SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây công nghệ thông tin phát triển, hầu hết ai cũng trang bị
cho mình những thiết bị hiện đại. Những trang mạng xã hội làm cho con người
yêu thích lối sống ảo. Họ chìm trong thế giới đó mà quên mất thế giới thật xung
quanh dẫn đến một hậu quả nặng nề là kĩ năng giao tiếp của con người hạn chế
trầm trọng. Từ đó còn dẫn đến nhiều hệ lụy khác như tình trạng bạo lực học
đường ngày càng tăng gây bức xúc dư luận. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong
đó không thể không kể đến yếu tố kĩ năng giao tiếp hạn chế dẫn đến mâu thuẫn
bất hòa, có đôi khi chỉ là lời nói đùa nhưng quá đà dẫn đến người nghe bức xúc,
gây phản ứng thành bạo lực học đường.
Cũng do sống ảo quá nhiều nên học sinh hiện nay học văn rất thụ động không
phát biểu ý kiến xây dựng bài. Vì vậy mà kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp ngày
càng trở nên đáng lo ngại.
Bản thân học sinh, gia đình không chú trọng việc học văn nên thời gian để
dành cho môn học này rất ít, có nhiều học sinh bỏ mặc hoặc học qua loa theo
kiểu đối phó. Vì vậy rèn luyện kĩ năng giao tiếp gặp không ít khó khăn trong giờ
học văn.
Ông bà ta từng dạy : “ Học ăn, học nói, học gói, học mở “. Không phải ngẫu
nhiên mà “ học nói” được xếp vào vị trí thứ hai của câu nói. Điều này cho thấy
nói cũng là một kỹ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Trên thực tế,
việc dạy học môn Ngữ Văn hiện nay không phải khi nào cả bốn kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết đều được chú trọng rèn luyện và phát triển đồng thời. Thông
thường, cả người biên soạn sách lẫn người dạy thường quá chú trọng vào việc
dạy các tri thức Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn hay đọc diễn cảm, đọc hiểu mà bỏ
qua kĩ năng nghe, nói. Có một thực tế nữa là nhiều thế hệ học sinh khi ra đời
nhiều khi không biết “lắng nghe, thấu hiểu”, không biết nói ra những điều mình
nghĩ, không truyền đạt chính xác thông tin hoặc không nói đúng theo quy tắc
giao tiếp, không biết cách đọc hiểu chính xác một văn bản ..v..v. Có học hành
bài bản, rèn luyện kĩ lưỡng thì có thể nói đúng được điều mình cần nói, giúp cho
Bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường THPT Thạch
Thành 2, một ngôi trường thuộc miền núi, đa số gia đình học sinh làm nông
nghiêp rất vất vả, khó khăn, các em ít có cơ hội được giao lưu, học hỏi hay tham
gia các lớp tập huấn kĩ năng sống, phương tiện truyền thông hiện đại cũng thiếu
vì vậy các em thường có tâm lí rụt rè, e ngại khi giao tiếp.
Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này: “Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng
giao tiếp cho học sinh trong giờ học môn Ngữ Văn ở trường THPT Thạch
Thành 2”.
1.2. Mục đích đề tài
Ở chương trình Ngữ văn THPT, mặc dù số giờ luyện nói là khá ít nhưng nếu
giáo viên bỏ qua hoặc lơ là những tiết học này thì chắc chắn học sinh sẽ không
phát huy được năng lực nói của mình. Chính vì thế, với mục đích nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả của những tiết luyện nói đối với học sinh THPT,
trong phạm vi hạn hẹp của đề tài nghiên cứu này, tôi xin mạnh dạn chia sẻ
những điều bản thân đã lĩnh hội được trong quá trình giảng dạy những tiết luyện
nói trong chương trình Ngữ Văn lớp 10, 11, 12 theo sách giáo khoa mới đang
hiện hành.
1.3 Đối tượng
Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh trong giờ học môn
Ngữ Văn ở trường THPT Thạch Thành 2”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dậy dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- phương pháp thống kê…
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lý luận
2
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng quan trọng
trình bày bị tâm lí, run nên quên mất nội dung đã chuẩn bị.
- Trong một lớp học, đặc biệt là các lớp đại trà, chỉ có khoảng 8-9 em là nói
năng lưu loát, tự nhiên, những học sinh này đa số là cán bộ lớp, cán bộ đoàn,
còn lại các em thường có tâm lí “ngại nói”, ngại bộc lộ.
Với thực trạng nêu trên, chắc chắn giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn khi tổ
chức tiết luyện nói.Từ đó ta thấy vấn đề đặt ra là: Phải tạo cho học sinh sự tự tin,
mạnh dạn, tinh thần chủ động, bồi dưỡng thêm vốn từ, rèn luyện kĩ năng nói và
hình thành những chuẩn mực trong bài nói nhằm nâng cao chất lượng tiết luyện
nói cho học sinh, góp phần thực hiện thành công mục tiêu dạy học môn Ngữ
văn.
3
2.3. Giải pháp:
Để hoàn thành những định hướng đặt ra và giải quyết những vấn đề đã nêu,
tôi xin trình bày một số giải pháp như sau:
2.3.1.Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh trong tất cả các giờ Ngữ
văn.
Giáo viên Ngữ văn khó có thể phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh nếu
chỉ trông chờ vào số tiết luyện nói trong chương trình sách giáo khoa. Mặc dù
sách giáo khoa đã đổi mới theo hướng quan tâm tới việc rèn luyên kỹ năng nói
cho học sinh, phân phối mỗi khối lớp để có tiết luyện nói ở cả hai học kỳ, nhưng
số tiết luyện nói còn ít, các tiết luyện nói được phân bố cụ thể như sau:
- Lớp 10:
+ Tiết 3, tiết 5: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
+ Tiết 17: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự.
+ Tiết 26: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
+ Tiết 34: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
+ Tiết 37: Tóm tắt văn bản tự sự.
+ Tiết 50: Trình bày một vấn đề
2.3.3. Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi.
- Trước mỗi tiết luyện nói, giáo viên cần cho học sinh chuẩn bị đề tài trước
khoảng nửa tháng hoặc một tuần. Có thể giao cho các em cùng một đề tài hay
chia lớp từ 3 đến 6 nhóm, mỗi nhóm một đề tài (nếu tiết học đó có đề tài phong
phú).
- Vào giờ học, giáo viên cần cho thời gian để các em có thể chuẩn bị tư thế
trước khi lên nói. Có thể là cá nhân tự chuẩn bị, có thể là cho nhóm thảo luận để
chọn đại diện lên nói. Giáo viên Ngữ văn nên hướng học sinh có thái độ cùng
nhau hợp tác. Thời gian để thảo luận là 5 phút.
- Không khí của giờ luyện nói: nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho
từng em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài
nói của mình. Để kích thích học sinh, giáo viên nên đánh giá khen ngợi, khuyến
khích bằng cách cho điểm, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói
tốt.
Trọng tâm của những giờ học này là luyện nói, giáo viên nên danh nhiều
thời gian cho học sinh lên nói (30 phút), và số lượng học sinh lên trình bày phải
từ 8 đến 10 học sinh, số còn lại sẽ được nói ở những tiết sau.
2.3.4. Hình thành những chuẩn mực giao tiếp cần phải đạt đến.
Công việc này cũng được thực hiện ngay trong tiết 3 lớp 10, 11, 12 và
được nhắc lại nhiều lần, chẳng những trong giờ luyện nói sau mà cũng cần tích
hợp ngay khi có điều kiện. Mục đích của việc làm này là để các em có thể thấm
nhuần, thuộc lòng những tiêu chuẩn và thực hiện theo. Những chuẩn mực cần cụ
thể, rõ ràng để các em dễ tiếp thu, được ghi vào vở:
- Phải có sự chuẩn bị thật kỹ trước khi nói:
Thông thường, giáo viên Ngữ văn yêu cầu học sinh phải chuẩn bị dàn bài,
dàn bài nên ngắn gọn, nêu được các ý chính và học sinh sẽ dựa vào đó để nói.
Trong những quyển sách giới thiệu kỹ năng hoạt động của thanh thiếu niên, nhà
biên soạn Tôn Thất Sam và Nguyễn Thị Khiết cũng đồng ý với đề xuất này
trong quyển “Học sinh với kỹ năng thuyết trình và diễn đạt ý tưởng” (NXB Trẻ).
Còn nếu có những học sinh kỹ năng tốt hơn, ta có thể cho các em chuẩn bị bằng
+ Giáo viên chia từng nhóm chuẩn bị đề tài để trình bày.
+ Khi kết thúc nên có sự tổng kết, nhận xét, động viên, khen ngợi.
Ý nghĩa của việc làm này sẽ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, tạo tiền đề
cho các em vững vàng hơn trong khi học tiết luyện nói trong những tiết học tiếp
theo và tự tin hơn trong cuộc sống hàng ngày.
2.3.6. Định hướng tổ chức thực hiện tiết luyện kĩ năng giao tiếp trên
lớp.
* Định hướng:
Hoạt động 1: Giới thiệu bài.
- Giáo viên nêu vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng
nói và nói trước tập thể của mỗi người.
Hoạt động 2: Tổ chức cho học sinh chuẩn bị nội dung nói
- Giáo viên nhắc lại các yêu cầu của tiết luyện nói về nội dung bài nói và
hình thức trình bày.
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, yêu cầu các nhóm chuẩn bị đề cương.
- Học sinh trao đổi trong nhóm để thống nhất đề cương.
Hoạt động 3: Tổ chức cho học sinh luyện nói trong nhóm.
- Giáo viên chia lớp ra thành một số nhóm, điều này tuỳ thuộc vào số lượng
học sinh của lớp, thường là từ 7 – 10 em một nhóm.
- Cử một nhóm trưởng có trách nhiệm điều khiển các thành viên trong nhóm
hoạt động: Gọi hoặc yêu cầu các thành viên trình bày trước nhóm. Sau mỗi lần
phát biểu rút ra nhận xét, bổ sung ý kiến.
Hoạt động 4: Tổ chức cho học sinh luyện nói trước lớp.
- Gọi đại diện các nhóm lên phát biểu trước lớp.
- Học sinh các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét chung (những ưu điểm và những mặt cần cố gắng khắc
phục), động viên, khích lệ những cố gắng, nỗ lực của học sinh và cho điểm.
Đối với việc luyện nói trước lớp giáo viên cần lưu ý các đối tượng học sinh
6
trọng của việc trình bày một vấn
đề:
? Trình bày một vấn đề có vai trò
ntn trong cuộc sống và học tập?
[ công việc này không dễ nên phải
rèn luyện một số thao tác…
Hoạt động 2: Công việc chuẩn bị
để trình bày một vấn đề
Nội dung kiến thức cần đạt
I. Tầm quan trọng của việc
trình bày một vấn đề:
Trong cuộc sống và học tập, nhiều
lúc chúng ta cần phải trình bày một
vấn đề nào đó để bày tỏ suy nghĩ, nhận
thức của mình cũng như thuyết phục
mọi người cảm thông và đồng tình với
mình.
II. Công việc chuẩn bị:
1. Chọn vấn đề trình bày:
7
? Chn vn trỡnh by ntn? V
phi cú suy ngh v xỏc nh ra
sao?
CHO HS LP DN í TRèNH BY
AN TON GT L HNH PHC
CA MI NGI ( Tr 181 - Sỏch
- Cỏc ý ú sp xp ra sao?
- T ú lp dn ý.
- Chun b trc nhng cõu cho hi,
kt thỳc, chuyn ý v d kin iu
khin ging iu, c ch khi núi
III. Trỡnh by:
1. Bt u trỡnh by:
- Cho hi ngn gn, y nht.
- Nờu lớ do trỡnh by.
2. Trỡnh by ni dung chớnh:
- Ni dung chớnh l gỡ, gm bao nhiờu
phn.
- S chuyn ý, on.
- Quan sỏt thỏi ca ngi nghe
iu chnh cho phự hp.
3. Kt thỳc v cm n:
- Túm tt, nhn mnh mt s ý.
- Cỏm n ngi nghe.
* Ghi nh( SGK Tr 150 )
IV. Luyn tp:
1. Bi tp 1 Tr 150:
1. ( 1 ):E, F, G.
2. ( 2 ):D.
3. ( 3 ):B, A.
4. ( 4 ):C,H.
2. Bi tp 3 Tr 151:
THN TNG CA TễI
4. Cng c:
5. Dặn dò: - Làm bài tập còn lại ở sgk.
+ Nhóm 3 (Tổ 3): Nhóm trưởng: Phạm Văn Phúc.
(Giáo viên giao trách nhiệm cho nhóm trưởng: Điều khiển các thành viên
trong nhóm hoạt động luyện nói, cử đại diện nhóm lên phát biểu trước lớp)
- Yêu cầu chuẩn bị:
+ Lập dàn ý cho các đề tài:
“ Lời ăn tiếng nói của một học sinh văn minh, thanh lịch”
“ Vệ sinh an toàn thực phẩm”
“ Thời trang và tuổi trẻ”
+ Luyện nói theo dàn ý (Chú ý đảm bảo nội dung, ngữ điệu, tác phong, cử
chỉ, điệu bộ phù hợp nội dung bài nói, phải có lới chào, lời giới thiệu, lời cảm ơn
- Phương pháp: thảo luận nhóm, phát vấn, thuyết trình...
2. Học sinh:
- Hs chủ động tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi sgk.
- Soạn bài theo câu hỏi phần hướng dẫn học bài.
- Chuẩn bị dàn ý theo hướng dẫn của giáo viên.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
9
1. Ổn định tổ chức:
2. Kiểm tra bài cũ: Giáo viên gọi 3 nhóm trưởng báo cáo kết quả kiểm tra
việc chuẩn bị bài của học sinh.
3.Giới thiệu bài mới:
Ngày nay, nhiều vấn đề nóng hổi của xã hội luôn xuất hiện. Việc bình luận
về những vấn đề đó đòi hỏi phải nắm vững kĩ năng mới thuyết phục được người
đọc, người nghe. Luyện tập thao tác lập luận bình luận là để củng cố thêm sự
hiểu biết về kĩ năng bình luận.
Hoạt động của Gv và Hs
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Gv hướng dẫn Hs giải bài I. Bài tập 1
minh, lịch sự trong ứng xử.
c. Xây dựng tiến trình lập luận:
- Nêu hiện tượng (vấn đề) cần bình
luận.
- Đánh giá hiện tượng (vấn đề) cần
bình luận.
- Bàn về hiện tượng (vấn đề) cần
bình luận.
2. Viết đoạn văn bình luận.
10
Hoạt động 2: Gv hướng dẫn hs các
bước:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh viết
đoạn văn
- Học sinh thảo luận theo nhóm và
trình bày, đại diện nhóm trình bày, giáo
viên nhận xét.
Tương tự như trên Hs có thể chọn khía
cạnh chống “nói tục”
Hoạt động 3:
Gv hướng dẫn Hs làm bài tập 2 theo
quy trình:
Xác định cách viết
Lập dàn ý
Xây dựng tiến trình lập luận
Viết đoạn vặn bình luận.
Trình bày.
3. Luyện nói trước lớp:
- Yêu cầu nhận xét về:
+ Nội dung, tình cảm.
+ Cách diễn đạt, dùng từ.
+ Phong cách.
+ Giọng điệu.
GV tổng kết giờ “Luyện nói”: nhận
xét tinh thần, ý thức học tập, hoạt động
của từng nhóm, của lớp; khích lệ
những mặt các em đã làm được; rút
kinh nghiệm và khắc phục những
nhược điểm còn tồn tại
4. Củng cố:
- Hệ thống hóa bài học bằng cách nhác lại những kiến thức cơ bản về thao tác
lập luận bình luận.
- Hoàn thành bài tập, dàn ý.
5. Dặn dò:
- Đọc, soạn: Về luân lí xã hội ở nước ta.
11
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, bản
thân, đồng nghiệp, nhà trường.
Sau khi áp dụng những giải pháp như đã nêu, cho đến thời điểm này thì kĩ
năng nói của học sinh đã có sự chuyển biết tương đối tốt. Cụ thể: Số học sinh có
khả năng trình bày một vấn đề, phát biểu miệng một cách tự tin, trôi chảy, đạt
yêu cầu qua hoạt động thảo luận ở các giờ luyện nói tại các lớp 11C4, 11B4,
Trường THPT Thạch Thành 2 như sau:
ĐẦU NĂM HỌC 2018-2019:
5 14,3 5 14,3
CUỐI NĂM HỌC 2018-2019:
Lớp
11C4 (Lớp đối chứng)
11B4 (Lớp thực nghiệm)
Tổng
số
43
35
Điểm
dưới 5
SL
%
11 25,6
8 22,8
Điểm 5-6
SL
12
5
%
27,9
14,2
Điểm 7- Điểm 98
10
ngày
- Ngoài việc chú trọng cho học sinh tập làm quen với việc trình bày miệng
trong các giờ học, giáo viên nên tiếp xúc với học sinh trong những lúc ngoài giò
lên lớp. Đó là những trao đổi để tìm hiểu tâm tư,nguyện vọng của các em, ngoài
ra còn nhằm mục đích khác là tạo cho các em thái độ tự tin, mạnh dạn.
1.1.3. Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi.
Trước mỗi tiết luyện nói, giáo viên cần cho học sinh chuẩn bị đề tài trước
khoảng nửa tháng hoặc một tuần. Có thể giao cho các em cùng một đề tài hay
chia lớp từ 3 đến 6 nhóm, mỗi nhóm một đề tài (nếu tiết học đó có đề tài phong
phú).
- Vào giờ học, giáo viên cần cho thời gian để các em có thể chuẩn bị tư thế
trước khi lên nói.
- Không khí của giờ luyện nói: nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho
từng em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài
nói của mình. Để kích thích học sinh, giáo viên nên đánh giá khen ngợi, khuyến
khích bằng cách cho điểm, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói
tốt.
1.1.4. Hình thành những chuẩn mực giao tiếp cần phải đạt đến.
Phải có sự chuẩn bị thật kỹ trước khi nói: giáo viên Ngữ văn yêu cầu học
sinh phải chuẩn bị dàn bài, dàn bài nên ngắn gọn, nêu được các ý chính và học
sinh sẽ dựa vào đó để nói.
Nội dung bài nói bao gồm các vấn đề: Nói cái gì? (xác định đề tài).Nói với
ai? (xác định đối tượng giao tiếp). Nói trong hoàn cảnh nào? (xác định hoàn
cảnh giao tiếp). Nói như thế nào? (cách thức giao tiếp để thuyết phục người
nghe).
+ Có lời chào khi bắt đầu nói, giới thiệu đề tài sắp nói.
+ Tránh đọc lại hoặc thuộc lòng bài văn, chi tiết đã chuẩn bị.
+ Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và
thuyết phục người nghe (biết lên trầm xuống bổng hoặc thể hiện cảm xúc chân
thành, tự nhiên, không gò bó, áp đặt).
dàng khi tổ chức các tiết luyện nói.
- Thời gian 45 phút cho 1 giờ luyện nói không đủ để giáo viên có thể cho số
lượng học sinh lên nói được nhiều, vì lớp học có sĩ số đông, không phù hợp khi
tổ chức luyện nói.
- Thiết kế lớp học chưa phù hợp cho những giờ luyện nói.
Trên đây là những khó khăn mà giáo viên Ngữ văn thường gặp, nếu được
quan tâm giải quyết kịp thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho những giờ luyện
nói.
Với những điều bản thân đã lĩnh hội được, tôi mong rằng sáng kiến kinh
nghiệm của mình có thể đóng góp phần nào đó trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả khi giảng dạy theo tinh thần đổi mới là chú trọng hoạt động giao
tiếp, góp phần nâng cao kỹ năng nói cho học sinh.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm
2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết sáng kiến
Nguyễn Lâm Thùy
14