc biệt
là NL giao tiếp cho người học. Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy học nội dung
này ở các trường học chưa thực sự hướng tới nhiệm vụ trên.

sinh ra các lời nói đúng và hay vừa là phương tiện đồng thời vừa là mục đích
của bộ môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông” [1, tr.57]
Tiếp nối quan điểm trên, tác giả Lê A khi đánh giá vấn đề sử dụng ngôn
ngữ trong giao tiếp đã nhấn mạnh: “Tri thức về Tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và
chắc chắn khi các em đã thực sự vận dụng vào hoạt động giao tiếp” bởi vì
“giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ”. Từ những đánh giá tác giả
đã khẳng định: “Chọn hoạt động giao tiếp làm đối tượng dạy học chẳng
những không bỏ qua các tri thức Việt ngữ mà còn góp phần làm cho những tri
thức ấy linh hoạt, phong phú hơn và gần với thực tế cuộc sống hơn.” [2]
PGS.TS Đỗ Việt ùng (Trường Đại học Sư phạm à Nội) trong bài
viết: “Dạy - học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực”
đã khẳng định: “Năng lực tiếng Việt là một trong những năng lực chung, có
tầm quan trọng cần được quan tâm để hình thành và phát triển tốt ở người
học, vì tiếng Việt là công cụ quan trọng nhất để hình thành và phát triển các
năng lực khác” [10]. Nhấn mạnh nhận định trên, tác giả đánh giá: “Hiệu quả
giao tiếp, trong đại bộ phận các lĩnh vực của đời sống, phụ thuộc vào năng
lực tiếng Việt – vì thế muốn hình thành và phát triển năng lực giao tiếp phải
hình thành và phát triển năng lực tiếng Việt (đương nhiên là kết hợp với một
số năng lực khác mới có năng lực giao tiếp tốt). Mặt khác, việc hình thành và
phát triển năng lực tiếng Việt không thể thực hiện được nếu đặt tiếng Việt
ngoài tư cách là phương tiện giao tiếp. Nói cách khác, muốn hình thành và
phát triển năng lực tiếng Việt phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với năng
lực giao tiếp” [10].


Có thể nhận thấy, thông qua việc tìm hiểu về một số công trình tiêu
biểu như trên, việc đánh giá về NL, dạy học tiếng mẹ đẻ nhằm hình thành NL
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Tuy nhiên chưa có công trình nào gắn
mục đích dạy học theo định hướng phát triển NL người học vào bài dạy cụ thể
đó là bài: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” thì dường như lại chưa có

Từ mục đích nghiên cứu đề tài: Dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ” (Ngữ văn 10) theo định hướng phát triển năng lực khóa luận đã
tập trung chủ yếu vào tìm hiểu về những phương diện của dạy học theo định
hướng phát triển NL người học qua đó đề xuất và đưa ra giải pháp triển khai
trong quá trình tổ chức dạy học. Qua đó nhằm giúp người học chủ động, tích
cựctrong quá trình học tập.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đối với đề tài nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn nội dung dạy
học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” (Ngữ văn 10). Đây là phạm vi
nghiên cứu cho sự vận dụng những đề xuất cho việc tổ chức dạy học theo
hướng phát triển NL người học. Qua đó để những tiết học Tiếng Việt trong
trường phổ thông theo những yêu cầu mới đạt được kết quả tích cực và hiệu
quả cao.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài trên, các phương pháp (PP) mà chúng tôi sử dụng
như sau:
5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết
Đây là PP sắp xếp các tài liệu, thông tin lý thuyết đã thu thập được và liên
kết chúng lại với nhau để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về đối
tượng nghiên cứu. Đồng thời PP này giúp người nghiên cứu nắm và tổng hợp
lại những vấn đề về mặt lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. PP tổng
hợp các vấn đề lí thuyết được sử dụng để phân tích cơ sở về lí luận và thực
tiễn đối với việc hình thành và rèn luyện, phát triển các NL cho người học
trong phạm vi nghiên cứu.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Đây chính là thao tác để có thể phân biệt, có sự so sánh, đối chiếu những
sự vật, hiện tượng với nhau. Đối với phạm vi đề tài nghiên cứu của khóa luận
này, chúng tôi sử dụng PP so sánh, đối chiếu để có thể thấy được sự thay đổi





NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.1. Khái niệm năng lực
Khi nghiên cứu sự phát triển của con người trong quá trình tiến hóa,
các nhà tâm lí học nhận thấy mỗi cá nhân, khi tham gia vào các hoạt động có
tính xã hội đều ít nhiều có một thế mạnh riêng. Điều đó được thể hiện rất rõ
trong việc họ khẳng định khả năng thực hiện công việc có tính xã hội, tính
cộng đồng. Và từ đó, thuật ngữ năng lực được nhắc tới. Và sau này, cho đến
những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà khoa học mới tập trung nghiên cứu.
Năng lực có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “competentia” có nghĩa là gặp gỡ.
Tuy nhiên, nói tới thuật ngữ này, mỗi nhà khoa học lại có những quan niệm
khác nhau do sự chi phối trong cách tiếp cận, sự chi phối của bối cảnh và mục
đích sử dụng những quan niệm đó.
Không đồng nhất với quan niệm trên về năng lực, Từ điển Bách khoa
Việt Nam (Tập III) định nghĩa: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện
mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn
một số dạng hoạt động nào đó.” [13,tr. 41].
Nhấn mạnh ý nghĩa bản chất của từ “năng lực”, “Từ điển Tiếng Việ”t
nhấn mạnh đó là“khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
hiện một hoạt động nào đó” hay khi nhắc đến NL của con người thì đó là
“phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt
động nào đó với chất lượng cao” [15, Tr. 639]. Có phần đồng tình và mở rộng
với khái niệm này, hai tác giả Trần Khánh Đức và Đặng Thành

ưng lại có sự mở


kinh nghiệm, ý chí… để thực hiện/giải quyết thành công một (một số) hoạt
động/nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định.” [8].
Do có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này nên trong khóa luận,
chúng tôi lựa chọn khái NL trong “Chương trình Giáo dục phổ thông tổng
thể” từ việc triển khai các nội dung đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra khái niệm “năng lực”: “NL là khả
năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự
huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như
hứng thú, niềm tin, ý chí,... NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức
và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc


sống.” [4]. Việc lựa chọn khái niệm này để có sự định hướng gần nhất với
thực tế phổ thông và theo sát với mục đích đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông hiện nay. Theo đó, có thể khẳng định, khi nhắc tới NL, người ta nhắc
tới một phạm trù gắn với khả năng của con người, đó là sản phẩm của sự kết
hợp giữa những tố chất sẵn có bên trong cùng với quá trình học tập và rèn
luyện của người học. Thông qua quá trình học tập, NL sẽ dần được hình thành
và hoàn thiện khi người học tích hợp các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cùng với
tố chất của bản thân. Nhắc tới NL, người ta có thể khái quát nó thành sơ đồ
sau:

1.1.2. Dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
Cho tới nay, khi nghiên cứu và đánh giá chương trình và mô hình đào
tạo của nhiều quốc gia trên thế giới, có thể nhận thấy những nước có nền giáo
dục tiến bộ đều rất coi trọng việc dạy học theo hướng phát triển NL. Trong
thực tế khi dạy học theo hướng này, đối với tất cả những bộ phận tham gia
vào quá trình giáo dục đó là đều phải tập trung hướng tới đích cuối cùng là
đảm bảo được về chất lượng của đầu ra cho người học. Sang đến đầu TK
XXI, những quốc gia phát triển đều chú trọng đến phát triển GD, việc hình

NL của HS, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học.
Theo đó, tác giả Lê Đình Trung khẳng định: “Chương trình dạy học định
hướng năng lực không quy định nội dung dạy học chi tiết mà quy định những
kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục; trên cơ sở đó đưa ra
những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và
đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức
là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.” [14, tr.66].


Ngữ văn là môn học có vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục
bậc phổ thông. Vì vậy việc đổi mới PP giảng dạy của môn học theo định
hướng phát triển NL là một trong những yêu cầu rất quan trọng và cần thiết.
Theo tác giả Lê Đình Trung thì: “Năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực
thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ” [14, tr. 36]. Qua việc đổi mới PP
giảng dạy môn học này sẽ giúp người học hình thành những NL, qua đó phát
huy tính sáng tạo, tự chủ của HS, chú trọng việc vận dụng những tri thức vào
giải quyết những tình huống của thực tiễn đời sống.
1.1.3. Ý nghĩa của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Theo tác giả Đặng Thành ưng: “Bản chất của giáo dục theo tiếp cận
NL là lấy NL làm cơ sở (tham chiếu) để tổ chức chương trình và thiết kế nội
dung học tập. Điều này cũng có nghĩa là NL của HS sẽ là kết quả cuối cùng
cần đạt được của quá trình dạy học hay giáo dục. Nói cách khác, thành phần
cuối cùng và cơ bản của mục tiêu giáo dục là các phẩm chất và NL của người
học. NL vừa được coi là điểm xuất phát đồng thời là sự cụ thể hóa của mục
tiêu giáo dục. Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực HS cần được đặt
đúng chỗ của chúng trong mục tiêu giáo dục” [11]. Có thể hiểu một cách
khác đó là việc dạy học theo định hướng phát triển NL chú trọng vận dụng
những kiến thức vào thực tiễn đời sống nhằm phát triển tối đa những NL của
chủ thể học tập. HS chính là người sẽ chủ động trong toàn bộ quá trình học
tập và bản thân chủ thể học tập có thể hoàn thành những nhiệm vụ học tập

những thông tin tình cảm, giãy bày được những cung bậc tâm lý rất tinh tế
của chính bản thân con người. Theo đó, các nhà khoa học nhận thấy, trong
cuộc sống, con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, trong
đó ngôn ngữ là phương tiện rất cần thiết, rất quan trọng của con người trong
giao tiếp hàng ngày. Ngày nay khi mà xã hội phát triển theo xu hướng toàn
cầu hóa, ta nhận thấy rõ giao tiếp là nhu cầu càng trở nên quan trọng và cần
thiết, nó cũng giống nhưng những nhu cầu khác như ăn ngon, mặc đẹp, sống
đầy đủ của con người trong đời sống thường nhật. Vậy, thế nào là hoạt động
giao tiếp của con người?
Theo “Từ điển giải thích Thuật ngữ ngôn ngữ học” nêu ra khái niệm về
giao tiếp đó là “sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống giải
mã nào đó” [17]. Cũng bàn về vấn đề này, Nguyễn Quang Uẩn đánh giá:
“Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người thông qua đó con người
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc,tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác


động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là xác lập và vận dụng các
quan hệ người- người, hiện thực hoácác quan hệ xã hội giữa chủ thể này với
chủ thể khác” [16, tr.35]. Nói tóm lại ,nhắc tới hoạt động giao tiếp là người ta
nhớ tới một hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong tất cả các
hoạt động của xã hội. Hoạt động này xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc và trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; nó được con người thực hiện bằng nhiều
phương tiện “ngôn ngữ” khác nhau như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét
mặt,... Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả vẫn

ngôn ngữ. Chính giao tiếp làm cho con người nâng cao hiểu biết, tiếp nhận tri
thức,
thống nhất hành động. Con người giao tiếp nhằm mục đích: nhận thức, hành
động,
bộc lộ cảm xúc,… Cũng vì thế, nhắc tới chức năng của giao tiếp, người ta nhắc

trong quá trình giao tiếp nào diễn ra hàng ngày bởi vì đây chính là các chủ thể
trực tiếp tạo ra các hoạt động giao tiếp. Đó chính là những chủ thể tham gia
vào quá trình giao tiếp một cách trực tiếp, gồm người phát (người nói/người
viết) và người nhận (người nghe/người đọc). Trong một hoạt động giao tiếp
có sự tham gia bởi hai hoặc nhiều người. Nhờ có nhân tố này, những câu hỏi
có thể được xác định như: Người nói/ người viết là ai và ai là người
nghe/người nhận?
1.2.3.2. Nội dung giao tiếp
Có thể nói đây chính là nhân tố chi phối tới việc lựa chọn, sử dụng các
phương tiện và hình thức giao tiếp, nội dung được xác định là yếu tố cốt lõi
của con người trong hoạt động giao tiếp. Đây là nhân tố tạo nhu cầu, là nhân
tố để con người có căn cứ đánh giá hiệu quả của hoạt động này. Nội dung
giao tiếp có thể phân định rõ: vấn đề được con người truyền tải là gì? Để hoạt
động giao tiếp đạt hiệu quả thì các nhân vật tham gia trong quá trình giao tiếp
cần phải nắm rõ và hiểu rõ được về nội dung giao tiếp.
1.2.3.3. Mục đích giao tiếp
Có thể hiểu đây là nhân tố giúp chủ thể thực hiện hoạt động giao tiếp có
thể thực hiện những nhu cầu và mong muốn. Mục đích giao tiếp là nhân tố chi
phối trực tiếp đến nội dung giao tiếp. Một cuộc giao tiếp thường hướng đến
một hay nhiều mục đích khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể. Theo nhà nghiên cứu Bùi Minh Toán có thể khái quát thì con người thực
hiện hoạt động giao tiếp thường hướng đến những mục đích như: thông tin,
nhận thức, khơi gợi cảm xúc, tác động hay mục đích hành động...


1.2.3.4. Phương tiện và cách thức giao tiếp
Có thể hiểu đây là những yếu tố dùng để thể hiện tư tưởng của chủ thể
trong quá trình giao tiếp. Trong đó, ngôn ngữ được đánh giá là phương tiện
giao tiếp chủ yếu của con người. Thông qua ngôn ngữ được con người sử
dụng khi giao tiếp, chúng ta có thể hiểu được trình độ văn hóa và nhân cách

là xác định dạy để làm gì? Điều đó sẽ chi phối đến toàn bộ nội dung dạy học.
Vì vậy GV khi tiến hành dạy học cần đổi mới PPDH phải phù hợp với mục
tiêu ở mỗi một bài học thông qua việc thiết kế các hoạt động học tập cụ thể.
Theo đó, trong khóa luận này, chúng tôi đề xuất cách tổ chức các hoạt động
học tập: Hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức lí thuyết mới,
hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng – mở rộng.
1.4. Thực trạng dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” ở
trường
THPT

1.4.1. Nội dung dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” trong
SGK Ngữ văn 10
Trong chương trình Ngữ văn 10 – tập 1, bài “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ” được phân phối giảng dạy trong hai tiết, chia thành một tiết lý
thuyết và một tiết thực hành. Tuy nhiên, tùy theo phân phối chương trình Ngữ
văn của từng đơn vị trường học mà số tiết có thể rút lại là một tiết. Khảo sát
thực tế chương trình Ngữ văn của trường THPT Tây Tiền Hải (Thái Bình) thì
bài này được dạy trong một tiết bao gồm cả phần lý thuyết và thực hành.
Bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” trong chương trình Ngữ văn
lớp 10 – tập 1 là dạng bài hình thành những kiến thức về lý thuyết mới của
hoạt động giao tiếp mà ở những cấp học dưới S chưa được học. Nội dung
bài học ngoài việc cung cấp đầy đủ những kiến thức lý thuyết còn thực hành
hoạt động giao tiếp một cách cơ bản, rèn luyện các kỹ năng và năng lực sử
dụng Tiếng việt cho người học, bài học còn bồi dưỡng cho các em tình yêu,
niềm tự hào khi sử dụng tiếng Việt và để từ đó bồi đắp tình yêu, sự trân trọng
và có ý thức gìn giữ sự trong sáng của Tiếng việt khi sử dụng.
1.4.2.Thực trạng dạy bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ”
Hiện nay, nhiều GV đã có ý thức trong đổi mới PPDH. Tuy nhiên việc
này vẫn còn nặng về mặt hình thức. Trong đó, một bộ phận GV qua một thời

Hiện nay, nhiều HS và cả phụ huynh chưa nhận thức được sự ảnh
hưởng và vai trò của môn học Ngữ văn dẫn đến việc học lệch, coi trọng học
các môn tự nhiên.Với quan niệm nếu học tốt các môn tự nhiên, HS sẽ dễ
dàng tìm được nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho tương lai, nhiều bậc phụ
huynh và ngay cả chính bản thân chủ thể học tập không thực sự coi trọng
môn Ngữ văn, xem đó chỉ là môn học phục vụ thi cử để đủ điểm lên lớp.
Biểu hiện rõ nhất cho thái độ đó là trong thực tế, khá nhiều HS học Ngữ văn
rất thụ động, quen với việc nghe đọc để chép, rập khuôn theo công thức,
máy móc trong việc lĩnh hội kiến thức. Kéo theo đó là các em không có đủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status