TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
GIÁP THỊ
THU
TRƯỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN
TRONG “BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG
VÀ
“SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG
TRIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
học
HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
GIÁP THỊ
THU
TRƯỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN
TRONG “BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm
2019
Tác giả khóa luận
Giáp Thị Thu
LỜI CAM
ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Khóa luận này là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi có sự tham
khảo của những người đi trước và dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị
Hiền.
- Toàn bộ từ ngữ, số liệu thống kê trong khóa luận là hoàn toàn trung
thực.
- Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học chưa từng được công
bố
trên bất kì công trình khoa học nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm
2019
Tác giả khóa luận
Giáp Thị Thu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................
1
1.3. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương
mù tháng Giêng”
....................................................................................16
1.3.1. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen
xanh”..................16
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng”
...18
CHƯƠNG 2 TRƯỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN TRONG TÁC PHẨM
“BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG VÀ “SƯƠNG MÙ THÁNG
GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU
...................................................................21
2.1. Trường nghĩa không gian trong “búp sen xanh” của Sơn Tùng.
..........21
2.1.1 Không gian làng
quê....................................................................22
2.1.2 Không gian đường lên kinh đô Huế và cảnh đẹp miền
Trung.........26
2.1.3. Không gian kinh đô Huế
.............................................................29
2.1.4. Không gian Sài Gòn đầu thế kỉ XX
..............................................33
2.2. Trường nghĩa không gian trong “Sương mù tháng giêng” của
Uông Triều
............................................................................................38
2.2.1. Không gian chiến trận
................................................................38
.............................40
Bảng 2.5. Bảng khảo sát từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong cuộc
chiến chống quân Nguyên Mông lần 3 (1288)
.............................43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề
tài
1.1.Có ngôn ngữ mới có văn học. Văn học là phương tiện để thể hiện
hình thái của ngôn ngữ. Do vậy, khi phân tích một tác phẩm văn học ta
phải gắn với việc tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm văn học đó. Ngôn ngữ
là chất liệu để cấu thành tác phẩm văn học nên việc nghiên cứu về vấn
đề ngôn ngữ trong văn học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, giúp
ta hiểu rõ được một tác phẩm văn học, bước đầu tiên là từ chất liệu đặc
trưng của nó (chất liệu ngôn
từ).
Mọi sự kiện trong đời sống đều được diễn ra trong một không gian
cụ thể. Nhiệm vụ của văn học là tái hiện lại những sự kiện trong đời sống
đó. Do vậy, khi tái hiện lại đời sống, các nhà văn không thể bỏ qua yếu tố
không gian trong sáng tác của mình. Không gian góp phần xây dựng
thế giới trong tác phẩm văn học tạo nên tính tổng thể trong tác phẩm đó.
1.2.“Búp sen xanh” và “Sương mù tháng giêng” là hai tiểu thuyết lịch
sử thành công của hai nhà văn Sơn Tùng và Uông Triều. Điểm chung ở
hai tác phẩm này là đều viết về những vĩ nhân trong lịch sử của dân
tộc, từ đó thể hiện lòng tự hào, tự tôn của dân tộc. Bên cạnh đó, hai tác
phẩm thu hút người đọc bởi cách xây dựng không gian độc đáo.
Việc tìm hiểu trường nghĩa không gian trong “Búp sen xanh”
và “Sương mù tháng giêng” không chỉ giúp ta phát hiện ra những vẻ
đẹp của ngôn ngữ dân tộc, bên cạnh đó cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên
gian trong văn học.
Dựa trên cơ sở đó, với đề tài của mình chúng tôi cũng muốn đóng
góp phần nhỏ vào trong quá trình tìm hiểu trường nghĩa nói chung và
trường nghĩa chỉ không gian trong ngôn ngữ nói riêng.
2.2. Sơ lược về tình hình nghiên cứu hai tác phẩm Búp sen xanh của
Sơn
Tùng và Sương mù tháng giêng của Uông Triều.
Nhà văn Sơn Tùng, sinh năm 1928 quê ở Nghệ An là thế hệ nhà
văn trưởng thành trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Trong suốt cuộc đời cầm bút của
mình, ông dành phần lớn để viết về chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong các tác
phẩm đó, nổi tiếng hơn cả là tiểu thuyết “Búp sen xanh”. Với tác phẩm
này, Sơn Tùng được xem là người đầu tiên trên văn đàn Việt Nam mở
một hướng mới khi viết về Bác Hồ, không phải xuất phát từ cái nhìn về
một vị lãnh tụ, mà từ một con người bình dị, một con người mang tâm hồn
dạt dào của người dân xứ Nghệ.
Nhà văn Uông Triều, sinh năm 1977 là một trong những cây bút trẻ
văn xuôi xuất sắc của văn học Việt Nam kể từ sau năm 1975. Mảng sáng
tác xuất sắc nhất của Uông Triều chính là những truyện viết về đề tài
lịch sử, và lấy
điểm tựa thời gian là nhà Trần. Nhà Trần cùng với những chiến công chói
lọi, ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông trở thành niềm tự
hào của
dân tộc. Hào khí Đông A đã mang lại nguồn cảm hứng sáng tác vô tận
cho các nhà văn, và Uông Triều không nằm ngoài sức hút đó. Tiểu thuyết
“Sương mù tháng Giêng” được đánh giá là một trong những tác phẩm
cách sáng tác của hai nhà văn.
3.2.
vụ
Nhiệm
Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải đảm bảo thực hiện
được những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận của đề tài.
- Khảo sát các từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong hai
cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng giêng”.
- Phân tích giá trị biểu đạt của các từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ
không gian trong hai cuốn tiểu thuyết.
- So sánh sự giống và khác nhau trong việc sử dụng các từ ngữ
thuộc trường nghĩa không gian trong hai tác phẩm để tìm ra đặc trưng
phong cách của nhà văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi chú trọng sử dụng các
phương pháp sau:
Phương pháp miêu tả: miêu tả được đặc điểm của các trường nghĩa chỉ
không gian trong tác phẩm và các từ ngữ biểu đạt không gian đó.
Phương pháp phân tích (phân tích ngữ nghĩa và phân tích ngữ cảnh): để
làm rõ giá trị biểu hiện của từ trong những trường hợp cụ thể, bên cạnh
đó chỉ ra
được ý nghĩa, tác dụng của các từ ngữ chỉ không gian đối với việc thể hiện
giá trị tư tưởng của tác phẩm.
Ngoài hai phương pháp trên, thủ pháp phân loại và thống kê cũng
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khóa luận được triển khai theo
2
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Trường nghĩa chỉ không gian trong tác phẩm “Búp
sen xanh” của Sơn Tùng và “Sương mù tháng giêng” của Uông Triều.
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1
1.1. Trường nghĩa
CƠ SỞ LÝ
LUẬN
1.1.1.Khái niệm về trường nghĩa
Từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một khối khổng lồ, phức tạp cả về
cấu tạo và ngữ nghĩa. Do vậy, việc phân lập khối lượng lớn đó thành các
trường nghĩa là một việc làm tất yếu nhằm xác định tính hệ thống và chỉ
ra được mối quan hệ về nghĩa giữa các từ. Dựa trên lý thuyết trên, có rất
nhiều quan niệm về trường nghĩa:
- Lý thuyết về trường nghĩa của học giả Trier (Đức) từ những năm
30 của thế kỉ XX. Lý thuyết của ông được coi như một giai đoạn mới
trong lịch sử ngữ nghĩa học. Ông là người đầu tiên đã đưa ra thuật ngữ
“trường” vào trong ngôn ngữ học và áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh
vực từ vựng ngữ nghĩa. Lý thuyết của ông đã được tác giả Wu khái quát lại
như sau:
+ Vốn từ của một hệ thống ngôn ngữ có mối quan hệ về nghĩa với
nhau và chúng cấu thành một hệ thống hoàn chỉnh. Hệ thống này không
cố định, mà chúng luôn luôn có sự biến đổi.
1.1.2.
nghĩa
Phân
loại
trường
Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc ( quan
hệ trực tuyến, quan hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến,
quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn), Đỗ Hữu Châu đã chia trường
nghĩa trong tiếng việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa ngang
(Trường nghĩa tuyến tính), trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và
trường nghĩa biểu niệm), trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa
quan hệ dọc và quan hệ ngang).
1.1.2.1. Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến
tính)
Tập hợp các từ có thể kết hợp với một từ gốc cho trước thành một
chuỗi chấp nhận được gọi là trường tuyến tính. Chẳng hạn, trường tuyến
tính với từ
“mặt” là một tập hợp từ sau: “trái xoan, tròn, chữ điền, bầu bĩnh, v-line,
….” Hay các từ nằm trong tuyến tính của từ “xanh” gồm: trời, cỏ,
lá, biển, quả,…Những từ nằm trong trường tuyến tính góp phần hiện thực
hóa một hoặc một số nét nghĩa nào đó của từ trung tâm. Các từ “mặt, rau,
xe, tay, bát, xoong, nồi,…”; các từ “nhục, hận” nằm trong trường nghĩa
tuyến tính của từ “rửa”.
Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, ta chọn một từ để làm từ gốc,
Mỗi trường nghĩa biểu vật thường có từ trung tâm là danh từ.
Đó là danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm
trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, chất liệu,…. Các danh từ này
cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt
biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Dựa vào danh
từ trung tâm, người ta xác lập được trường nghĩa biểu vật. Ví dụ trong
trường nghĩa biểu vật về “cây” ở trên, ta tổng hợp được rất nhiều từ ngữ
về cây và chúng nằm trong trường nghĩa “cây”.
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường
nghĩa
biểu vật nhỏ. Đến lượt mình, các trường nghĩa biểu vật nhỏ này có thể
phân