Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn đạo đức - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ YẾN

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO
TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA
DẠY HỌC
MÔN ĐẠO ĐỨC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên nghành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS. NGUYỄN DỤC QUANG

HÀ NỘI, 2018


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu
sắc tới PGS.TS Nguyễn Dục Quang - Giảng viên khoa Giáo dục Tiểu Học người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình tiến hành thực hiện
bài khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các quý thầy cô giáo trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, Ban
Giám hiệu và quý thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh khối lớp 4
trường Tiểu học Thị Trấn A (Đông Anh - Hà Nội) đã quan tâm và tạo điều
kiện giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn
chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.


Giáo viên chủ nhiệm

GVCN

Học sinh

HS

Học sinh tiểu học

HSTH

Kĩ năng giao tiếp

KNGT

Kĩ năng sống

KNS


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài...................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 3
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu....................................... 3
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................. 3
5. Giả thuyết khoa học................................................................................. 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 4

SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC ......................... 27
2.1. Khảo sát chương trình giáo dục và nội dung chương trình dạy học môn
Đạo đức ở Tiểu học ................................................................................... 27
2.1.1. Khảo sát các chương trình giáo dục và hoạt động giáo dục ở Tiểu
học ......................................................................................................... 27
2.1.2. Khái quát nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 4................... 28
2.2. Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy
học môn Đạo đức ...................................................................................... 29
2.2.1. Mục đích khảo sát......................................................................... 29
2.2.2. Nội dung khảo sát......................................................................... 29
2.2.3. Đối tượng và phương pháp khảo sát............................................. 29
2.2.4. Kết quả khảo sát........................................................................... 30
Kết luận chương 2 ..................................................................................... 39
Chương 3 ..................................................................................................... 40
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC....... 40
3.1. Một số nguyên tắc trong việc rèn luyện KNGT cho HSTH (Lớp 4).... 40
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo rèn luyện KNGT phù hợp với lứa tuổi HS lớp 4
............................................................................................................... 40


3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc trưng giảng dạy môn Đạo
đức lớp 4 ................................................................................................ 41
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn giáo dục Tiểu học ngày
nay ......................................................................................................... 42
3.2. Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4
thông qua dạy học môn Đạo đức ............................................................... 42
3.2.1. Biện pháp 1: Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp để tích hợp rèn
luyện KNGT cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo đức................... 43
3.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng đa dạng phương pháp dạy học, hình thức tổ

để các em tiếp tục học ở những bậc học tiếp theo. Bởi vậy, nhà trường Tiểu
học rất là quan trọng trong việc hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh
ngay từ khi các em học ở trường.
Hiện nay, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đang được các nhà
giáo dục quan tâm. Các nhà trường Tiểu học cũng đang tiến hành thực hiện
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Kĩ năng sống bao gồm rất nhiều kĩ năng
khác mà trong đó, kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng quan trọng
đối với mỗi người. Bởi, giao tiếp là nhu cầu thiết yếu của mỗi con người trong
cuộc sống.Vì mọi vấn đề trong cuộc sống con người muốn giải quyết được
vấn đề đó thì con người phải giao tiếp với nhau. Để giao tiếp đạt được hiệu
quả cao thì người giao tiếp phải có kĩ năng giao tiếp như: biết lắng nghe ý
kiến người khác, biết trình bày ý kiến bản thân, biết sử dụng ánh mắt, cử chỉ
khi giao tiếp, tự tin khi giao tiếp,…. Người có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ hòa
đồng và có mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh. Học sinh tiểu
học cũng vậy, rất cần có kĩ năng giao tiếp để giải quyết vấn đề học tập hay
những tình huống trong cuộc sống. Vì vậy, nhà trường Tiểu học cần phải thực
hiện rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp.
Giao tiếp rất cần thiết đối với mỗi học sinh trong cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày cũng như việc học tập ở trường. Vậy câu hỏi đặt ra là “Làm thế

1


nào để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh?”. Đây là một trong những
yêu cầu cấp thiết đối với mỗi nhà trường tiểu học. Để giải quyết cái yêu cầu
này nhà trường đã thực hiện việc rèn kĩ năng sống cho học sinh những chỉ
lồng ghép vào việc giảng dạy một số môn học và một số hoạt động trong nhà
trường. Nhưng môn học nào có khả năng và thích hợp nhất để trang bị đầy đủ
những kĩ năng giao tiếp cần thiết cho học sinh.
Ở mỗi trường Tiểu học ta đều thấy khẩu hiệu: “TIÊN HỌC LỄ, HẬU

2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được mục đích sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng giao
tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn đạo đức.
- Đề xuất biện pháp để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4
thông qua dạy học môn Đạo đức từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
Tiểu học.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn đạo đức lớp 4.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 trong dạy học
môn Đạo đức.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nhiên cứu việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh
lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức lớp 4.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Điều tra thực trạng được tiến hành tại Trường Tiểu học Thị Trấn A Đông Anh - Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học

3


Nếu đề xuất được những biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh
thông qua dạy học môn Đạo đức lớp 4 sao cho phù hợp với đặc điểm của học
sinh lớp 4 và phù hợp với nội dung, chương trình của môn học thì sẽ nâng cao
hiệu quả học tập của học sinh và rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp
4.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu

Giữa thế kỉ XIX, trong Bản thảo kinh tế - triết học 1884, C.Mác (1818 1883) bàn về nhu cầu xã hội giữa con người với con người trong xã hội loài
người con người cần phải giao tiếp với nhau. Ông còn chỉ ra rằng trong sản
xuất vật chất và tái tạo con người, buộc con người phải giao tiếp với nhau.
Con người chỉ trở thành con người khi họ có mối quan hệ thực hiện và giao
tiếp trực tiếp với những người khác.
Các tác giả Tara Winterton, David Warden, Rae Pica cũng quan tâm đến
vấn đề hình thành kĩ năng giao tiếp cho trẻ. Trong đó, họ chỉ ra những yếu tố
cơ bản có thể ảnh hưởng đến sự phát triển giao tiếp của trẻ như: môi trường,
hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng cũng như đặc điểm cơ quan phát âm và thái độ,
tình cảm, trạng thái của trẻ trong giao tiếp. Theo họ vấn đề quan trọng là tìm
kiếm, quan sát và sử dụng các yếu tố để luyện tập kĩ năng giao tiếp.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp đều khẳng định:
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người.
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm
1970-1980. Những nghiên cứu về khía cạnh tâm lý giao tiếp của trẻ em, vấn
đề về đặc điểm giao tiếp, những nghiên cứu hình thành kĩ năng cho trẻ được
nêu ra trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết,
Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoan,…

5


Tác giả Chu Văn Đức có đưa ra khái niệm về giao tiếp trong cuốn Kĩ
năng giao tiếp như sau: Giao tiếp là hoạt động xác lập, vân hành các mối quan
hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định.
PGS.TS Đặng Đình Bôi cũng nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và ông chỉ
ra rằng: Kĩ năng giao tiếp là một trong những “kĩ năng mềm” vô cùng quan
trọng với mỗi con người trong đời sống xã hội bởi vì giao tiếp là quá trình
trao đổi thông tin. Muốn có kĩ năng giao tiếp tốt, con người phải hiểu rõ các

liệu phục vụ cho việc dạy và học tốt môn học này ở nhà trường Tiểu học.
Trong đó có sách đạo đức dành cho học sinh lớp 4 nhằm cung cấp cho các em
những kiến thức thông qua các câu truyện và giúp cho các em nắm chắc kiến
thức bằng cách làm bài tập. Sách giáo viên Đạo đức lớp 4 của nhóm tác giả
Lưu Thu Thủy(chủ biên), Nguyễn Việt Bắc, Nguyễn Hữu Hợp, Trần Tố
Oanh, Mạc văn Trang của NXB Giáo dục Việt Nam cung cấp cho giáo viên
dạy môn Đạo đức lớp 4 để làm căn cứ và là tài liệu tham khảo để xây dựng kế
hoạc bài dạy sao cho phù hợp từng đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn.
Trong tài liệu giảng dạy này đã đưa ra những hướng dẫn chung về mục tiêu
bài học, những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng đưa ra những
hướng dẫn cho tiến trình dạy học cụ thể từng bài đạo đức.
Tóm lại, tất cả những nghiên cứu về dạy học môn Đạo đức nhằm
mục đích:
+ Phát triển năng lực và trình độ GVTH sao cho phù hợp với sự thay đổi
của xã hội ngày nay.
+ Cung cấp cho giáo viên những cơ sở lý luận và thực tiễn để áp dụng
vào quá trình giảng dạy để đạt được hiệu qủa trong việc dạy học.
+ Môn học này tạo điều kiện cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh
lớp 4 nói riêng hứng thú với việc học, khám phá những tri thức mới và những
kĩ năng của môn học Đạo đức.
Qua đó đào tạo những thế hệ học sinh tự tin, tích cực, chủ động và sáng
tạo trong việc lĩnh hội tri thức cũng như rèn luyện kĩ năng để thích nghi và

7


vận dụng vào cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu của
việc dạy học còn phải phụ thuộc rất nhiều vào người giáo viên khi thực hiện
quá trình giáo dục.
Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng rất cần thiết đối với HSTH.

kinh nghiệm của bản thân để vận dụng vào các tình huống nhất định.
1.3. Giao tiếp
1.3.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, là hoạt động
có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi người. Do đó giao tiếp
là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu.
+ Nhà tâm lý học người Anh M.Argyle coi giao tiếp là thông tin mà nó
được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (cử chỉ, ánh mắt, hành
động,…).
+ Nhà tâm lý học Xô Viết A.A.Leeonchev định nghĩa: Giao tiếp là một
hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữa
người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ
xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc đặc thù
mà trước hết đó là ngôn ngữ.
Ở Việt Nam theo từ điển tiếng Việt thì “giao tiếp” là “trao đổi, tiếp xúc
với nhau”. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia : Giao tiếp là một quá
trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt
được một mục đích nào đó.
+ Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa
người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về
cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói
theo cách khác giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện
thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”.
+ Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính
đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được qui định bởi các yếu tố
văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân. Giao tiếp có chức năng thỏa mãn

9




Tình cảm và xúc cảm của mỗi người không phải là bẩm sinh mà được
hình thành trong quá trình mà con người tham gia vào các quan hệ xã hội.
Thông qua giao tiếp, nhu cầu của con người được thỏa mãn hay không được
thỏa mãn trong quá trình giao tiếp từ đó dẫn đến hình thành và phát triển các
xúc cảm và tình cảm. Nhờ có giao tiếp với mọi người nên nhu cầu giao tiếp
của trẻ được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh ở các em những cảm xúc như: vui, yêu
mếm, quý trọng,… hoặc là không thỏa mãn sẽ gây cho các em cảm xúc buồn,
bực bội, khó chịu,…
+ Giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển ý thức và tự ý thức của cá
nhân HSTH.
Trẻ thường xuyên tiếp xúc và giao tiếp với những người trong gia đình,
bạn bè, thầy cô mà HSTH xuất hiện tự ý thức về bản thân mình đây là dấu
hiện đầu tiên của sự phát triển nhân cách. Các em ý thức được rằng mình là
một con người độc lập, riêng biệt, khác với những người xung quanh mình và
có những suy nghĩ, những ý muốn khác biệt có thể là cùng ý kiến hoặc không
cùng ý kiến.
Từ những lời nhận xét và động viên của thầy cô, cha mẹ,… HSTH bắt
đầu biết nhìn nhận bản thân, trẻ không chỉ quan tâm đến thế giới bên ngoài
mà trẻ còn hướng tới bản thân mình, quan tâm đến những xung quanh trẻ, từ
đó trẻ bắt đầu biết tự nhận thức. Hơn nữa trẻ còn biết nhận xét đánh giá hành
vi của người khác đặc biệt là trẻ biết tự nhận xét và đánh giá hành vi của bản
thân. Ở tuổi này trẻ quan tâm đến thái độ của người khác, biết biết tham gia
vào các mối quan hệ để hoàn thiện bản thân, biết cư xử để phù hợp với những
tình huống khác nhau của cuộc sống.
+ Giao tiếp đối với sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Giao tiếp giúp các em nhận thức và đánh giá được những phẩm chất và
năng lực của người khác. Qua đó trẻ biết so sánh bản thân với những người

11

12


ngôn ngữ cơ thể, kĩ năng sử dụng ngôn từ,… Để có kĩ năng giao tiếp tốt đòi
hỏi người giao tiếp cần phải thực hành, luyện tập thường xuyên, áp dụng vào
mọi hoàn cảnh, mọi tình huống giao tiếp trong thực tế cuộc sống.
Thực chất KNGT là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội
của cá nhân với những cử chỉ, động tác của bản thân như : ánh mắt, nụ cười,
hành động của tay chân đồng thời kết hợp với ngôn ngữ nói cùng ngôn ngữ
viết của chủ thể trong quá trình giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa và hợp lí giữa
những vận động để phản ánh tâm lí nhất định, phù hợp với mục đích, ngôn
ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được trong quá trình giao tiếp của chủ thể
giao tiếp.
KNGT chính là khả năng mà con người có thể tự tin trình bày ý kiến cá
nhân theo ngôn ngữ nói hoặc viết, kết hợp sử dụng ngôn ngữ cơ thể như: ánh
mắt, cử chỉ, điệu bộ,…phù hợp với hoàn cảnh và văn cảnh giao tiếp, đồng
thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác.
Giao tiếp chính là quá trình thực hiện hóa và gắn kết những mối quan hệ
của con người. Do đó KNGT đối với HSTH rất quan trọng bởi vì KNGT giúp
cho quá trình tương tác giữa các cá nhân, tương tác trong nhóm và tập thể có
hiệu quả hơn. Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng của
mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn. Thái độ cảm thông đối với người
khác cũng góp phần giúp họ giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải trong
cuộc sống.
1.4.2. Một số kĩ năng giao tiếp cơ bản
Trong nhà trường Tiểu học việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được
quan tâm rất nhiều. Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng được ưu tiên
để giảng dạy cho học sinh. Dưới đây là một số kĩ năng giao tiếp cần thiết để
rèn luyện cho HS thông qua dạy học các môn học:
a. Kĩ năng lắng nghe tích cực

14


Đối với học sinh tiểu học kĩ năng này khá quan trọng với các em và giúp
ích rất nhiều cho việc học tập. Khi gặp vấn đề khó khăn các em có thể trao đổi
với bạn bè hay nhận sự giúp đỡ của giáo viên để hoàn thành nhiệm vụ đó.
c. Kĩ năng giao tiếp có lời và giao tiếp không lời
Trong quá trình giao tiếp người giao tiếp sử dụng hai hình thức giao tiếp
có lời và giao tiếp không lời. Giao tiếp có lời là người giao tiếp sử dụng lời
nói để truyền đạt thông tin đến người khác. Giao tiếp không lời có nghĩa là
người giao tiếp sử dụng ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, hành động của bản thân để
diễn tả thông tin cần truyền đạt. Để giao tiếp có hiệu quả thì người giao tiếp
cần có kĩ năng sử dụng từ ngữ giao tiếp đơn giản, dễ hiểu khiến người nghe
hiểu và không cảm thấy bị xúc phạm. Cần kết hợp ánh mắt, nét mặt và điệu
bộ vào quá tình giao tiếp sẽ giúp cho quá trình giao tiếp thêm sinh động, giúp
cho người giao tiếp hứng thú hơn khi giao tiếp từ đó mọi người truyền đạt
được nhiều thông tin và nắm bắt thông tin nhanh và hiệu quả.
d. Kĩ năng diễn đạt
Bên cạnh kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt cũng là một trong những kĩ
năng quan trọng cần rèn luyện cho học sinh. Kĩ năng diễn đạt được hiểu là
khả năng, trình độ diễn đạt ngôn ngữ phù hợp trong với tình huống giao tiếp.
Kĩ năng diễn đạt không đơn thuần chỉ là kĩ năng nói mà còn có kĩ năng thể
hiện giọng nói, cử chỉ điệu bộ, thái độ, tâm trạng,… Hơn nữa, trong quá trình
giao tiếp hai chủ thể phải có những hành động lời nói qua lại với nhau. Khi
người này nói người còn lại phải lắng nghe để đáp lại và ngược lại. Như vậy,
trong quá trình giao tiếp thì kĩ năng lắng nghe và kĩ năng diễn đạt trong giao
tiếp có mối quan hệ thân thiết với nhau. Chúng có mỗi quan hệ hai chiều,
không tách rời mà còn bổ sung, phối hợp nhịp nhàng với nhau trong suốt quá
trình giao tiếp.
Người giao tiếp sử dụng lời nói phù hợp kết hợp với ánh mắt điệu bộ,

Khoa học (lớp 4, lớp 5). Trong quá trình dạy học các môn học này giáo viên
cần khéo léo tích hợp, lồng ghép vào nội dung bài học để rèn kĩ năng giao tiếp
cho học sinh.

16


Thứ hai là trong khi giảng dạy giáo viên tăng cường sử dụng các phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
Những phương pháp dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động
sáng tạo của học sinh như: thảo luận, đóng vai, động não, xử lí tình huống, trò
chơi học tập,… Qua đó giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng học
tập và kĩ năng giao tiếp cũng như các kĩ năng khác.
* Giáo dục kĩ năng giao tiếp thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động được tổ chức ngoài
giờ học các môn học khác. Có thể coi đó là hoạt động nối tiếp và thống nhất
hữu cơ với các hoạt động giáo dục trong giờ học trên lớp.
Giáo dục KNGT cho học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp được thực
hiện với những hình thức sau:
Giáo dục KNGT qua hình thức sinh hoạt theo chủ điểm với nội dung như
cuộc thi, sinh hoạt văn nghệ, giao lưu,… qua đó góp phần rèn luyện cho các
em kĩ năng giao tiếp và rất nhiều kĩ năng khác.
Giáo dục KNGT qua các tiết học sinh hoạt tập thể như chào cờ, sinh hoạt
đội, sinh hoạt sao, sinh hoạt lớp,…
Giáo dục KNGT cho học sinh qua hoạt động tự chọn, đây là hoạt động
không bắt buộc và tùy theo khả năng của học sinh mà giáo viên lựa chọn nội
dung hoạt động sao cho phù hợp để có thể gây thứ cho học sinh mà còn rèn
luyện được kĩ năng giao tiếp cho các em.
1.5. Đặc điểm của học sinh lớp 4
HSTH thường là những đứa trẻ có tuổi từ 6 - 7 tuổi đến 11 - 12 tuổi. Đây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status