TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Về
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN THỊ HẰNG
BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHONG CẢNH
CỦA S.A.ESENIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
HÀ NỘI, 5/2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN THỊ HẰNG
BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHONG CẢNH
CỦA S.A.ESENIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ THU HIỀN
luận tốt nghiệm của mình.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hằng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................6
6. Đóng góp của đề tài.................................................................................................6
7. Bố cục ......................................................................................................................6
NỘI DUNG ................................................................................................................7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHONG CẢNH CỦA S.A.ESENIN ..........................7
1.1. Những vấn đề chung về biểu tượng ......................................................................7
Khái niệm biểu tượng ........................................................................................7
Đặc điểm của biểu tượng nghệ thuật trong văn học..........................................8
1.2. Biểu tượng vẻ đẹp thiên nhiên, con người Nga ....................................................9
Biểu tượng cánh đồng .....................................................................................10
Biểu tượng cây bạch dương ............................................................................17
Một số biểu tượng khác ...................................................................................24
1.3. Biểu tượng đời sống văn hóa tinh thần Nga .......................................................29
1.4. Biểu tượng triết lý ...............................................................................................32
thiên nhiên Nga thơ mộng, làng quê Nga đầy sức sống đã sản sinh ra những hồn thơ
vĩ đại, làm giàu thêm cho kho tàng văn học Nga vốn đã đầy tính lãng mạn và sâu
sắc nhân văn.
Nếu kể tên các nhà thơ tiêu biểu và xuất sắc của thế kỷ XX thì không thể
không nhắc đến Esenin. Bằng “tài năng thi ca độc đáo” của mình, Esenin đã viết
lên những vần thơ có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh mẽ đối với nền văn học Nga
hiện đại. Thơ Esenin nảy nở một cách tự nhiên trên thềm lục địa văn hoá dân gian
Nga và từ đó vươn tới đỉnh cao của thi ca thế giới. Trong dòng chảy ồn ào của lịch
sử Nga thơ Esenin giống như một mạch nước ngầm, lúc nhẹ nhàng êm dịu, lúc dữ
dội cuộn trào. Tiếng thơ ấy vừa làm cho người ta say đắm, vừa làm cho người ta
day dứt, trăn trở với những áng thơ tuyệt đẹp về phong cảnh thiên nhiên Nga, xúc
động với những vần thơ chân thật về tình yêu, ám ảnh với những vần thơ tự thú…và
hơn hết là những bài thơ viết về nước Nga với những suy nghĩ, trăn trở rất thật cho
vận mệnh của Tổ quốc. Những bài thơ đó sẽ còn sống mãi trong trái tim mỗi người
dân Nga. Đúng như lời kêu gọi của viện Đuma quốc gia Nga nhân kỷ niệm 100 năm
ngày sinh Esenin: “Esenin chính là nước Nga, là tâm hồn Nga và trái tim Nga”.
Cùng với một số nhà thơ khác, Esenin đã sáng lập nên trường phái chủ nghĩa
hình tượng và “vị chủ soái” này luôn nhấn mạnh tính hình tượng trong thơ của
mình. Ông viết: “Trong thơ tôi, bạn đọc cần chú ý tính cảm xúc và tính hình tượng
mà nó đã từng chi phối các nhà thơ trẻ tuổi. Không phải tôi mới nghĩ ra hình tượng
này, nó đã từng và đang là cơ sở tinh thần và cái nhìn Nga, nhưng tôi là người đầu
tiên phát hiện và lấy làm nền tảng trong thơ mình, nó sống trong tôi một cách hữu
cơ, và niềm say mê nó là cảm xúc của tôi. Đây chính là đặc điểm của thơ tôi.”
[13-tr.9]. Chính điều ấy đã tạo nên trong thơ Esenin những biểu tượng mang tư
tưởng và thế giới quan của ông về cuộc sống. Đó là những biểu tượng như: cây
1
bạch dương, cánh đồng, dòng sông, ngôi nhà, ánh trăng, cánh rừng, ngọn lửa, con
đường... Đằng sau mỗi biểu tượng ấy đều ẩn chứa những giá trị ý nghĩa sâu sắc.
nghệ thuật trong thơ Esenin để thấy được vẻ đẹp thuần khiết của đất nước và con
người Nga được thể hiện trong đó.
Ở Việt Nam, thơ S.A.Esenin bắt đầu được tuyển dịch sang tiếng Việt từ
những năm 1960 và đến năm 1995 thì đã có gần 100 bài thơ được dịch và in trong
2
hai tuyển tập thơ Esenin. Người Việt Nam biết đến thơ Esenin và yêu mến thơ ông
qua bản dịch của Thuý Toàn, Đặng Bảy, Tế Hanh, Bằng Việt, Xuân Diệu, Nguyễn
Viết Thắng, Đoàn Minh Tuấn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Mộng Sinh…Trong suốt
quá trình thơ Esenin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam, trên báo chí cũng lần lượt
xuất hiện một số bài nghiên cứu, phê bình về thơ Esenin. Có thể điểm qua một số
bài viết quan trọng sau:
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ S.A.Esenin, dịch giả Thúy Toàn
đã chủ biên tuyển tập các tác phẩm của S.A.Esenin và in trong tập “thơ Esenin”
được xuất bản bởi Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1995. Trong tuyển tập này tác
giả Thúy Toàn có bài giới thiệu về tiểu sử và những sáng tác chính của Esenin.
Thúy toàn đã đặc biệt nhấn mạnh: “nhà thơ trữ tình tinh vi, nhà ảo thuật phong
cảnh Nga, nhạy cảm đền kỳ lạ đối với vẻ đẹp, âm thanh và mùi vị của đất, Esenin là
một nghệ sĩ lớn bậc thầy, mạnh bạo trong lĩnh vực hình thức câu thơ. Các hình
tượng cô đọng và tươi mát đến kinh ngạc - hầu như bao giờ cũng là một sự khám
phá nghệ thuật thực sự” [4-tr.15]. Bên cạnh đó, tác giả cũng tập hợp và giới thiệu
một số nhận xét của các nhà văn Nga về nhà thơ Esenin, trong đó nhà văn L.
Leônốp đã nhận xét: “Tài năng vang dội của Esenin cho thấy có một điện tích sáng
tạo lớn lao. Tôi tin rằng Sergei Esenin còn có thể làm được nhiều hơn nữa. Dòng
mật sáng tạo của anh chưa cạn, chỉ còn phải chờ đợi một ít nữa thôi, là nó lại phun
lên từ những bể chứa bí mật của Esenin, như thể vào mùa xuân nước mật ngọt
ngào trong lành ứa ra từ vết khía trên thân bạch dương” [4-tr.249].
Trong giáo trình “Văn học Nga” (ĐHSPHN 2002) và cuốn “Văn học Nga
trong nhà trường” [7]. Tác giả Hà Thị Hoà có một số bài viết về Esenin như “X.A.
sư phạm Hà Nội - 2009) với việc chỉ ra những tình cảm, cảm xúc của Esenin trước
thiên nhiên đất nước Nga, trước con người Nga và trước tất cả mọi loài vật nhỏ bé,
tác giả luận văn đã giúp cho người đọc thấu hiểu tâm hồn nhà thơ Nga vĩ đại và
nhận ra những nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ tình của Esenin.
Qua quá trình xem xét và thống kê tư liệu đề cập đến đối tượng nghiên cứu,
chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Esenin là nhà thơ lớn - tác giả tiêu biểu cho nền văn học Nga - Xô Viết được
các nhà nghiên cứu văn học Nga và thế giới quan tâm.
Nhìn chung, nội dung của tất cả các bài viết về Esenin đều mang tính chất
giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của thơ Esenin. Có những tác giả đã đi
vào khai thác một số vấn đề nổi bật trong thơ Esenin như tình yêu quê hương đất
nước, tình mẹ hay chất triết lí trong thơ, chứ chưa có công trình nghiên cứu chuyên
sâu nào đi tìm hiểu về những biểu tượng nghệ thuật được thể hiện trong thơ của
ông. Đây chính là khoảng trống để chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Biểu tượng
nghệ thuật trong thơ trữ tình phong cảnh của S.A.Esenin” với mong muốn góp thêm
nguồn tài liệu để có thể đọc, thưởng thức các sáng tác của thiên tài thơ không chỉ
của nước Nga này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của đề tài là đi sâu nghiên cứu những biểu tượng nghệ thuật đặc
sắc trong thơ của Esenin, từ đó chỉ ra đặc điểm và nghệ thuật khắc họa biểu tượng
trong thơ của ông.
- Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau:
4
+ Thứ nhất: Tìm hiểu lý thuyết về biểu tượng, đặc điểm và cơ chế hình thành
của biểu tượng để làm cơ sở cho đề tài.
+ Thứ hai: Nghiên cứu nội dung biểu tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình
phong cảnh của Esenin: biểu tượng cánh đồng, cây bạch dương, ngôi nhà gỗ, dòng
sông, con đường, ánh trăng, mặt trời, dòng sông, nhà thờ.... Qua đó chỉ ra những giá
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu
6. Đóng góp của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Ở Việt Nam, thơ Esenin đã và đang thu hút được sự quan
tâm của sinh viên, học viên và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, mảng thơ viết về
biểu tượng và nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ trữ tình phong cảnh của
ông chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu. Vì vậy, khi chọn đề tài này chúng
tôi mong muốn góp phần bổ sung vào chỗ trống trong việc nghiên cứu về thơ
Esenin, đem lại cái nhìn trọn vẹn hơn về hồn thơ của “chàng trai Riadan”.
- Ý nghĩa thực tiễn: Bên cạnh đó, việc nghiên cứu giá trị nội dung của các biểu
tượng và những phương thức nghệ thuật thể hiện trong thơ trữ tình phong cảnh của
Esenin giúp trang bị thêm kiến thức cho việc tìm hiểu về tác giả, tác phẩm văn học
Nga. Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực với người làm công tác giảng dạy phổ
thông. Đặc biệt trong tình trạng hiện nay, việc nghiên cứu và học văn học nước
ngoài trong nhà trường còn gặp nhiều lúng túng, nhất là ở phương pháp tiếp cận.
Nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần trang bị phương pháp nghiên cứu cho giáo viên,
giúp ích cho việc giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường.
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài
nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 2 chương:
Chương 1: Một số biểu tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình phong cảnh của
S.A.Esenin
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ trữ tình phong cảnh
này ra đời gắn với ý nghĩa biểu đạt của nó làm thành các biểu tượng nghệ thuật đa
nghĩa trong văn học. Các nhà nghiên cứu lý luận học cho rằng: Biểu tượng là
“phương tiện tạo hình và biểu đạt” có tính “đa nghĩa” trong tác phẩm văn học.
Trong lĩnh vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện
diễn đạt hiệu quả. M.Bakhin coi biểu tượng là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất
của tác phẩm trữ tình so với tiểu thuyết: “Chính sự vận động của biểu tượng thơ
ca sẽ giả định phải có một ngôn ngữ thống nhất, tương hợp trực tiếp với đối tượng
của mình” [1-tr.54].
7
Như vậy, dù được xem xét ở nhiều khía cạnh song hầu hết các nhà nghiên
cứu đều nhấn mạnh đến vai trò và giá trị của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa
nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm văn học.
Đặc điểm của biểu tượng nghệ thuật trong văn học
Văn học gắn liền với hiện thực nhưng không bao giờ là sự bê nguyện hiện
thực cuộc sống và trong tác phẩm bởi thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là một thế
giới hư cấu, giống thật chứ không phải thật. Để tạo nên một thế giới như thế việc
xây dựng những biểu tượng nghệ thuật là điều không thể bỏ qua. Trong tác phẩm
văn học biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ thể, cảm tính bao hàm trong nó
nhiều ý nghĩa, gây ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Nó chính là sự mã hóa cảm
xúc, ý tưởng, là phương tiện diễn đạt cô đọng, hàm súc của nhà văn, có sức khai mở
rất lớn trong sự tiếp nhận của độc giả. Chúng ta có thể xác định biểu tượng nghệ
thuật trên một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng: Mối quan hệ giữa cái
biểu trưng và cái được biểu trưng của biểu tượng “mang tính có lý do, tính tất yếu”.
Chẳng hạn “dòng sông” thuộc hệ biểu tượng nước trong văn hóa nhân loại với
những đặc điểm bản thể mang tính vật chất như nguồn nước, dòng chảy liên tục,
thác nước,… từ ý nghĩa đó các nhà văn liên tưởng và đưa vào tác phẩm của mình
nghĩa cố định) và yếu tố cách tân (lớp nghĩa sản sinh). Chính sự đa dạng ấy khiến
cho việc xây dựng biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học một mặt dễ thức
dậy những nỗi niềm từ ngàn đời trong tâm thức độc giả, mặt khác lại tạo nên cảm
hứng từ những điều mới lạ. Để giải mã một biểu tượng nghệ thuật, hoặc cảm thụ
một tác phẩm giàu tính biểu tượng sẽ phải đi từ những cái cụ thể như ngôn từ, các
thủ pháp nghệ thuật,… để tìm ra những cái hàm ẩn đằng sau những biểu tượng nghệ
thuật được xây dựng.
1.2. Biểu tượng vẻ đẹp thiên nhiên, con người Nga
Sergei Alexandrovich Esenin (1895-1925) là nhà thơ trữ tình nổi tiếng
của Nga, được mệnh danh là “thi sĩ của làng quê”. 30 năm tuổi đời của Esenin
trải qua bao thăng trầm, sóng gió. Song cuộc đời ngắn ngủi ấy không thể trói
buộc được nhà thơ vĩ đại luôn tha thiết với dân tộc và tổ quốc Nga. Đối với
Esenin nghệ thuật không phải là sự cầu kỳ của những nét văn hoa, mà cái quan
trọng nhất là ngôn ngữ. Bằng tài năng sử dụng ngôn ngữ kỳ diệu của mình,
Esenin - vị chủ soái của nhóm thơ hình tượng đã tạo nên trong thơ ca những
cách tân nghệ thuật độc đáo. Chính bản thân Esenin cũng đã từng khẳng định vị
trí quan trọng của hình tượng trong thơ của mình: “Trong thơ tôi, bạn đọc cần
chú ý tính cảm xúc và tính hình tượng mà nó đã từng chi phối các nhà thơ trẻ
tuổi. Không phải tôi mới nghĩ ra hình tượng này, nó đã từng và đang là cơ sở
tinh thần và cái nhìn Nga, nhưng tôi là người đầu tiên phát hiện và lấy làm nền
tảng trong thơ mình, nó sống trong tôi một cách hữu cơ, và niềm say mê nó là
cảm xúc của tôi. Đây chính là đặc điểm của thơ tôi” [13-tr.9].
Chính việc ý thức rõ vai trò quan trọng của hình tượng trong biểu đạt cảm
xúc trữ tình, Esenin đã mã hóa những hình tượng ấy để tạo nên những biểu tượng
nghệ thuật để độc giả thưởng ngoạn, buộc họ phải suy ngẫm, phải thức dậy cả
9
những suy tư và cảm nhận, lưu giữ trong lòng người những dư vị sống động. Chính
những biểu tượng ấy đã làm nên giá trị đặc sắc cho mỗi sáng tác của Esenin. Lật mở
10
Để giải mã biểu tượng cánh đồng trong thơ Esenin, ta phải lý giải được ý
nghĩa biểu tượng của hình ảnh này trong hệ thống văn hóa nhân loại. Theo Wikipedia
“Cánh đồng là một khu vực đất đai rộng lớn ở vùng đồng quê hoặc ở khu vực ngoại
ô được sử dụng trong lĩnh vực một nông nghiệp để trồng trọt, chăn nuôi. Địa hình và
cấu tạo thổ nhưỡng của cánh đồng thường là đồng bằng xen lẫn với các con dốc
thoải, đất đai phong phú chất hữu cơ, thuận lợi cho trồng trọt” [18].
Theo “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, cánh đồng mà mẫu gốc là
đồng bằng được coi là bình nguyên ánh sáng. “Đồng bằng là biểu tượng của
không gian, của mặt đất vô biên, nhưng với tất cả các ý nghĩa của chiều nằm
ngang, độc lập với chiều thẳng đứng. Khi dùng từ này để nói các bình nguyên trên
trời là để chỉ khoảng cách mênh mông vô tận, nơi các thần linh du ngự và các sứ
giả dẫn hồn cũng dẫn dắt những linh hồn chết lên đấy. Thần Mithra thường được
gọi bằng cái tên “chúa tể các đồng bằng”.... Theo quan niệm của các dân tộc
Celtes về thế giới: Đồng - là tên gọi riêng chỉ thế giới bình nguyên lạc thú. Tên
gọi này thường dùng để gọi xứ Ailen- mảnh đất này coi như thay thế cho địa đàng
“cánh đồng fal”. Đồng bằng được nhân cách hóa từ nữ thần Macha [2-tr.312].
Trong tiếng Hy Lạp cánh đồng được gọi là "agros" và tiếng Latin là "ager"
đều dùng để chỉ về một diện tích đất trồng có ranh giới rõ ràng (hành lang). Trong khi
đó ở Úc và New Zealand thì cánh đồng được gọi là "paddock" có nghĩa là nơi các gia
súc gặm cỏ và là không gian để các loại gia súc như bò, cừu chạy nhảy. Ở Việt Nam,
cánh đồng thường được biến đến với những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh được
hình thành từ những thửa ruộng [18]. Còn trong tiếng Nga cánh đồng được gọi là
“поле” [17]. Đây là lời bài hát “Cánh đồng Nga” được dịch ra Tiếng Việt:
“Tuyệt vời những cánh đồng lúa nước Nga
Đẹp sao giây phút trăng lên cao ánh tỏa vàng
Khi tuyết rơi lấp đầy niềm đau cũng dâng tràn
(THÚY TOÀN dịch)
Trong những câu thơ trên, không phải là cánh đồng bát ngát “xanh tít tận
chân mây” nữa mà là cánh đồng “trần trụi” với những mảnh đen “đất cày”, là cánh
“đồng gặt” rồi trơ trụi. Nhưng dù ở trạng thái nào thì cánh đồng ấy vẫn thật đẹp.
Thay cho sự mênh mông, bát ngát, cánh đồng hẹp lại, chút xuống lá vàng cùng với
sương mù và khí ẩm từ mặt hồ dâng lên đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên tuyệt diệu.
Biểu tượng cánh đồng còn được Esenin khắc họa cách cụ thể, sống động qua
nhiều thời điểm trong ngày. Có cánh đồng lúc bình minh sáng sớm:
“Những lúa đồng vàng ánh giữa mù sương”
(THÚY TOÀN dịch)
Hay:
“Nơi bình minh nghiêng đổ nước hồng
Tưới đầm những luống dài bắp cải
Cây phong non ngửng đầu chới với
Bú dòng sữa mẹ, sữa màu xanh.”
(THÚY TOÀN dịch)
Trên cánh đồng, những “luống dài bắp cải” được bình minh rót lên giọt
“nước hồng” và những cây phong non đang “ngửng đầu chới với”. Cách sử dụng
12
màu xanh thật độc đáo: Màu xanh của những cây bắp cải, của cây phong non mới
mọc và của cả “dòng sữa mẹ” đã khiến cho không gian trên cánh đồng trở nên
tươi mát và thoáng đãng. Đặc biệt nghệ thuật nhân hóa “cây phong non ngửng đầu
chới với” để “bú dòng sữa mẹ” đã làm cho cảnh vật trở nên thật sống động và
đậm chất “người”.
Buổi chiều trên cánh đồng quê đẹp đến mê đắm khiến thi sĩ phải thốt lên:
“Tôi mê chiều nay lắm
Cánh đồng vàng yêu thương”
Ngây ngất lòng ta say bước xuân.”
(THÚY TOÀN dịch)
Cả một cánh đồng sáng ngời, lung linh. Sự liên tưởng độc đáo khiến cỏ non
trở nên mềm mại như lụa biết nghiêng đầu đón xuân. Và trong cái không khí ấy
hương nhựa thông nồng nàn phả vào rừng cây, bãi ruộng. Tất cả tạo nên một cánh
đồng mùa xuân tuyệt diệu làm “ngây ngất” lòng người.
Khi hè tới, những cánh đồng “trần trụi” đất cày đã bước vào mùa thu hoạch:
“Đồng ruộng gặt rồi, rừng trơ trụi,
Mặt nước mờ hơi ấm, mù sương.”
(THÚY TOÀN dịch)
Sự thay đổi mùa trong thơ Esenin diễn ra thật tinh tế. Những cánh đồng vàng
trải dài tít tắp tạo nên bức tranh mùa thu vàng đặc trưng của nước Nga:
“Tôi mê chiều nay lắm
Cánh đồng vàng yêu thương
Gió trẻ cuốn vạt áo
Đến vai cây bạch dương”
(TẾ HANH dịch)
Trong thơ Esenin, mỗi mùa nước Nga lại thay một bức tranh thiên nhiên mới
và bức tranh nào cũng tuyệt đẹp. Mùa đông nước Nga được phủ tuyết trắng ngần và
cánh đồng cũng phủ phủ kín tuyết như ngàn con thiên nga trắng:
“Có thể không phải mùa đông ngoài nội
Mà thảo nguyên sà trắng cánh thiên nga.”
(THÚY TOÀN dịch)
Rất nhiều lần khi viết về cánh đồng mùa đông Esenin nhắc đến tuyết:
“Ôi cái sâu thăm thẳm đất cây rừng!
Ôi cái vui của ruộng đồng phủ tuyết!”
(THÚY TOÀN dịch)
Và:
“Tôi mê chiều nay lắm lắm
Cánh đồng vàng yêu thương”
(TẾ HANH dịch)
Khung cảnh cánh đồng trở nên thật mờ ảo, nên thơ:
“Những lúa đồng vàng ánh giữa mù sương”
(THÚY TOÀN dịch)
Màu vàng là màu của tin yêu, của hạnh phúc. Đặc biệt nó là gam màu ưa
thích trong bức tranh thiên nhiên của thi sĩ. Bởi đó cánh đồng vàng mà Esenin viết
chính là màu sắc huy hoàng, chói sáng của quê hương “Nước Nga vàng”
Nhưng dù vậy, màu vàng no ấm, và màu xanh hy vọng vẫn không thể che
lấp được nỗi buồn nhức nhối của cánh đồng mênh mông trong sầu thương:
“Ôi nước Nga cánh đồng màu thắm đỏ
Và màu xanh ngã xuống dưới lòng sông
Tôi yêu đến sướng vui và đau khổ
Nỗi sầu thương hồ nước trải mênh mông.”
(THÚY TOÀN dịch)
15
Hình ảnh cánh đồng đỏ thắm biểu trưng cho nước Nga nghèo, buồn nhưng rất
đẹp - một nước Nga cổ xưa chỉ còn tồn tại trong những ai hoài của một nhà thơ yêu tổ
quốc, yêu thiên nhiên say đắm. Sự kết hợp hài hòa màu sắc trong thơ mang lại một
bức tranh tuyệt đẹp khiến người đọc mãi nhớ nó và mãi còn run rẩy lên vì nó.
❖ Cánh đồng - tình yêu của nhà thơ
Trong các sáng tác của mình Esenin luôn đặt vào đó tâm hồn và tình cảm
của mình. Bởi vậy mà mỗi bài thơ của ông đều rất chân thực và sống động. Khi
viết về những bài thơ trữ tình phong cảnh, Esenin gửi gắm ở đó tình cảm say đắm
trước thiên nhiên Nga tươi đẹp và tấm lòng gắn bó sâu sắc với Tổ quốc Nga.
Là một người có tâm hồn rộng mở, ông dành một tình yêu mãnh liệt cho
thân quen. Đúng như nhận định của Gorki: “Esenin không phải chỉ là một con
người mà còn là một đại phong cầm tạo hoá sinh ra hoàn toàn cho thơ ca, sinh ra
để diễn đạt nỗi buồn vô tận của đồng ruộng, để thể hiện tình yêu với tất cả những gì
có sự sống ở trên đời và khẳng định tình thương là điều xứng với con người hơn tất
cả mọi điều” [8-tr.5].
Tình yêu quê hương đất nước là nguồn mạch cảm hứng chi phối toàn bộ
sáng tác của Esenin. Xuôi theo trang viết của ông, ta bắt gặp những câu thơ buồn
đến não lòng về cái nghèo của quê hương. Đó là nỗi băn khoăn lo lắng cho vận
mệnh, tương lai của đất nước. Nga từ một nước nông nghiệp chuyển sang giai đoạn
sắt thép nhưng chính những bàn tay sắt đã thay đổi làng quê, phá bỏ những giá trị
tốt đẹp. Nhà thơ cảm thấy đau đớn, xót xa khi miền quê thân yêu nay đã bỏ đi
những sinh hoạt, lao động ngày mùa cũng không còn rộn ràng, háo hức:
“Miền quê ta hoang vắng
Miền quê ta trống trơ,
Đồng cỏ chưa ai cắt,
Rừng cây và nhà tu.”
(THÚY TOÀN dịch)
Như vậy, Esenin đã rất khéo léo khi xây dựng hình tượng trong thơ của
mình. Qua những biểu tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình phong cảnh của ông, đặc
biệt là biểu tượng cánh đồng, người đọc được bắt gặp một tâm hồn Nga thật đẹp với
tình yêu say đắm trước thiên nhiên cảnh vật nơi làng quê Nga và tình yêu đất nước
Nga nồng thắm.
Biểu tượng cây bạch dương
Nói đến thiên nhiên của nước Nga là nói đến xứ sở của những hàng bạch
dương rì rào và tha thướt, luôn đắm mình bên dòng sông trong xanh thẫm, với
những lời hát, câu ca văng vẳng sau những chiếc lá bạch dương xanh hiền hòa.
Cây bạch dương là loài cây thân gỗ kích thước từ nhỏ tới trung bình hay các
cây bụi, chủ yếu sinh sống trong khu vực có khí hậu ôn đới phương Bắc. Các lá đơn
có thể khía răng cưa hay có thùy. Quả là loại quả cánh nhỏ, mặc dù các cánh có thể
không thấy rõ ở một số loài. Bạch dương được coi là quốc thụ của Nga, nó được
Bên cửa sổ nhà tôi”
(ĐOÀN MINH TUẤN dịch)
“Tôi chỉ muốn ôm vào, ghì sát
Những ngực trần trắng mịn của bạch dương”
(NGUYỄN VIẾT THẮNG dịch)
Cây bạch dương xào xạc cành lá trong đêm trăng mùa xuân, cây bạch dương
ngực trần mịn trắng thơm ngát khiến thi nhân muốn ghì vào lòng, cũng có khi cây
bạch dương là cây nến trắng mền cao vút, là dòng sữa ngọt ngào, trong lành đang
phun trào giữa trời cao.
Khi vạn vật chào đón một ngày mới thì: “Cây bạch dương mơ màng ngái
ngủ khi bình minh lên”. Esenin thật tinh tế và sống động biết bao khi ví bạch dương
đang “mơ màng ngái ngủ”. Ta như bắt gặp hình ảnh hàng bạch dương trước cửa
nhà ẩn hiện trong làn sương buổi sớm.
18
Khi chiều xuống, bạch dương khoác lên mình tấm áo mới khiến cho tâm hồn
thi sĩ mê đắm:
“Tôi mê chiều nay lắm
Cánh đồng vàng yêu thương
Gió trẻ cuốn vạt áo
Đến vai cây bạch dương”
(TẾ HANH dịch)
Hình ảnh cây bạch dương càng đẹp hơn, lung linh hơn với những ngọn nến
to trong đêm xuống:
“Đêm dịu dàng ấm áp
Như mùa đông bên lò
Hàng bạch dương đứng sáng
Như những ngọn nến to”
(ĐOÀN MINH TUẤN dịch)